Chào bác, trông cái mặt bác quen quen ( Đăng nhập | Đăng ký tạm trú )

6 Trang « < 4 5 6 

· [ ] ·

 Chánh Niệm Không Như Bạn Nghĩ

Phó Thường Nhân
post Feb 15 2019, 11:25 PM    
Đường dẫn tới bài viết này #51

Tả Thiên Thanh
Group Icon

Nhóm: Chánh tổng
Số bài viết: 5.327
Tham gia từ: 11-August 02
Thành viên thứ: 133

Tiền mặt hiện có : 37.064$
Số tuần chưa đóng thuế : 7

Bình chọn :



12- TỔNG KẾT SƠ BỘ
Nhờ bác Quý mở chủ đề này, khiến tôi nổi hứng tán phét. Đầu tiên chỉ là tham gia trả lời, nhưng vì ít có người tham gia đàm luận, nên tôi nhân tiện phát triển nó như là một sự chia sẻ những kinh nghiệm thể nghiệm tập luyện Thiền. Như vậy chủ đề này có thể coi như phần hai của một chủ đề về Thiền Tào động mà tôi đã viết từ trước. Ngoại trừ các đoạn viết về ..bóng đá, phần viết về Thiền chủ yếu làm nổi bật sự khác nhau giữa Thiền trong phật giáo nguyên thuỷ và Thiền như một tông phái của phật giáo Đại thừa. Sự khác nhau này nằm trong vấn đề Thiền nguyên thuỷ nằm ở mức độ nhận thức, còn Thiền Đại thừa thì nằm ở mức cao hơn là TÂM. Do sự khác nhau này, mà hoạt động của Thiền nguyên thuỷ là NIỆM, tức là nằm trong phạm vi « hữu vi », có chủ ý, vì thế nó dễ dẫn tới ức chế tâm lý, nhưng có điểm lợi là gần với đạo đức học. Dễ ứng dụng. Ngược lại Thiền Đại thừa do đạt tới TÂM, mà thiên về hành động tự nhiên, không chủ ý, nhưng nó lại dễ dẫn người ta sa vào hư vô, nguỵ biện, phải trái lẫn lộn. Khi lẫn lộn KHÔNG với VÔ VI, Hư vô. (ví dụ như ông Phạm Công Thiện)
Vì thế để ứng dụng Thiền Đại thừa trong đời thường, thì người ta có thể bám theo các nguyên lý hành động tự nhiên, không chủ ý, không bị điều khiển bởi Tham sân si, bởi cái tôi mà hành động «VÔ NGÃ ». Vì hành động tự nhiên mà luôn thông thoáng (vô chấp) theo quan niệm Vô sở trụ (không bám vào định kiến nào) được gọi là Thiền của Phật, và hành động tự nhiên không suy nghĩ tính toán (được gọi là Thiền của Tổ). Hai điều này tôi đã dẫn giải bằng một công án.
Với một người ứng dụng thiền đại thừa, thì phải phân biệt được giữa bản tâm « không động » và thế giới hiện tượng động. Đây là nội dung tôi lấy ví dụ qua câu thơ của vua Trần Nhân Tông, cũng như câu chuyện « gió động, cờ động » trong kinh Pháp bảo đàn.
Từ cái điều này mà ta thấy khoa học không ngược với Thiền và tâm linh. Nhưng người ta không cần dùng khoa học để làm chứng cho tâm linh đúng. Với con người, khoa học là điều kiện cần, tâm linh là điều kiện đủ.
Để tránh rơi vào hư vô, tôi nêu ra phép tập TÂM PHẬT, THÂN NHO. Tâm linh phật giáo, ứng sử Nho giáo. Và từ đó người ta có thể thấy quan niệm tương đồng của hai đạo này,qua khái niệm cái tôi « rỗng không » (dóng thẳng lòng không) của đạo Nho. Tất nhiên đây là một cách, một kinh nghiệm cá nhân, không phải là cách duy nhất.
Tôi cũng nói tới vấn đề phương Tây « chắt lọc » Thiền như thế nào để tạo dựng cái « pleine conscience » nhằm chữa chạy bệnh tâm lý của nó.
Trong chủ đề tôi cũng có nói rất dài về Khoá hư lục. Nhưng kết luận về nó thì tôi sẽ viết tiếp sau, trong phần « Thực hành thiền ».
(còn tiếp)


--------------------
Tả Thiên Thanh



User is offlineProfile Card
Go to the top of the page
+
Phó Thường Nhân
post Mar 8 2019, 11:15 PM    
Đường dẫn tới bài viết này #52

Tả Thiên Thanh
Group Icon

Nhóm: Chánh tổng
Số bài viết: 5.327
Tham gia từ: 11-August 02
Thành viên thứ: 133

Tiền mặt hiện có : 37.064$
Số tuần chưa đóng thuế : 7

Bình chọn :



