Chào bác, trông cái mặt bác quen quen ( Đăng nhập | Đăng ký tạm trú )

32 Trang « < 30 31 32 

· [ ] ·

 Yanutkovitch Kẻ Bất Tài được Việc Iv, Bàn chuyện thời sự linh tinh, ăn cơm nhà vác tù và hàng

Phó Thường Nhân
post Jun 18 2018, 09:12 PM    
Đường dẫn tới bài viết này #311

Tả Thiên Thanh
Group Icon

Nhóm: Chánh tổng
Số bài viết: 5.076
Tham gia từ: 11-August 02
Thành viên thứ: 133

Tiền mặt hiện có : 35.451$
Số tuần chưa đóng thuế : 4

Bình chọn :



Như vậy tâm lý « bị đồng hoá », « bị xâm thực » ở đây không có cái đế trong lịch sử. Như tôi đã nói ở trên. Nhưng tâm lý xã hội, tâm lý dân tộc là một phạm trù độc lập, không phụ thuộc vào bằng chứng lịch sử mà phụ thuộc vào cảm nhận của xã hội vào một thời điểm. Ở đây tôi không gọi nó là lòng yêu nước, mà là « tiền tâm lý », từ cái « tiền tâm lý » này nó có thể dẫn tới lòng yêu nước, tâm lý yêu nước. Nhưng nó cũng có thể bị bẻ ngoặt đi theo hướng khác, giống như một dạng kiếm cớ. Muốn biến nó thành lòng yêu nước, thì nó phải có phân biệt đúng sai, nhận thức rõ ràng. Điều mà trong quan hệ VN – TQ nó rất lờ mờ, do TQ đóng nhiều vai một lúc, khiến cái tâm lý này rất dễ bị lợi dụng, và đang bị lợi dụng. Tôi kể ra một số « vai » của TQ như sau trong tâm lý VN như sau :
1- TQ là mối đe doạ với VN. Điều này đúng trong vấn đề biển đảo. Người nào lờ đi điều này thì có thể gọi là hữu khuynh.
2- TQ là con ngáo ộp. Điều này thì không đúng. Bởi nếu TQ là mối đe doạ trong vấn đề biển đảo, thì họ cũng là một nước láng giềng mà VN không thể không quan hệ. Nếu người ta chỉ nhìn thấy TQ là con ngáo ộp thì tức là tả khuynh. Đây chính là cái điều mà lề trái muốn đưa người ta vào.
3- TQ là cái bung xung. Ở đây vấn đề không phải là TQ, mà TQ được mang ra một cách lệch lạc để biện hộ cho một chuyện gì đó, dựa vào tâm lý « chống TQ » tự nhiên của xã hội. Câu chuyện đặc khu có thể xếp vào thể loại này. Nhưng do cả « quân đỏ » ngậm hột thị lúng búng nói năng phản cảm, như che dấu một cái gì đó, rồi « quân xanh » (loại như ông Dương Trung Quốc) lại chuyển tải cái tâm lý này theo chiều lông chân của dư luận mà không làm rõ, khiến cho TQ thành cái bung xung.
4- TQ là cái cớ dân tuý để lấy lòng sự ủng hộ của dư luận xã hội. Đây là điều mà mọi nhân vật chính trị VN rất dễ sử dụng để lấy lòng dư luận, để chạy tội, che dấu một điều gì đó nhất là khi đang đấu đá nhau cần sự ủng hộ.
5- TQ là cái « cửa thoát hiểm » xì hơi của một vấn đề xã hội nào đó, mà người ta bị ức chế không nói ra được. Hành động này nó đi theo cái lô gíc sau. Khi người ta bựctức vì một vấn đề nào đó, do sự phản cảm trong ứng sử giải quyết của chính quyền, nhưng không phản ứng được. Câu chuyện TQ khiến chính quyền mất hẳn chính danh, từ đó trở thành cái cớ để người ta phản ứng. Vấn đề là chuyện A, nhưng cái cớ xì ra, làm nó bùng nổ là chuyện B.


