Chào bác, trông cái mặt bác quen quen ( Đăng nhập | Đăng ký tạm trú )

7 Trang « < 5 6 7 

· [ ] ·

 Có Thật Không Cuốn Sách "những Lời Trăn Trối"?

Phó Thường Nhân
post Sep 3 2021, 05:47 PM    
Đường dẫn tới bài viết này #61

Tả Thiên Thanh
Group Icon

Nhóm: Chánh tổng
Số bài viết: 6.072
Tham gia từ: 11-August 02
Thành viên thứ: 133

Tiền mặt hiện có : 42.157$
Số tuần chưa đóng thuế : 10

Bình chọn :



Tôi sẽ phân tích ở đây bức thư của Kojeve, điều thú vị là dù bức thư này ngắn, nó cũng thể hiện tương đối đầy đủ tư duy của triết học phương Tây nói chung. Điều khiến nó khác tư duy của ta, và là hệ quả của một nền văn hóa phương Tây, trong đó đạo Thiên chúa và triết học Hi lạp đóng vai trò quan trọng. Nên lưu ý rằng điều này chỉ đúng với phương Tây, còn ngay cả khi sang Nga, mặc dù vãn là văn hóa Thiên chúa giáo, do không có việc ứng dụng lại văn minh Hi lạp từ thời trung cổ, nó lại khác nữa. Nhìn như thế thì nước Nga không phải là phương Tây, chưa bao giờ là phương Tây. Và đây là nguyên cớ Nga – Phương Tây bao giờ cũng xung đột với nhau, và khác nhau, ngay cả khi Elite Nga muốn bấu víu vào, dù là Elite thời Sa hoàng, hay nước Nga hiện đại.
Để dịch, cách dịch của tôi là làm hai lần, lần đầu là để chuyển ngữ (tương đương với các bác dùng chú gúc), lần hai tôi chỉ sử dụng bản đã dịch, chỉnh sửa nó lại cho hợp với ngữ pháp và tiếng việt, không quan tâm gì tới bản tiếng Pháp original chủ yếu với sự hiểu biết của mình, ở đây tôi chỉ chú trọng giải thích được các khái niệm quan trọng của nội dung, làm rõ nghĩa. Chính vì thế bản dịch sẽ không phải là « một đối một », mặc dù tôi giữ cấu trúc của bài viết nguyên bản. Chính vì thế, muốn dịch giỏi cũng phải có một cái phông văn hóa đằng sau, tức là cái phông văn hóa của người dịch, và cũng vì thế một bản dịch hay cũng là một sự sáng tạo. Điều này đúng cho mọi lĩnh vực dịch, đặc biệt dịch thuật về xã hội, nhân văn.
Do thiếu nhiều thông tin bổ xung, ví dụ cuốn sách mà Kojeve viết, bài báo phản biện của bác Thảo, nên bản thân trong bức thư cũng có những câu khó hiểu, mà tôi sẽ chỉ ra như giả thiết, do không thể xác định hòa toàn được. Nhưng nhìn chung, bức thư khá rõ ràng, và phần khó hiểu, ta có thể hiểu, hay xuy ra từ những nội dung còn lại. Vì thế có thể nghiên cứu nó như một tài liệu độc lập.
Về đại ý, bức thư của Kojeve là câu trả lời cho một bài báo mà bác Thảo viết, phê phán cuốn sách, vốn là các bài giảng của Kojeve về Hê ghen. Trong đó, có thể hiểu là bác Thảo đã phê phán Kojeve là không đi đến tận cùng lô gic của Hê ghen, và vẫn dừng lại ở mức độ duy tâm. Sự duy tâm thể hiện ra trong việc Kojeve vẫn bị mắc kẹt ở thuyết nhị nguyên (tiếng Pháp dualisme), trong trường hợp cụ thể này thuyết nhị nguyên phải hiểu là sự phân biệt rõ ràng giữa hai phần vật chất/ tinh thần mà ở đây Kojeve nói dưới dạng tự nhiên/con người (Nature/Home), hay tự nhiên/tinh thần (Nature/Esprit). Mà nếu như thế thì thuyết của Kojeve (hay cách hiểu của Kojeve về Hê ghen) thực ra chỉ là một biến tướng của Thiên chúa giáo theo sự phân biệt nhị nguyên phần hồn/phần xác. Và nếu trong trường hợp đó, thì những điều Kojeve nói không những là thiên chúa giáo cải biên, mà còn không phải là Hê ghen luôn. Chính vì thế Kojeve mới nói rằng, tôi giảng về Hê ghen nhưng không phải là giải thích về triết học Hê ghen như Hê ghen nói, mà tôi phát triển những phần Hê ghen đề cập tới không rõ ràng. Kojeve cũng nói rằng chính phần này là phần sáng tạo nhất của ông ấy. Sự sáng tạo của ông ấy (Kojeve) được thể hiện qua hình ảnh cái nhẫn vàng.
Hê ghen là một nhà triết học duy tâm (hiểu theo cách như tôi nói là nhất thần giáo), như vậy Hê ghen cũng là một dạng Thiên chúa giáo tân trang, vậy tại sao những điều Kojeve nói cũng là thiên chúa giáo cải trang mà lại không phải là Thiên chúa giáo « Hê ghen », bởi chúng có sự khác nhau. Hê ghen đi tới nhất thần giáo thông qua một lô gic biện chứng (dialectic), còn cách suy ra Thiên chúa giáo của Kojeve được gọi là Trìu tượng. Trong bài viết trìu tượng được Kojeve dùng với từ Abstrait (tức nghĩa tiếng việt thực sự như thế), còn trong triết học phương tây, thì cái lô gic này còn được dùng với một từ khác là metaphysique, chính xác hơn. Trong tiếng việt cả hai từ này chỉ được dịch là triu tượng.
Để phản biện bác Thảo, Kojeve đã nói rằng lô gic của ông ấy là biện chứng, và vì là biện chứng ông ấy là Hê ghen (dù phát triển phần .. Hê ghen không nói tới), và từ đó ông ấy mới đưa cái ví dụ vòng vàng ra. Khi tìm ra bài báo, đọc đến ví dụ này thì tôi đã phì cười, vì nó chính là một ví dụ rõ ràng nhất, chứng tỏ lô gic của Kojeve không phải là biện chứng. Có nghĩa là điều bác Thao phê phán ông ấy là đúng. Kojeve không phải là duy vật biện chứng (tất nhiên rồi, vì ông ấy thuyết giảng về Hê ghen tức là triết học nhất thần cơ mà), nhưng buồn cười hơn nữa là ông ấy cũng không phải là Hê ghen luôn. Bác Thảo lại đúng nữa. Một điều buồn cười nữa, tại sao Kojeve không phải là Hê ghen mà lại dậy về Hê ghen và được coi như một học giả chuyên môn về Hê ghen nhất ở Pháp, vào giữa thế kỷ XX. Nhưng điều này tôi sẽ viết tiếp sau.
Lạc đề một chút, đầu tiên khi Thiên lang đưa ra vấn đề bác Thảo, và cuốn sách lề trái bẩn thỉu kia, tôi có ý định phân tích cuốn sách của bác Thảo, để nói rằng muốn tìm hiểu một học giả, thì nên tìm hiểu về học thức mới thú vị và đúng đắn. Nhưng nó dài quá, không thể phù hợp cho kiểu viết diễn đàn, mà tôi cũng không có hứng thú gì để viết, vì thực ra tôi đang đọc những thứ khác. Vì thế tôi mới nghĩ nên tìm một bài viết nào của bác ấy, nhỏ gọn hơn. Thực ra tôi rất muốn tìm những bài bác ấy viết về sau, ở VN, có bài viết về Truyện Kiều chẳng hạn. Nhưng không tìm được. Tự nhiên lại tìm thấy cái bức thư với Kojeve này. Như vậy là « buồn ngủ lại gặp chiếu manh ».