13- Thích Nhất Hạnh
Tôi nói tới ông Thích Nhất Hạnh, Thầy Thích Thanh Từ vì sẽ nói tới vấn đề truyền thừa. Sau đó sẽ nói tới một số phép thực hành ứng dụng . Và sau đó là tổng kết. Tất nhiên nếu có bàn luận lai rai tiếp thì chủ đề vẫn là mở.
Ông Thích Nhất Hạnh có rất nhiều người phương Tây biết, đặc biệt ở Pháp. ở Pháp cũng có cơ sở tập thiền của ông gọi là làng Hồng hay làng Mận gì đó. Nếu vào một tiệm sách kiểu như FNAC ở ngay Chatelet-Les Halles, ngay trong trung tâm Paris, vào quầy bán sách về phật giáo, thì có hẳn một hàng dài sách của ông ta. Trong chủ đề này tôi cũng nói tới ông, như là một những người đưa khái niệm pleine conscience (mindfullness) vào quan niệm phương Tây hiện đại, và cũng chính cái khái niệm này mà bác Quý mở chủ đề.
Bản thân tôi cũng có một số sách của ông, bao gồm sách tiếng Việt, do Sài gòn in cũ, sau được in lại ở Mỹ rồi đem sang Pháp bán (ví dụ cuốn Đạo Phật hiện đại hoá), có quyển đã được in ở VN như cuốn lịch sử phật giáo VN (3 tập), nhưng tên tác giả đề là Nguyễn Lang, là một tên khác của ông, không biết là tên bố mẹ đặt ra, hay là tên hiệu. Tôi cũng có một số quyển sách của ông bằng tiếng Pháp, ví dụ « Phật sống, chúa sống » (Boudha vivant, Jesus vivant), trong đó ông ấy tìm cách kết hợp Phật – Thiên chúa, chắc để thoả mãn đọc giả chính của ông ấy là người Pháp, gốc văn hoá Thiên chúa, và vài quyển khác mà tôi lúc đang viết thế này không còn nhớ tên. Mặc dù không có đủ, và cũng không đọc hết sách của ông, nhưng tôi nghĩ nó cũng tạm đủ để dựng lên được giáo lý ông ấy truyền giảng, theo một khoảng thời gian dài, từ lúc còn trẻ đến bây giờ. Dù vậy những gì tôi viết là ý kiến cá nhân dùng cho tôi là chính. Hứng chí thì mang lên đây tán phét.
Nhưng tôi không phải là « đệ tử », hiểu rộng theo nghĩa tư duy phật giáo của ông giúp cho tôi ngộ thêm đạo Phật. Tôi cũng chưa bao giờ tới làng Hồng, chưa bao giờ tập thiền do ông ấy hướng dẫn (dù chỉ qua sách), mặc dù cái làng này ở Pháp. Với riêng tôi, phật giáo mà ông ấy giảng là Fake, một dạng kiểu « personal developpement » rất phổ biến, trong đó với một vài từ tư duy phật giáo trộn lẫn với những khái niệm tâm lý thông thường mà ông ấy viết ra. Nó không có chiều sâu. Một người khác mà tôi có thể so sánh với ông là Gu ru OSHO, chỉ có điều OSHO suy nó ra từ ấn độ giáo, còn ông Thích Nhất Hạnh thì suy nó ra từ phật giáo. Và cả hai đều rất giỏi tiếp thị, về điều này thì ông ấy đúng là người đáng khâm phục nhất.
Tất nhiên, có thể nhận xét của tôi là do nhân duyên và cách tìm hiểu, học Phật của tôi mà ra. Vì học phật của tôi gắn với lịch sử, văn hoá, triết học. Cũng như học phật với tôi là tìm hiểu truyền thống, cập nhật nó trong điều kiện hiện đại khoa học, vì phật giáo không phải là điều gì xa lạ với một người VN. Một người VN, ngoại trừ họ tuyên bố theo một cái đạo nào đó, thì bình thường họ đã là phật tử vô thức.
Nếu lấy ví dụ so sánh Phật giáo như là phở, thì điều tôi đi tìm là phở chân truyền, ngược lại phở mà ông Thích Nhất Hạnh làm kiểu như phở dùng spagetti thay bánh phở, pho mát thay thịt bò trần để cho hợp khẩu vị người quen ăn pizza và gọi nó là phở. Có lẽ chính sự khác biệt này, mà mặc dù có đọc sách của ông, tôi không coi ông ấy là Thày.
(còn tiếp)


--------------------
Tả Thiên Thanh



User is offlineProfile Card
Go to the top of the page
+
Phó Thường Nhân
post Mar 18 2019, 11:20 PM    
Đường dẫn tới bài viết này #53

Tả Thiên Thanh
Group Icon

Nhóm: Chánh tổng
Số bài viết: 5.327
Tham gia từ: 11-August 02
Thành viên thứ: 133

Tiền mặt hiện có : 37.064$
Số tuần chưa đóng thuế : 7

Bình chọn :