--------------------
Tả Thiên Thanh



User is offlineProfile Card
Go to the top of the page
+
Phó Thường Nhân
post Jun 19 2018, 09:41 PM    
Đường dẫn tới bài viết này #312

Tả Thiên Thanh
Group Icon

Nhóm: Chánh tổng
Số bài viết: 5.076
Tham gia từ: 11-August 02
Thành viên thứ: 133

Tiền mặt hiện có : 35.451$
Số tuần chưa đóng thuế : 4

Bình chọn :



Sau phiên họp quốc hội, từ Tổng bí thư, chủ tịch nước, chủ tịch quốc hội, thủ tướng đều có cuộc gặp mặt với cử tri, thực ra là một dịp để thông báo, tổng kết, cũng như phản ánh « tâm tư nguyện vọng » của tứ trụ triều đình, và thông qua đó, ví dụ như với tôi, là để tìm hiểu xem họ quan niệm thế nào về những sự việc đã xẩy ra. Ở đây tôi chỉ nói tới hai người, đó là chủ tịch quốc hội và Tổng bí Thư.
Theo như chủ tịch quốc hội, thì việc nhân dân phản ánh và phản đối luật đặc khu thể hiện lòng yêu nước đáng hoan nghênh, nhưng bà cũng khẳng định lại là nhà nước VN vì truyền thống của nó không bao giờ có chuyện bán nước, làm nguy hại tới lợi ích dân tộc. Cách nói như vậy là chuẩn, nhưng lại cần chỉnh. Chỉnh cái gì ? tất nhiên với cương vị là chủ tịch quốc hội, hiển nhiên bà phải thấy hoạt động của quốc hội là để ích nước lợi dân. Nhưng vì bà là chủ tịch quốc hội, thì điều này là hiển nhiên, chẳng nhẽ chủ tịch quốc hội lại nói Quốc hội làm luật bán nước, ngay cả với những quốc hội bù nhìn nó cũng không tự nhìn được nó là bù nhìn, giống như quốc hội Sài gon ngày xưa, giống như một người không thể tự nhìn thấy gáy mà phải dùng gương phản chiếu.
Như vậy cái lý do truyền thống yêu nước, dù đúng (vì quốc hội VN hiện tại không phải quốc hội bù nhìn), nhưng cũng không đủ để đánh tan nhưng nghi ngờ của dư luận. Vì thế cái điều cần chỉnh là nói rõ ràng ra tại sao lại muốn cái điều luật như thế ? ai đưa nó ra ? và nó có lợi ích gì ? Chứ không thể đòi hỏi người ta tin tưởng chung chung. Nếu mà không đi vào cụ thể, thì việc dư luận, xã hội tiếp tục bị lề trái lừa gây rối loạn là hiển nhiên, và sẽ tiếp tục. Phải nói thêm rằng, hiện tại dư luận có xu hướng nghi ngờ là chính (chứ không phải tin tưởng là chính), vì thế phải đi vào cụ thể, đi vào kỹ thuật, có dẫn chứng rõ ràng, chứ không thể nói chung chung được. Tôi gọi là duy vật biện chứng.
Tổng bí thư thì nói rằng, câu chuyện đặc khu này đã có từ lâu, ý tưởng từ thủ tướng Võ Văn Kiệt, và cũng đã được quốc hội chuẩn bị cẩn thận, nhưng việc xẩy ra đã thấy nó không được chuẩn bị cẩn thận, bằng chứng là cả ông bộ trưởng phải bảo vệ nó, đến ông phản biện đều không làm được đầy đủ phận sự của mình. Ông phản biện thì ăn theo tâm lý lề trái, ông bảo vệ thì lúng búng như ngậm hột thị. Đến cả phó thủ tướng cũng không thể chỉ ra lợi hại nó thế nào thì không thể nói là chuẩn bị tốt được.
Cố thủ tướng Võ văn Kiệt, đúng là có nhiều đóng góp cho sự phát triển kinh tế của đất nước, nhưng từ thời kỳ của ông đến nay, nước chẩy bèo trôi đã lâu, những điều bác Kiệt nói không phải là lời của chúa Giê Xu, hay là Phật nên luôn luôn đúng. Ngoài việc hoàn cảnh, tình hình thay đổi, bác Kiệt cũng không còn, cho nên việc mượn cớ bác Kiệt thực ra là không ổn. Nhưng chính vì Tổng Bí Thư nói tới bác Kiệt, nên tôi cũng nhân đây phân tích tư duy kinh tế của bác Kiệt từ đâu mà ra, lợi hại thế nào. Nó cũng chính là bức tranh kinh tế VN.
Từ năm 1975, đất nước thống nhất, mặc dù nó là thắng lợi của cách mạng Việt Nam, bất cứ cuộc thống nhất nào cũng là một sự hợp lưu. Có nghĩa là những nhận thức của hai thể chế chế độ, bất chấp bản chất chính trị của nó là gì, đặc biệt là về kinh tế văn hoá, sẽ đan xen vào nhau, tạo ra cái mới. Như một dạng con lai. Ở VN điều này lại càng rõ rệt hơn, bởi sau đó hệ thống XHCN kiểu cũ mà nước VN là một bộ phận tan rã, kéo theo hình thái kinh tế tập trung của nó thì sự hội nhập trở lại của VN đầu tiên vào vùng ĐNA, rồi châu Á, rồi thế giới, đã đưa cái mô hình kinh tế thị trường trở lại. Nhưng kinh tế thị trường kiểu nào. Chính là kinh tế thị trường kiểu Sài gòn cũ, vì ở VN người ta chỉ biết có nó thôi. Chính bác Kiệt, rồi các bác khác như cố tổng bí thư Nguyễn Văn Linh đưa nó vào, với sự đồng thuận của cố Tổng Bí Thư Trường Chinh cũng như kinh nghiệm khoán ở Phú thọ cũ. Như vậy kinh tế thị trường ở VN có ba nguồn dẫn tới.