--------------------
Tả Thiên Thanh



User is offlineProfile Card
Go to the top of the page
+
Phó Thường Nhân
post Sep 8 2021, 11:09 PM    
Đường dẫn tới bài viết này #62

Tả Thiên Thanh
Group Icon

Nhóm: Chánh tổng
Số bài viết: 6.072
Tham gia từ: 11-August 02
Thành viên thứ: 133

Tiền mặt hiện có : 42.157$
Số tuần chưa đóng thuế : 10

Bình chọn :



Tại sao tôi lại nói lập luận của Kojeve không phải là lập luận của Hê ghen, và từ đó nói rằng ông này sai. Để tìm hiểu điều đó, quan trọng là xem người lập luận đã đưa ra cặp phạm trù đối kháng như thê nào. Lô gic của Hê ghen khi nói về sự tiến hóa, biến đổi của sự vật dựa trên lô gic tam đoạn luận, như tôi đã nói. Tức là người ta phải tìm ra một cặp đối kháng chủ đề/phản đề. Ví dụ
Chủ đề : một cơ quan đông người sẽ giúp việc quản lý tốt hơn, do có nhân sự nhiều hơn
Phản đề : Đông người sẽ dẫn tới việc chức danh không rõ ràng, nhiệm vụ chồng chéo dẫn tới quan liêu. Quan liêu sẽ cản trở công tác quản lý.
Kết luận : vậy để một cơ quan quản lý công việc tốt, điều quan trọng là tổ chức cơ quan đó thế nào, và trình độ nhân sự ra sao.
Như vậy cặp quan hệ chủ đề/phản đề ở trên là một cặp phạm trù đối kháng. Từ chủ đề mà sinh ra phản đề. Và sự tiến bộ sẽ đạt được nếu ta làm được kết luận. Kết luận ở đây không giống phản đề,( vì nó đã thủ tiêu được quan liêu), và nó cũng không phải là chủ đề (vì cơ quan đã được tổ chức hợp lý làm được nhiệm vụ). Cái kết luận này nhiều khi được gọi là « hai lần phản đề » (double négation). Một cặp quan hệ như trên được gọi là quan hệ biện chứng vì chúng tương tác với nhau (một dạng tương tác là mâu thuẫn, rông hơn là phải có quan hệ với nhau)
Nhưng cái cặp phạm trù của Kojeve đưa ra là gì ? đó là tự nhiên/con người hoặc tự nhiên/tinh thần không có tính chất này. Tự nhiên không mâu thuẫn với con người, vì con người là một bộ phận của tự nhiên. Giữa tự nhiên và con người không có quan hệ đối kháng, mâu thuẫn. Và điều đặc biêt nếu tự nhiên/con người đã là một cặp phạm trù, thì cái kết luận ở đâu. Ở đây không có, và ta thấy ngay rằng tự nhiên, con người tồn tại song song với nhau, như vậy nó là dualisme, tức là nhị nguyên. Tương tự như vậy với cặp tự nhiên/tinh thần.
Điều này càng được thể hiện rõ ràng hơn qua ví dụ nhẫn vàng của Kojeve. Nếu vàng là tự nhiên, cái nhẫn là tinh thần, thì người ta không thấy quan hệ tương tác ở đâu để vàng biến thành nhẫn. Ngược lại, một câu hỏi được đặt ra, « làm thế nào để vàng thành nhẫn », để làm điều này phải có một tác nhân thứ 3 để chế tạo (creation) từ vàng thành nhẫn, tức là phải có một ông creator, tức là ông chúa (Dieu/God) như chính Kojeve công nhận trong bức thư và là nội dung của Thiên chúa giáo, tức là bất cứ cái gì nhị nguyên (dualisme) (tôi bổ xung mà không liên quan tới nhau, không « tự phát triển ») thì sẽ dẫn tới Thiên chúa, vì cần có một ông Thần làm việc đó. Ở đây các bác có thể có bonus là hiểu thế nào là thiên chúa giáo, đó là nguyên tắc « một ông chúa duy nhất tạo ra tất cả thiên nhiên lẫn con người, tinh thần lẫn vật chất ».
Nếu vàng là tự nhiên, và « cái rỗng » do hình cái nhẫn (tinh thần) tạo ra, thì quan hệ giữa con người và vật chất càng không có. Để biện luận cho vấn đề này thì Kojeve lại lí giải một cách kỳ quái hơn. Tôi trích cái đoạn ấy ở đây
« Bởi vì con người là phản biện của tự nhiên, họ sẽ là cái gì khác với thần linh tự nhiên, tức là chính tự nhiên. Cũng bởi vì con người là phản biện của tự nhiên, và cũng như mọi phản biên sẽ chứng tỏ bị chối bỏ bởi tự nhiên.Nhưng con người khác với thượng đế thiên chúa, thượng đế thiên chúa ngược lại tồn tại trước tự nhiên và tạo ra tự nhiên bởi một hành động theo ý muốn của mình.