Hiện nay sách của ông có khá nhiều, chẳng phải chỉ ở Pháp mà cả ở VN, nội dung của nó chủ yếu theo kiểu « personnal developpement », che phủ bởi vài khái niệm phật giáo cơ bản cho nó có mầu. Nhưng theo dõi cái nội dung này nó cũng nói lên một phần sự yếu kém của phật giáo VN về kinh điển, dù truyền thống phật giáo của VN rất dài cả ngàn năm. Tôi chia ông ấy thành mấy giai đoạn.
1- Giai đoạn ở VN (quãng những năm 60 đầu 70). Cũng như nhiều sư sãi miền Nam lúc đó, sau khi có phong trào Phật tử đánh đổ chính quyền Ngô Đình Diệm(1963), ông ấy muốn một đạo phật thâm nhập thực tế hơn, nhưng lại muốn xa rời cuộc kháng chiến chống Mỹ, thể hiện qua việc thành lập giáo đoàn tiếp hiện (tiếp cận hiện thực). Trong các điều kiện của giáo đoàn, có điều được đưa ra là « không được tin tưởng vào bất cứ một lý thuyết nào cả ». Nghe ra thì có vẻ rất là Thiền (kiểu như vô chấp), nhưng thực ra nó là sai. Chính về việc này mà phía cách mạng nghi ông ấy là CIA trá hình. Ngược lại chính quyền miền Nam cũ cũng không thể chấp nhận về việc đòi chấm dứt chiến tranh. Đây cũng là thời kỳ mà ông ấy muốn cải cách đạo phật để tu sĩ cũng có thể lấy vợ, như ở Nhật bản. Nó cũng phù hợp với trào lưu sexual revolution ở phương Tây mà miền Nam tạm chiếm là cái đuôi văn hoá.
2- Giai đoạn giảng Thiền ở phương Tây (Pháp, rồi Mỹ) thập niên cuối 70 đến nay. So với các sư sãi miền Nam khác trong phong trào phật tử chống Diệm, ông Nhất Hạnh đã làm được cái việc kết tinh sự đánh giá của phương Tây về phòng trào này vào ông ấy, trong một quy trình «cá nhân hoá một phong trào » của media phương Tây. Sở dĩ như thế vì ông ấy biết lợi dụng media phương Tây, để tạo hình ảnh. Ngay hiện nay, trong những quyển sách của ông ấy in ở Pháp, ở bìa cuối chuyên giới thiệu ông ấy đã được mục sư Martin Luther King, nhân vật lãnh đạo phong trào đòi quyền dân sự cho người da đen ở Mỹ vào thập niên 60, giới thiệu ứng cử giải nô ben hoà bình. Như vậy sự nổi tiếng của ông ấy, không phải vì phật pháp.
3- Từ thập niên 60 của thế kỷ trước, phương Tây bắt đầu sùng bái đạo Phật, tất nhiên là chỉ một bộ phận. Nhưng người này muốn tìm thấy trong đạo Phật những điều mà họ không tìm thấy trong Thiên chúa, cũng có thể là những người không theo đạo Thiên chúa nữa, nhưng họ muốn có gì đó là tâm linh. Trong phật giáo, điều hấp dẫn họ nhất là Thiền Nhật bản, rồi tới phật giáo Tây tạng. So với hai loại phật giáo này, thì phật giáo VN không có nhiều thứ để « bán ». Bởi phật giáo Nhật bản, đặc biệt là Thiền, có một cáic phông văn hoá cực lớn đằng sau. Các tông phái phật giáo Nhật có truyền thống, có truyền thừa. Phật giáo Tây Tạng cũng to lớn không kém, và họ còn có cả một hệ thống chư tăng từ Tây Tạng thoát ra (sau khi TQ sát nhập Tây Tạng vào năm 1959, trước đó Tây Tạng là vùng đất ràng buộc lỏng lẻo, đặc biệt từ giữa thế kỷ XIX, khi bản thân TQ cũng là nước nửa thuộc địa, thì Tây Tạng gần như là vùng đất độc lập, tự quản). Phật giáo VN như vậy không thể so sánh, bởi trong thực tế, từ thế kỷ XV, sau khi Lê lợi kháng