1) Với bác Trường Chinh, kinh tế thị trường có lý thuyết từ Lê nin (với chính sách kinh tế mới, người ta vẫn gọi là NEP-New economic politics, thời sau nội chiến ở Liên Xô, do Lê nin đưa ra (1922) và bị xoá vào những năm 30) cộng với kinh nghiệm cải cách ở TQ từ khi có Đặng Tiểu Bình lên.
2) Với các bác như Võ Văn Kiệt, Nguyễn văn Linh thì hình mẫu của nó chính là kinh tế thị trường vốn có ở miền Nam, trong vùng quản lý của chính quyền Sài gòn cũ, nơi họ hoạt động và chỉ đạo cách mạng, kháng chiến chống Mỹ.
3) Trước đó vấn đề trì trệ của nông nghiệp tập thể hợp tác xã, đã được ông Ngọc, bí thư tỉnh uỷ Phú thọ giải quyết bằng chính sách khoán sản phẩm. Nhưng do thời cơ chưa tới, lúc đó chưa thực hiện được. Sau này có hẳn phim truyền hình VN về câu chuyện này, nhưng đáng tiếc là tôi không xem được.
Với điều 1) người ta đã giải quyết sự bất cập về mặt nhận thức và lý thuyết, vì cho đến những năm 80, chủ nghĩa xã hội gắn liền với kinh tế bao cấp, tập thể theo mô hình Liên Xô. Vì thế nó chỉ có tác dụng tạo ra sự đồng thuận trong hệ thống chính trị, chứ giá trị thực sự trong thực tế không nhiều.
Với điều 2) thì khác hẳn, đây chính là hình mẫu kinh tế thị trường được áp dụng ở đô thị trong các lĩnh vực thương mại, công nghiệp.
Với điều 3) thì nó có tác dụng thị trường hoá nông thôn. Thay đổi cách quản lý nông nghiệp. Các hợp tác xã kiểu cũ bị xoá bỏ.
Tôi chỉ tập trung phân tích điều hai, vì nó có tác dụng rất quan trọng tới nhận thức phát triển ở VN, bởi nó tác động tới công nghiệp, thương mại, cách thức quản lý thị trường với tất cả những bất cập của nó. Nó là cái dớp, mà hiện nay VN phải vượt qua, nếu muốn trở thành một nước công nghiệp hoá phát triển.
Như vậy có thể hiểu rằng nhà nước VN thống nhất là đứa con lai, hợp lưu giữa một hệ thống chính trị hành chính ra đời và được tôi luyện trong cách mạng giải phóng dân tộc, và một cách thức làm ăn thị trường theo nhận thức của Sài gòn cũ.
Như vậy, một phần những thành công mà kinh tế VN đạt được từ sau khi thống nhất đến nay, là do đã sử dụng được cái tư duy kinh tế thị trường này nhờ có được một cái khung chính trị ổn định, có chủ quyền. Cho đến nay, lợi thế chính trị này vẫn không bị mất, vì so với các nước đang phát triển, chính sách chính trị ngoại giao của VN vẫn là số một. Ngược lại tác động qua lại giữa hệ thống chính trị này và tư duy thị trường kiểu Sài gòn cũ lại bất cập. Và ở giai đoạn này, nếu không nhận ra những bất cập của nó thì sẽ dẫm chân tại chỗ.
Tôi nói một phần thành công, bởi vì còn có những phần khác nữa. Như, tư duy xã hội chủ nghĩa cũ cũng để lại cho VN những thành quả quan trọng, và vẫn là hạt nhân của nền kinh tế VN. Ví dụ như dầu khí, năng lượng, Thuỷ điện,.. Hiện nay phần kinh tế hạt nhân do nhà nước nắm vẫn tương đương với phần FDI (mỗi bên 20% PNB). Nhưng cái phần này người ta ít nhận ra, vì bằng trực quan, dư luận đánh giá sự thành công của kinh tế qua khả năng họ tiêu thụ, qua điếu thuốc lá, lon bia,..chứ không ai nghĩ tới cấu trúc kinh tế, an ninh năng lượng..v..v... Chính vì thế mà có tư duy gán cho cái tư duy kinh tế thị trường kiểu Sài gòn là duy nhất.
Kinh tế thị trường kiểu Sài gòn là gì ? đó là tư duy kinh tế thị trường đã có từ thời thuộc địa. Nó không phải là tư duy kinh tế thị trường của một nước độc lập, mà là sự méo mó của một nền kinh tế thị trường bị Mẫu Quốc chèn ép. Nó rất năng động, nhưng lại rất cò con. Tư duy chủ yếu là đánh quả (ví dụ để ăn cắp ăn trộm tiền viện trợ Mỹ). Nhằm vào những ngành nghề mà Mẫu quốc bỏ lại, do quá manh mún, chủ yếu là công nghiệp nhẹ, gia công, ít có chất xám, mang tính dịch vụ lấy công làm lãi. Do không thể tác động tới hệ thống chính trị (của Pháp, rồi Mỹ) để tạo ra một cấu trúc kinh tế hoàn chỉnh (vì đây là phần mà thực dân Pháp, rồi Mỹ nắm), nên nó chỉ có cách là hối lộ hệ thống chính trị. Mà hệ thống chính trị của nó lại là hệ thống chính trị phụ thuộc (huặc chính quyền thực dân Pháp, huặc chính quyền VNCH, mà hạt nhân của nó là ý thức hệ phong kiến rơi rớt lại (Ngô đình Diệm), hay một nhóm quân phiệt tay sai Mỹ (Nguyễn văn Thiệu)). Nhưng chính cái kiểu hoạt động này mà nó lại hợp lưu được với hệ thống chính trị VN hiện tại, thông qua tham nhũng, để hai bên kết hợp được với nhau.
(còn tiếp).