Bởi vậy tôi mới không nói rằng có hai sự tồn tại cùng lúc : tự nhiên và con người. »
Đoạn văn này muốn nói gì. Nó nghĩa thế này. Vì Kojeve đã lập cặp phạm trù đối kháng bằng tự nhiên/con người, thì theo như lô gic hê ghen con người sẽ là phản biện của tự nhiên. Nhưng ông ấy hiểu phản biện có nghĩa là không liên quan gì, điều này hoàn toàn ngược với biện chứng của hê ghen, bởi không liên quan thì làm sao có tương tác với nhau để phát triển (évoluer). Thế còn cái câu « họ sẽ là cái gì khác với thần linh tự nhiên, chính » nghĩa là gì, muốn nói gì.
Bởi ngoài thiên chúa giáo, các tôn giáo khác (cả phật, cả Nho, thần đạo, ..) đều quan niệm thiên nhiên tự nhiên là linh thiêng. Như tôi nói ở trên, theo thiên chúa giáo thì Chúa đứng ngoài thiên nhiên, con người, vật chất, tinh thần và tạo ra chúng. Ngược lại tất cả các tôn giáo khác đều coi thiên nhiên, tự nhiên là linh thiêng, và thiên nhiên tạo ra con người (ví dụ đạo phật đạo Nho). Quan niệm thiên nhiên là linh thiêng được Thiên chúa giáo coi như là .. vô thần. Tôi đề cập tới chuyện này ở đây vì nó sẽ liên quan tới Bác Thảo và một nhà triết học khác được bác ấy dẫn tới đó là Spinoza.
Đoạn văn trên, Kojeve đã nói rõ ràng rằng con người hoàn toàn khác tự nhiên, do ông ấy cố tình hiểu phản biện có nghĩa là phải khác về bản chất. Vì con người là phản biện của tự nhiên trong mối quan hệ « biện chứng » : tự nhiên/con người nên con người khác tự nhiên về bản chất. Trong đoạn văn này Kojeve đã thể hiện rõ lô gic nhị nguyên của mình.
Tóm lại tất cả những gì ông ấy nói là Hê ghen thì không phải là Hê ghen. Từ cách cấu trúc một cặp phạm trù đối kháng, tới việc phân tích quan hệ giữa hai phần chủ thể và phản biện trong cặp phạm trù ấy.
Không phải Kojeve không biết điều đó. Vì thế ông ấy mới rào trước đón sau là : tôi theo Hê ghen nhưng không phải là Hê ghen, và ông ấy « tăng cường tính biện chứng cho Hê ghen », thực ra là xóa bỏ nó. Theo như bức thư, vì tôi không đọc tác phẩm viết về Hê ghen của Kojeve, tác phẩm mà bác Thảo phê bình, thì rõ ràng Hê ghen của Kojeve chỉ là ngụy biện.
Thế nhưng cái câu « Bởi vậy tôi mới không nói rằng có hai sự tồn tại cùng lúc : tự nhiên và con người. » thì xem ra lại có vẻ mâu thuẫn với cái nhị nguyên kia, bởi vì ông ấy đã nói là con người và tự nhiên tách biệt rôi mà. Thực ra nó là một tiểu xảo. Bởi vì Kojeve không những đã hiểu phản biện không liên quan gì tới chủ thể, nhưng ông ấy lại đặt nó theo thời gian, tức là phản biện có sau chủ thể. Vì phản biện (con người) có sau chủ thể (tự nhiên) cho nên Kojeve mới nói chúng không tồn tại cùng lúc, có hai điều nhưng không tồn tại cùng lúc mà kế tiếp nhau cho nên ông ấy tự biện luận là mình không phải dualisme. Cũng chính vì thế mà Kojeve mới nói, ông ấy dùng biện chứng của Hê ghen nhưng không theo không gian (tức là tồn tại cùng một lúc), mà theo thời gian (tức là kế tiếp nhau).
Trong thực tế, điều này là sai. Ai cũng thấy rằng con người và tự nhiên cùng tồn tại, không cần phải học triết học. Nếu lấy cái ví dụ mà tôi dùng để diễn giải lô gic hê ghen ở trên thì ta cũng thấy vậy. bộ máy cồng kềnh tồn tại cùng với quan liêu, dù bộ máy cồng kênh sinh ra quan liêu, như không thể ngụy biện là khi có quan liêu, thì .. không còn bộ máy cồng kềnh nữa. Ở đây nhân(chủ thể), quả (phản biện) tồn tại đồng thời.