chiến chống nhà Minh thắng lợi, thì Nho giáo là tôn giáo chủ đạo. Đến thế kỷ XVI, khi chính quyền phong kiến Trung ương tan rã thành Nam-Bắc Triều (thời nhà Mạc), rồi Trịnh – Nguyễn phân tranh, thì Nho giáo mới lùi bước một chút (do Trung quân, một khái niệm quan trọng của Nho giáo, với nhà Lê Trung hưng không có thực quyền không còn có được niềm tin), nhưng phật giáo VN chủ yếu là Tịnh độ. Phong trào chấn hưng phật giáo chỉ bắt đầu từ những năm 20 của thế kỷ XX, như một phản ứng với đạo Thiên chúa trong thời thuộc địa.
Người phương Tây biết tới phật giáo VN chủ yếu qua phong trào chính trị chống nhà Ngô. Và phải nói đó là điều hiếm có với đạo Phật từ khi ra đời tới nay. Nhưng ảnh hưởng « chính trị » đó, không thể che đi sự yếu kém về truyền thống giáo lý, mới được tạo tác lại, từ khi có phong trào chấn hưng phật giáo thời thuộc địa. Cũng phải để ý sự can thiệp của Mỹ nữa. Phong trào phật giáo này có bị Mỹ giật dây không ? có là cái cớ để Mỹ lật Diệm không ?. Không còn nghi ngờ gì, phong trào phật giáo này là giọt nước tràn ly, với chính sách gia đình trị của nhà Ngô, là sự phản ứng với việc « công giáo hoá » miền Nam tạm chiếm, nhưng nó thực sự đánh đổ được nhà Ngô thì không phải.
Như vậy ông Nhất Hạnh muốn « buôn bán » giáo lý phật giáo thì làm thế nào, chỉ còn cách là biến nó thành một cái dạng tâm lý phổ thông, như ông ấy viết trong hàng đống sách của ông ấy. Điều này ông ấy rất là giỏi, và sư sãi ở VN cũng nên học. Nhưng nó chỉ giúp người ta tiếp cận phật giáo, một cách méo mó, mà không phải là phật giáo.
4- Điều đáng chú ý là ông ấy rất cập nhật, chạy theo xu hướng thời sự. Ví dụ khi có phong trào « bảo vệ môi trường », thì ông ấy sẽ viết sách theo kiểu ấy, rồi ông ấy hoà động chúa Giê Xu vào phật giáo, vì khách hàng của ông ấy có văn hoá Thiên chúa. Nhưng điều này thực ra phật giáo không cấm, đó là phép « tuỳ bệnh cho thuốc ». Nhưng dùng nó để chứng tỏ là mình ngộ thì lại sai. Ví dụ. Cách đây hơn tuần, tôi đọc trong báo Thanh Niên (mạng), có nói về việc ông ấy về lại ngôi chùa Từ Đàm (Huế) là nơi xuất gia của ông ấy để sống những ngày cuối cùng, vì ông ấy lâm bệnh. Trong bài báo, có nói việc ông ấy qua bức thư của mình (mà báo không đăng nhưng tóm tắt, vì thế phải lấy giả thiết là báo nói đúng), ông ấy ví mình là một nhân vật vĩ đại của phật giáo thế giới đứng thứ 7, thứ 8 gì đó, còn hơn cả ông Đại Lai lạt ma, theo như một học giả người Úc cha căng chú kiết nào đó viết. Bất kể người Úc đó là ai, dù là học giả đại tài đi, thì sự vĩ đại trong phật giáo không phải ở đây. Sự đánh giá kiểu này có thể là một cách làm marketing tuyệt vời, như việc ông Luther King làm cho ông ấy, nhưng để đánh giá sự « vĩ đại » trong phật giáo thì nó quá buồn cười.
Hiện nay ông Thích Nhất Hạnh lâm bệnh, không biết có qua khỏi không. Như vậy hi vọng ông ấy nếu không khỏi được bệnh thì cũng ra đi bình an, nhưng với tôi ông ấy chỉ là một ông sư nhậy bén tiếp thị, biết dùng media tung hứng như một loại « jet set », nhưng không phải là thầy.
(còn tiếp)


--------------------
Tả Thiên Thanh



User is offlineProfile Card
Go to the top of the page
+
Phó Thường Nhân
post Mar 19 2019, 11:20 PM    
Đường dẫn tới bài viết này #54

Tả Thiên Thanh
Group Icon

Nhóm: Chánh tổng
Số bài viết: 5.327
Tham gia từ: 11-August 02
Thành viên thứ: 133

Tiền mặt hiện có : 37.064$
Số tuần chưa đóng thuế : 7

Bình chọn :



14- Thích Thanh Từ.
Như tôi đã từng nói, tôi coi thầy Thích Thanh Từ là Thầy, vì sách vở của thầy giúp tôi tiến bước trên con đường học phật. Tất nhiên, thầy không biết tôi là ai, cũng như tôi chưa bao giờ gặp thầy hay thăm viếng các thiền viện mà Thầy lập nên.
Lần đầu tiên tôi biết đến tên Thầy, là lúc lên chùa nhặt được quyển sách biếu do Thầy viết, với tên « Tu là chuyển nghiệp », sau đó tôi còn kiếm được mấy cuốn sách biếu nữa như « Kinh bát đại nhân giác », hay « bẩy cửa vào động Thiếu thất ». Tác phẩm này được coi là của Bồ đề đạt ma, tổ sư của Thiền tông. Vào thời điểm ấy, tức là đầu những năm 90, Internet chưa có. Sau đó tôi có mua một cuốn sách « nguồn thiền giảng giải » của Thiền Sư Tông Mật (đời nhà Minh), do Thầy dịch. Những sách còn lại là ở trên mạng. Bao gồm một số kinh Thầy giảng giải, và đặc biệt những sách vở của Phật giáo Vn cổ (Thiền sư VN (gốc là Thiền uyển tập Anh), Khoá hư lục, Trần Triều bản hạnh).. Điều đặc biệt, có lẽ là duy nhất, là học theo sách của Thầy rất « kinh tế », vì hầu như tôi không phải mua quyển nào (ngoài cuốn của Thiền sư Tông Mật nói trên, quyển này hiện trên mạng cũng có).
Có điều đặc biệt, là vì qua sách, tôi không được biết Thầy dậy ngồi Thiền thế nào. Vì thế hình thức tập Thiền của tôi là do tôi học qua sách của một Thiền sư Nhật ở Pháp, Taisen Daishimaru, Thiền sư này thuộc phái Sô tô Nhật, tức là Tào động theo tiếng Việt. Và từ đó mà tôi mò lên tới Đạo Nguyên (Dogen), Tổ sư thiền Sô tô Nhật bản.
Như vậy có thể hiểu là Thầy giúp tôi nhận thức Thiền bằng tiếng việt, tiếp xúc với kinh bằng tiếng việt, và đặc biệt kho tàng truyền thống của Phật giáo VN. Nhưng một tông phái nào đặc biệt thì không phải.
Còn việc Tôi theo thiền Tào động, cũng là nhân duyên, nhưng không phải là tình cờ. Vì tôi vốn thích một pháp môn nào có thể thực hành, ứng dụng.
Trong truyền thống phật giáo thông thường một nhà sư luôn để lại tư duy của mình thông qua việc diễn giải kinh sách. Sự diễn giải không chỉ là bài giảng thông thường mà nó cũng thể hiện sự giác ngộ của nhà sư, việc cập nhật nó với hiện tại. Để biết kinh thì phải đọc, để hiểu kinh thì phải giảng, để « làm chủ kinh », thì phải ứng dụng thực hành.
Với tôi, là một người học phật mà không đi tu, thì quyển « tu là chuyển nghiệp » cũng như các quyển kinh nhỏ như « bát đại nhân giác », thể hiện cách thức tu tập của Thầy. Và tôi rất đồng ý với điều này, đó là tu tức là chuyển nghiệp. Biến nghiệp dữ thành lành, thông qua những nhận thức phật giáo mà người phật tử phải trang bị cho mình như nhân sinh quan thế giới quan, nói theo kiểu hiện đại. Kinh bát đại nhân giác, kinh tứ thập nhị chương, kinh Pháp Cú.. chính là những nhận thức cơ bản này. Sau này khi tiến xa hơn, thì tôi nói « Niết bàn là luân hồi », « luân hồi là niết bàn », « Đời là giải thoát », « Giải thoát là đời ». Tất cả chỉ khác nhau về cách nhìn nhận, nhìn nhận đúng thì hành động đúng, hành động đúng thì giảm nghiệp chuyển nghiệp. Chuyển nghịêp là Tu như thầy nói.
Điều này khác hẳn việc sử dụng Phật giáo như công cụ tâm lý, vuốt theo chiều lông chân người ta, nói kiểu « bisounours » (cái từ tiếng pháp đời thường này là sự ghép từ bisou là hôn, ours là con gấu, để nói tới chuyện người phương Tây buổi tối trước khi con ngủ hay kể chuyện cổ tích gấu bông, dỗ dành cho trẻ con ngủ, vì người phương Tây không ngủ với con cái chung giường, nên phải dỗ cho nó ngủ khỏi sợ)kiểu ông Thích Nhất Hạnh. Tôi không phủ nhận phật giáo rất gần tâm lý học hiện đại, nhưng nó không chỉ là tiếng an ủi cho những vấn đề tâm lý khủng hoảng, đây chỉ là một cái vế phụ. Nhiều khi người ta có thể dùng nó, vì từ nhu cầu đó mà tiếp cận phật giáo, từ những vấn đề khủng hoảng ấy mà ngộ. Nhưng người ta không dừng ở đó.
(còn tiếp)


--------------------
Tả Thiên Thanh



User is offlineProfile Card
Go to the top of the page
+
Phó Thường Nhân
post Apr 11 2019, 09:25 PM    
Đường dẫn tới bài viết này #55

Tả Thiên Thanh
Group Icon

Nhóm: Chánh tổng
Số bài viết: 5.327
Tham gia từ: 11-August 02
Thành viên thứ: 133

Tiền mặt hiện có : 37.064$
Số tuần chưa đóng thuế : 7

Bình chọn :



15- Đạo Nguyên (Dogen)
Thiền sư Đạo Nguyên tôi đã nói tới trong chủ đề nói về Thiền. Thiền sư là người Nhật bản, tổ thiền Tào động Nhật bản, sống ở thời điểm ở VN là triều nhà Lý, (hoặc đầu nhà Trần), vì là đời nhà Tống ở TQ. Tôi hơi bị lười tra niên đại, nhưng các bác có thể tự tra trên mạng bằng chú gúc.
Với tôi Thiền sư Đạo Nguyên là một người thày, đã giúp tôi thâm nhập Thiền Tông, ứng dụng được nó một cách cụ thể hơn. Bởi vì ông có những điểm đặc biệt sau, hợp với nhân duyên của tôi.