--------------------
Tả Thiên Thanh



User is offlineProfile Card
Go to the top of the page
+
Phó Thường Nhân
post Sep 14 2021, 11:14 PM    
Đường dẫn tới bài viết này #63

Tả Thiên Thanh
Group Icon

Nhóm: Chánh tổng
Số bài viết: 6.072
Tham gia từ: 11-August 02
Thành viên thứ: 133

Tiền mặt hiện có : 42.157$
Số tuần chưa đóng thuế : 10

Bình chọn :



Tại sao Kojeve sai lệch về Hê ghen như thế mà ở Pháp giới học thuật vẫn coi ông này như một chuyên gia về Hê ghen ? về thực tế, cái lô gic triết học của Kojeve là của Đề Các.
Muốn tìm hiểu sự lạ lùng này thì tốt nhất là dùng phép duy vật lịch sử để xem triết học nhân văn của Pháp quan hệ thế nào với tôn giáo, và sự tiến triển của xã hội phong kiến Pháp sang xã hội tư bản được tiến hành thế nào.
Như tôi đã nói ở trên nữa, triết học ở phương Tây thực ra là một sự trình bầy lại Thiên chúa giáo theo kiểu mới một cách trìu tượng hơn. Sự phát triển triết học từ Thiên chúa giáo này gắn liền với sự biến chuyển xã hội phương Tây từ nền kinh tế phong kiến sang tư bản chủ nghĩa. Do sự biến chuyển ở Pháp khác với sự biến chuyển ở Đức, từ đó dẫn tới việc « triết học hóa thiên chúa giáo » khác nhau. Sự khác biệt của triết học Pháp với Triết học đức phát sinh từ sự lệch pha của hai nước khi chuyển đổi từ phong kiến sang tư bản.
Thiên chúa giáo cổ điển có thể chia ra làm hai giai đoạn. Giai đoạn 1 là từ khi đạo Thiên chúa được đế quốc La Mã chấp nhận thành quốc đạo duy nhất vào năm 306, thời hoàng đế Công xơ tăng tin (Constantin), nó kết thúc vào lúc đế quốc Tây Ma Mã tan vỡ 476. Giai đoạn thứ 2 bắt đầu từ khi đế quốc Tây La Mã sụp đổ và cách mạng tư sản Hà lan vào thế kỷ XVII. Đạo Thiên chúa vì thế có thể coi như một sự hiện hình còn lại của đế quốc La Mã, đồng thời là cái đế của các nhà nước phong kiến phương Tây. Nó là một bộ phận của hệ thống chính trị phương Tây, là cách các nhà nước phong kiến phương Tây chính danh và để quản lý xã hội thông qua tăng lữ.
Khi chế độ phong kiến ở Tây Âu dần dần sụp đổ, và được thay thế bởi các chế độ tư bản chủ nghĩa, có hai điều mà quan hệ sản xuất tư bản chủ nghĩa rất cần đó là 1. Quyền sở hữu cá nhân 2. Kinh doanh cá thể, được gọi là tự do.
Khi đạo Thiên chúa được coi là quốc đạo của đế quốc La Mã, thì nó đã kết hợp với học thuyết idealisme của Platon, cách phân tích sự vật theo catégorie của A rít xơ tốt (Aristote) như một kiểu khoa học. Từ sự kết hợp này mà có quan niệm phần hồn phần xác, rồi thành duy vật, duy tâm. Nó cũng là điểm khởi đầu để phương Tây triết học hóa thiên chúa giáo, để rồi tự hào chỉ có họ mới có triết học.
Do thần học thiên chúa thời trung cổ không đảm bảo được 2 điều mà xã hội tư bản cần ở trên, do cần loại bỏ tăng lữ khỏi hệ thống nhà nước như một lực lượng chính trị độc lập, mà các cuộc cách mạng tư sản ở Tây Âu đều mang mầu sắc cải cách tôn giáo, hay phản đối tôn giáo, nhưng tùy từng nước mà quá trình này khác nhau. Cách mạng tư sản Hà lan núp bóng cải cách tôn giáo tin lành Calvinisme, cách mạng tư sản Pháp thì lật đổ tăng lữ thiên chúa, qua « triết học ánh sáng ». Ngược lại ở Đức thì không thế. Cải cách tôn giáo ở Đức đã diễn ra vào thời cuối trung cổ, do phản ứng của người Đức với tăng lữ đứng đầu bởi giáo Hoàng Ý. Cải cách tôn giáo ở Đức có mùi vị của một cuộc cách mạng dân tộc. Do tôn giáo ở Đức đã được cải cách trước khi chế độ tư sản Đức xuất hiện, thì thiên chúa giáo dưới dạng tin lành không gây cản trở cho sự phát triển tư bản Đức, vì thế triết học Đức, đặc biệt như Hê ghen là triết học tôn giáo justify cho nhà nước tư sản Đức. Và từ đó dẫn tới tư duy của các học giả Đức như Max Weber nói rằng, nhờ có đạo tin lành mà chủ nghĩa tư bản xuất hiện.