1- Thiền của Đạo Nguyên là tông thiền Tào động. Dòng thiền này chú trọng ngồi Thiền hơn là tham vấn các công án, với các nguyên tắc « vô sở ngộ », « vô sở chứng » của tông này mà Thầy Đạo Nguyên đã chuyển nó thành « ngồi thiền là ngộ », « ngồi thiền là niết bàn » theo truyền thống chắt lọc, « cực đoan hoá một khía cạnh đặc trưng thành lối thực hành duy nhất » vốn là đặc trưng của văn hoá Nhật, ứng dụng vào tập Thiền, rất là hiệu quả. Với cách này, Thầy đã đưa Thiền Tào động trở về với Thiền nguyên thuỷ, vì với nguyên tắc « chỉ quán đả toạ », trong đó chỉ là dừng lại, tức là thiền samatha nguyên thuỷ, quán tức là quán tưởng là kiểu hiểu Đông Á của khái niệm Niệm (như tôi đã phân tích ở trên về sự khác nhau giữa Quán và niệm) kéo gần ta tới thiền vipasana nguyên thuỷ. Điểm khác nhau của nó là trong thiền nguyên thuỷ, vipasana là niệm theo nghĩa suy tư, tư duy tức là nhẩm lại, ôn lại giáo lý phật giáo, thì sự dừng lại của niệm trong Tào động làm « sáng lên » cái thức thứ 8, tức là TÂM. Như vậy ngồi thiền kiểu Tào động như Thầy Đạo Nguyên nói, là sự kết hợp nhuần nhuyễn của Thiền nguyên thuỷ, với Thiền Đông Á. Vừa là sự phát triển, phù hợp với văn hoá Đông Á, vừa trở về nguồn.
Từ hinh thức tu thiền này, vì tôi là người thường, tôi lại chắt ra cách của mình,vì không phải là sư, nên tôi không thể có thời gian ngồi hàng tiếng đồng hồ tập thiền, kết quả là phải đưa thiền vào các hành động đời thường, biến các hành động đời thường thành tập thiền (trong phương tiện công cộng đi lại, nghe nhạc, uống trà, nghe thời sự tiếng nước ngoài, cách thức tập trung khi làm việc, tinh thần « vô bố uý » (không sợ hãi) trước một sự việc phải giải quyết..). Còn ngồi thiền chỉ là cách tập huấn để ta quen với cách thức hành động kiểu này. Xuất phát từ nhận thức « luân hồi là niết bàn », « niết bàn là luân hồi » tất cả chỉ là cách nhìn (cái này bác nào học tông Pháp Hoa cũng có thể có, thậm chí nên tập tông Pháp Hoa để cảm nhận thiền hơn, bản thân tôi cũng học cả tông này). Nếu hành động, làm việc theo tự nhiên, với cái TÂM không động, thì cũng là ngồi thiền. Để cái TÂM không động (như vua Trần Nhân Tông nói, mà tôi đã nhắc lại nhiều lần), thì lại có thể áp dụng một nguyên lý khác của Thầy Đạo Nguyên đó là hành động với « thân tâm buông bỏ », mà phần quan trọng của nó là bỏ cái Tôi.
Tất cả các hành động như thế này, sẽ giúp ta chuyển nghiệp, dừng nghiệp, không tạo ra nghiệp mới. Phù hợp với quan niệm của Thầy Thích Thanh Từ. Tu là chuyển nghiệp.

2- Khác với các thiền sư khác, Thầy Đạo Nguyên để lại một khối lượng sách đồ sộ, trong bộ « chính pháp nhãn tạng ». Rất tiếc là tôi không thể đọc nguyên bản, và cũng chưa đọc hết trọn bộ , đã được dịch ra tiếng Pháp, mà tôi chỉ đọc được những tuyển tập. Trong các sách của thầy, thầy đã diễn giải rất thú vị cảm nhận « thiền », cảm nhận « ngộ » của thầy. Và từ đó tôi có thể dùng nó để tham vấn. Giống như ta tham vấn với một thiền sư bằng xương bằng thịt. Tất nhiên nó không thể sống động, có những điều bất ngờ do đối đáp tạo ra, nhưng nó cũng chỉ cho ta con đường đi thế nào. Và cũng bằng cách này mà tôi tiếp xúc, « giải mã » dễ dàng hơn, tìm được các cảm nhận của công án.
Khi tham vấn qua sách kiểu này, thì phương pháp duy vật lịch sử của chủ nghĩa Mác lại giúp tôi rất nhiều, vì nó giúp tôi « xây dựng lại trong tưởng tượng » điều kiện sinh hoạt, tâm lý, văn hoá của thời điểm mà Thiền sư Đạo Nguyên sống. Từ đó giảm được sự lẫn lộn của nhận thức hiện tại, không bị cập nhật hoá lộn ngược quá khứ. Khiến cho việc « tham vấn ảo » này chuẩn xác hơn.
Cũng từ cái mô đen này, mà tôi tham vấn các thiền sư khác như Vua Trần Thái Tông, Trần Nhân Tông, Tuệ Trung thượng sĩ, các tổ Thiền Trúc lâm, thiền sư Hương Hải.. với các thiền sư này, kiến thức nhận thức thiền tôi có được khi tìm hiểu Thiền thế giới, giúp tôi hiểu , chiêm nghiệm rõ rệt hơn .