Ở Pháp thì ngược lại, do đạo Thiên chúa ở Pháp không cải cách, vẫn tồn tại dưới dạng cơ đốc, cho nên cách mạng tư sản Pháp lại bắt nguồn từ triết học « ánh sáng » phủ nhận thần quyền. Nhưng sự phủ nhận này không đầy đủ, mà là một cách trở lại thiên chúa một kiểu khác. Tiêu biểu là Đề Các. Triết học của Đề Các có hai phần, một phần vật chất có tính cơ khí, không có sự tham gia của Thiên chúa, một phần tinh thần, mà theo Đề Các là tư duy, nhưng đi đến tận cùng thì nó vẫn phải có .. chúa. Bằng cách đó, cách mạng tư sản Pháp vừa thỏa mãn được phần phát triển vật chất, hoàn toàn cơ khí hóa, đồng thời vẫn bảo tồn được « phần hồn » được Thiên chúa giáo quản lý, thông qua « tư duy » và « tự do » của con người.
Từ đó dẫn người ta tới hai cái lô gic, đều được chấp nhận trong một xã hội có quan hệ sản xuất tư bản chủ nghĩa, nhưng chúng khác nhau.
Pháp : Phần vật chất, có thể coi là khoa học không còn liên quan tới thần quyền, mà chỉ là những quy tắc toán học, vật lý. Còn phần tinh thần, ở điểm cuối cùng vẫn là thiên chúa tạo ra, nhưng con người sinh hoạt tự do. Đây là lô gic dualisme (nhị nguyên)
Đức : Tât cả những gì tồn tại phát triển theo lô gic « tam đoạn luận », nhưng quy trình tam đoạn luận này chính là sự thể hiện của chúa.Tức là biện chứng duy tâm.
Như vậy cùng là chúa ở điểm cuối cùng, nhưng quan niệm truyền thống của triết học Pháp, Đức khác nhau. Chúng đều là Idealisme nhưng hai loại Idealisme khác nhau.
Các nhà triết học ánh sáng Pháp, rồi Đề Các đã xuất hiện từ thế kỷ XVII, XVIII. Hê ghen xuất hiện ở Đức vào thế kỷ XIX, muộn hơn nhiều. Ở Pháp, thực ra người ta quan tâm tới Hê ghen bởi chủ nghĩa Mác, do Mác- Ăng ghen đều dùng biện chứng của Hê ghen. Từ đó dẫn tới việc tìm hiểu Hê ghen .. theo kiểu Pháp, hay là .. nặn lại Hê ghen cho nó hợp với tư duy nhị nguyên truyền thống của triết học Pháp mà Kojieve đã làm ở trên.
Ở đây Kojeve đã cố ý hiểu mâu thuẫn giữa hai vấn đề như một hình thức khác biệt về bản chất, vì thế mới có chuyện buồn cười là con người (hay tinh thần) là do tự nhiên sinh ra, nhưng do mâu thuẫn đối kháng, con người có bản chất khác hẳn tự nhiên, con người khác hẳn tự nhiên vì biết « nhận thức tự nó » (conscience de soi), tức là một kiểu nói khác về việc con người biết tư duy , tức là « ego sum » tức là trở về với câu nói của Đề Các « tôi tư duy tức tôi tồn tại », bởi vì sinh vật chỉ biết có cam nhận về mình (sentiment de soi).
Tóm lại, việc Kojeve hiểu sai hê ghen bởi vì ông ấy ghép triết học duy tâm Pháp vào triết học duy tâm Đức. Và vì ông ấy ghép triết học Pháp vào, nên được người Pháp chấp nhận.
Vấn đề này thực ra không khác gì việc ở TQ, VN chấp nhận chủ nghĩa Lê nin, chủ nghĩa Mác từ đạo Nho , đạo Phật như tôi dẫn giải ở trên.
Tiếp sau đây tôi sẽ dịch bức thư trả lời của bác Thảo, và giải thích căn cơ từ đâu mà bác ấy lại hiểu như bác ấy hiểu, và ở đây nó cũng có phần liên quan tới truyền thống văn hóa. Nói cách khác, do cái phông văn hóa của bác ấy là VN, không phải kiểu thiên chúa của Pháp, bác ấy sẽ dẫn giải từ cái phông văn hóa này. Và đây là điều thú vị.