3- Thiền sư Đạo Nguyên là người có vốn học vấn rất rộng, nếu mà so sánh ta có thể coi Thầy có bản diện nhận thức như ngài Ananda quảng bác kiến thức, trong phật giáo nguyên thuỷ. Sự quảng bác về học thuật này cũng hợp với cái tạng của tôi. Vì tôi tập thiền trong một tổng thể, trong đó có cả tìm hiểu lịch sử văn hoá. Còn tất nhiên, trình độ của tôi thì không có thể so sánh được với các vị ấy. Họ như núi thái sơn, mình như hạt bụi.

(còn tiếp)


--------------------
Tả Thiên Thanh



User is offlineProfile Card
Go to the top of the page
+
Phó Thường Nhân
post Jun 26 2019, 10:23 PM    
Đường dẫn tới bài viết này #56

Tả Thiên Thanh
Group Icon

Nhóm: Chánh tổng
Số bài viết: 5.327
Tham gia từ: 11-August 02
Thành viên thứ: 133

Tiền mặt hiện có : 37.064$
Số tuần chưa đóng thuế : 7

Bình chọn :



16 – Thực hành
Chủ điểm này tôi đã viết tới đây là phần cuối cùng. Nhưng là diễn đàn thì ai cũng có thể ngẫu hứng mà tham gia tiếp. Phần cuối cùng, với tôi cũng chỉ là cuối cùng vào thời điểm này, vì đạo không có điểm cuối, nếu có điểm cuối thì không khác gì dòng sông chết, mà đạo thì luôn sống động, vì nó luôn đòi hỏi người ta sử dụng, và từ đó lại chiêm nghiệm được những điều mới, đây cũng chính là nội dung của tinh tấn, một trong sáu ba la mật của phật giáo Đại thừa (từ bi, trì giới, nhẫn nại, tinh tấn, thiền định, trí huệ). Nhưng đã nói tới tinh tấn thì điều đó cũng có gì đó tương đương với « luôn cố gắng », mà đã luôn cố gắng thì có nghĩa là phải có ý chí, nếu đã có ý trí thì làm sao khớp được với THIỀN vốn được coi là hoạt động theo tự nhiên. Vậy phải giải thích điều mâu thuẫn này thế nào ?
Trong thực tế, nếu hoạt động theo tham, sân, si , theo cái tôi, thì mới là trái tự nhiên. Ngược lại, nếu hành động « vô ngã », theo nhân duyên, thì điều này vẫn được coi là tự nhiên. Nếu hiểu như thế thì mới đưa Thiền vào hành động, để mỗi hành động đời thường cũng là một dạng tập thiền. chứ nếu không thì sẽ lại sa vào hư vô.
Như vậy thực hành thiền như thế nào. Ở đây có hai cách. Một cách đầy đủ là Thiền phật giáo, một cách không đầy đủ có nghĩa là chỉ dùng Thiền như một kỹ thuật luyện tâm.

16.1 Thiền Phật giáo.
Với cách thực hành của tôi, thì thiền phật giáo cũng là thiền Tào động, vì tôi tập theo tông phái này. Nhưng bất cứ theo tông nào, chỉ có Thiền phật giáo mới là thiền đầy đủ nhất. Nó bao gồm Thiền kỹ thuật (mà tôi sẽ nói sau), nhưng phải có thêm những nhận thức có thể coi là phần tinh tấn, vì người ta luôn phải nhắc lại, tự nói với bản thân mình, trong quá trình tu tập. Đây chính là sự nhận thức phật giáo bao gồm : quy y, dâng hương, sám hối, phát bồ đề tâm.

16.1.1 Quy y.
Mở bất cứ một quyển kinh nào, ta cũng có thể thấy mục quy y này. Quy Y đó là tin vào Phật, tin vào Pháp, tin vào Tăng. Phật, Pháp, Tăng là cái đế dựa vào đó tu tập. Các bác có thể dùng cách thức quy y trong đầu quyển kinh, như trong kinh nhật tụng rất thông dụng. Nhưng tôi thì dùng bài thơ « cưỡi lừa ba chân » để làm điều này. Vì con lừa ba chân, như đã nói trong chủ đề này, khi tôi phân tích quyển « Khoá Hư lục » của vua Trần Thái Tông, chính là biểu tượng của Phật, Pháp, Tăng. Bây giờ chỉ nói rõ thêm một chút. Thế nào là Phật, thế nào là Pháp, thế nào là Tăng.
Phật là đức phật Thích Ca lịch sử, nhưng cũng là Phật tam thân, bao gồm báo thân, hoá thân, và pháp thân. Nếu hiểu theo nghĩa này thì phật Thích ca là hoá thân của Phật trong thế giới Ta bà ta đang sống, Phật Di đà sẽ là báo Thân phật, và phật bà Quan âm sẽ là hoá thân phật. Người ta cũng có thể coi Đại Nhật như lai (Vairocana) là pháp thân phật. Phật cũng là phật tính có trong tất cả mọi sự vật trong vũ trụ.
Pháp là kinh sách mà Phật đã dậy. Pháp có thể coi như mắt của Phật, từ đó mà ta có nhân sinh quan thế giới quan phật giáo.
Còn Tăng là tất cả Bồ tát, các tổ, là lời dậy, là hành trạng của họ giúp ta tu tập. Ở đây tôi không để tăng như khái niệm cộng đồng tu sĩ. Vì với tôi cộng đồng tu sĩ chỉ là bạn cùng học đạo, họ chưa đạt tới mức độ Tăng để tin tưởng. Tăng với tôi là những người đã ngộ thành đạo. Mà người ngộ chỉ có thể là Bồ tát và tổ.

16.1.2 Dâng hương.
Trong khoá hư lục, vua Trần Thái Tông có những bài kệ dâng hương, dâng hoa rất hay. Nhưng bản chất của dâng hương dâng hoa là thành kính, vì thế ta hoàn toàn có thể dâng hương hoa bằng niệm ở trong lòng. Hoặc luôn giữ lòng thành kinh. Giữ lòng thành kinh có nghĩa là dâng hương hoa. Đi vãn cảnh chùa, làm công đức « giọt dầu », thành kính lễ phật cũng là dâng hương hoa.

16.1.3 Sám Hối.
Trong khoá hư lục, ta cũng có thể tìm thấy những bài sám hối rất hay của vua Trần Thái Tông. Sám hối thực ra là nhẩm lại, ôn lại lý thuyết phật giáo, cho nó ngấm vào nhận thức của mình, để có thể nhìn đời qua con mắt ấy, tôi gọi là nhân sinh quan, thế giới quan. Khi ôn nhẩm lại rồi, thì từ đó có thể « ke » cách ứng sử thực hành của mình.

16.1.4 Phát Bồ đề tâm.
Đây thực ra chính là tinh tấn. Nó gồm có hai phần. phần một nhận thức được trong mỗi chúng sinh có phật tính, có tâm. Nguyện làm sáng cái tâm ấy (minh tâm kiến tính) tức là phát bồ đề tâm. Trong quyển Khoá Hư lục, vua Trần Thái Tông cũng có bài phát bồ đề tâm rất là hay.


Ở đây tôi lưu ý rằng, bằng bốn điều trên. Người ta có thể tiếp cận phật giáo đúng đắn nhất. tiếp theo sẽ dùng Thiền Kỹ thuật để tẩm bổ nó. Thì ta sẽ học thiền đầy đủ. Thiền Kỹ thuật là phần Thiên chung của cả người theo đạo Phật, hay không theo đạo Phật. Vì hiển nhiên, không theo đạo Phật người ta cũng có thể tập Thiền. Giống như người ta có thể tập Yoga như uốn dẻo, hoàn toàn mất đi cái thần của nó.

Ở trên, nói tới mỗi điều trong 4 điều, tôi đều nói rằng trong khoá hư lục đều có. Vì thế với tôi, mặc dù quyển sách được gọi là « LỤC » tức là tư liệu tài liệu, nhưng tôi nghĩ rằng nó chính là một dạng « chư kinh nhật tụng của Thiền Tông », theo như quan niệm của Vua Trần Thái Tông. Tôi không dám nói rằng nó là chư kinh nhật tụng của phái Thiền Trúc Lâm, vì con của vua, là Vua Trần Nhân Tông mới được coi là tổ của Trúc Lâm thiền phái. Và giữa thiền của vua Nhân Tông và vua Thái Tông cũng có khác biệt. Thiền của vua Trần Thái Tông gần gũi với phật giáo Ấn độ hơn, giống như tông thiền Quán Bích của tì ni đà lưu chi. Còn Thiên của vua Nhân Tông, ta vẫn biết nó từ Thiền Vô ngôn Thông tách ra, và như vậy « trung hoa » hơn.
(còn tiếp)


--------------------
Tả Thiên Thanh



User is offlineProfile Card
Go to the top of the page
+
« Bài viết cũ hơn · Thiền Học & Tôn Giáo · Bài mới tiếp theo »
 

6 Trang « < 4 5 6
Topic Options
2 người đang chống cằm trầm tư ngâm cứu chủ đề này (2 khách vãng lai và 0 thầy mo tàng hình)
0 Thành viên:
 

Xem diễn đàn ở dạng TEXT - PDA - Pocket PC