--------------------
Tả Thiên Thanh



User is offlineProfile Card
Go to the top of the page
+
Phó Thường Nhân
post Sep 16 2021, 09:56 PM    
Đường dẫn tới bài viết này #64

Tả Thiên Thanh
Group Icon

Nhóm: Chánh tổng
Số bài viết: 6.072
Tham gia từ: 11-August 02
Thành viên thứ: 133

Tiền mặt hiện có : 42.157$
Số tuần chưa đóng thuế : 10

Bình chọn :



Dưới đây là bức thư trả lời Kojeve của bác Thảo

Quý ngài thân mến,
Tôi vừa nhận được bức thư của ngài, cảm ơn ngài nhiều về những điểm được làm rõ hơn trong bức thư. Cuối cùng thì chúng cũng giống như những gì tôi tự nghĩ. Như ngài đã nhận thấy, tôi đọc cuốn sách của ngài với nhiều thiện cảm. Tôi chỉ nghĩ đơn giản rằng, ngài đã không đi đủ xa trong lập luận và từ chối không rút ra những kết luận duy vật theo một chủ nghĩa nhân đạo vô thần, ngài đã để dành lại chỗ, có thể chính ngài không nhận thấy, cho một chủ nghĩa nhân đạo tôn giáo.
Nếu số lượng câu chữ không bị hạn chế ( giải thích :bác Thảo muốn nói tới bài báo của mình), và nếu tôi không phải tập trung vào những vấn đề cơ bản, tôi sẽ nhấn mạnh tới những sự phát triển đáng kể mà ngài đã thực hiện trong luận giải thông thường về Hê ghen. Nhưng bởi vì ngài đã cho rằng lĩnh vực tinh thần là bản chất của lịch sử, ngài sẽ không ngạc nhiên mà thấy rằng, học thuyết của ngài dường như cách mạng nếu ra đời cách đây chục năm, thì hiên nay không còn như thế nữa sau những sự kiện xẩy ra làm đảo lộn dòng chẩy lịch sử thế giới và đã đem cho nó một sự phát triển hoàn toàn mới. Tất nhiên đây không phải là một vài vấn đề tầm thường về kiến thức và người ta không thể phê bình một công trình như công trình của ngài qua một vài sự bất đồng về câu chữ của Hê ghen. Vì thế tôi chỉ chỉ ra chúng khi đọc qua để ghi nhớ, cũng để đánh dấu sự kỳ lạ trong cách giải thích của ngài, mà một bạn đọc bình thường có thể không nhận ra. Tôi bắt buộc phải nhắc lại rằng tôi không bao giờ phủ nhận sự khác nhau trong quan niệm của Hê ghen về « nhận thức tự nó » và « cảm nhận tự nó », tôi cũng muốn nói rằng tôi không lờ đi những điều ông ấy viết. Tôi chỉ đơn giản muốn nói rằng những điều này không nằm trong phần mà ngài trích dẫn (chương IV), nơi chúng rõ ràng không có vai trò như thế , bởi vì ở trong đoạn này Hê ghen muốn xóa bỏ sự mâu thuẫn trìu tượng, và sự phát sinh ra con người từ động vật. Vấn đề « đấu tranh cho danh giá thuần túy », được ngài giải thích như một phản biện tức thời không điều kiên đối với sự tồn tại tự nhiên. Một ý tưởng như thế không bao giờ tồn tại trong luận thuyết của Hê ghen, vì phản biện luôn luôn được thực hiện thông qua một cái gì đó, có nghĩa là tự nhiên tự phủ nhận mình để rồi tự khẳng định mình. Cuộc đấu tranh của « nhận thức tự nó », bắt nguồn từ bình diện sinh vật, để rồi hoàn thành trên bình diện con người thông qua một lô gic nội tại của chính sự vận động. Về điều này,tôi thật khó chấp nhận cách hòa giải mà ngài đưa ra, bằng cách sử dụng lại sự phân biệt của Kant(giải thích : một nhà triêt học Đức) giữa folgen và erfolgen (tiếng đức để nguyên trong bức thư). Ngài đồng ý rằng tinh thần là hệ quả của sự trở thành của tự nhiên, nhưng với ngài đó chỉ là một sự hạn chế, mà không phải là điều tất yếu. Nhưng chính ngài cũng biết rất rõ rằng với Hê ghen, hệ quả được xuất phát từ nguyên tắc nói rằng trong một sự vận động sự tất yếu cũng chính là sự tự do. Tất nhiên phải hiểu đó là một sự vận động biện chứng, bỏ ra ngoài cách suy luận theo lô gic hình thức tiên nghiệm (à priori).Nó chỉ có thể hiểu bằng lịch sử hay được đặt trong một thực tiễn. Nhưng hành động và nhận thức này liên quan tới trí tuệ, điều mà ngài bác bỏ trong hệ thống lý luận của mình về tự do. Hiển nhiên rồi, tôi không bao giờ gán cho ngài môt phép giải thích nhị nguyên thô sơ theo không gian, nhưng tôi cũng nghĩ rằng không thể biến sự chuyển đổi biện chứng từ tự nhiên sang tinh thần như một chuỗi hệ quả hạn chế lần lượt theo thời gian, và chỉ được chứng minh bằng một sự phản biện hoàn toàn khiên cưỡng.
Với Hê ghen sự phản biện đồng nhất với sự khẳng định, và có thể thực hiện trong một sự tồn tại tuyệt đối. Như vậy nếu có một mối quan hệ nhị nguyên, thì sự nhị nguyên này(dualisme) sẽ đồng nhất với nhất thể (unité/unity). Điều này không phải là trò chơi của tinh thần : tôi đã cố gắng chỉ rõ ra rằng, chủ nghĩa duy vật của Mác cho phép đưa người ta đến một nội dung hiện thực trên những khái niệm biện chứng cơ bản như thế nào. Vì thế tôi không phê phán ngài đã phân biệt tự nhiên và tinh thần, nhưng ngài không thấy rằng sự phân biệt này đã chỉ ra tính đồng nhất của chúng. Từ đó mà suy ra sự phân biệt không thể giải thích bằng một thực thể siêu việt thần thánh. Tất nhiên, ngài đã đẩy cái hệ quả này ra ngoài lập luận của mình, bởi vì ngài đã định nghĩa tự do bằng cách loại trừ tất cả khả năng trí tuệ, cũng như coi chúng thuộc thể loại nào, nhưng làm sao con người có thể từ bỏ sự hiểu biết bằng lý trí với sự vật. Và cũng bởi vì ngài từ chối tìm ra cái nguyên nhân của sự phân biệt trong một sự thống nhất của chính nó, một nhà thần học sẽ nói rằng chúng xuất phát từ một sự hiện thân nào đó. Nhưng có thể tôi và ngài không cùng thuộc vào một trào lưu về nhận thức tinh thần, bởi trước khi tiếp cận triết học đương đại, tôi là một đệ tử chân thành của Spinoza, tôi biết rằng học thuyết này không phải là học thuyết mà ngài đề cao gì cho lắm. Ngài định nghĩa tự do như là điều ngược lại không bị chi phối bởi sự tất yếu, còn tôi lại bảo vệ truyền thống duy lý, một truyền thống coi chúng, tự do và tất yếu ,là đồng một thể

Tôi xin gửi tới ngài lời chào trân trọng.


--------------------
Tả Thiên Thanh



User is offlineProfile Card
Go to the top of the page
+
Phó Thường Nhân
post Sep 21 2021, 06:31 AM    
Đường dẫn tới bài viết này #65

Tả Thiên Thanh
Group Icon

Nhóm: Chánh tổng
Số bài viết: 6.072
Tham gia từ: 11-August 02
Thành viên thứ: 133

Tiền mặt hiện có : 42.157$
Số tuần chưa đóng thuế : 10

Bình chọn :



Định viết tiếp phân tích lá thư của bác Thảo, để thấy cái thú vị của nó. Nhưng tôi nghĩ phải đọc Hê ghen một chút thì sẽ đánh giá chuẩn hơn. Cũng là dịp, có cớ để đọc cuốn « triết học lịch sử » (philosophie d’histoire) của ông ấy. Đây là tác phẩm cơ bản của triết học Hê ghen cùng với quyển « triết học về luật pháp » (philosophie de droit), quyển này thì tôi đọc rồi, vì như tôi đã nói tôi không phải là hegelien (đệ tử của triết học hê ghen), mà cả bác Thảo lẫn Kojeve đều suy hê ghen theo tư tưởng của mình, còn tôi lại qua chủ nghĩa Mác, nên phải xem Hê ghen nói như thế nào. Khi đọc xong thì tôi sẽ viết tiếp sẽ chính xác hơn. Nếu bác nào thấy bức thư ấy có gì thú vị, thì cứ tham gia, đừng có ngại. Thiên lang có đọc hê ghen rồi, thì có thể thấy nhiều điều thú vị đấy.


--------------------
Tả Thiên Thanh



User is offlineProfile Card
Go to the top of the page
+
« Bài viết cũ hơn · CLB Văn Hoá - Lịch sử · Bài mới tiếp theo »
 

7 Trang « < 5 6 7
Topic Options
2 người đang chống cằm trầm tư ngâm cứu chủ đề này (2 khách vãng lai và 0 thầy mo tàng hình)
0 Thành viên:
 

Xem diễn đàn ở dạng TEXT - PDA - Pocket PC