--------------------
Tả Thiên Thanh



User is offlineProfile Card
Go to the top of the page
+
Phó Thường Nhân
post Hôm qua, 09:12 PM    
Đường dẫn tới bài viết này #313

Tả Thiên Thanh
Group Icon

Nhóm: Chánh tổng
Số bài viết: 5.076
Tham gia từ: 11-August 02
Thành viên thứ: 133

Tiền mặt hiện có : 35.451$
Số tuần chưa đóng thuế : 4

Bình chọn :



Trước khi viết tiếp về những cái lởm khởm của dạng « kinh tế thị trường VN » này, tôi sẽ nói một tí về lý thuyết, để mọi người có thể tiếp cận nó dễ dàng hơn. Tôi là người theo chủ nghĩa Mác-Lê nin, nên tất nhiên về mặt xã hội, tôi phân tích theo khía cạnh giai cấp, cũng như rất quan tâm tới vấn đề xã hội do kinh tế đưa lại. Như tôi đã nói trong chủ đề « 200 năm sinh nhật Mác », tôi rất quan tâm tới ăng ghen, vì chính ông đã tìm ta mối liên quan tác động của kinh tế lên thể chế xã hội, tác động vào văn hoá, lịch sử. Tác phẩm « nguồn gốc của gia đình tư hữu và nhà nước » của Ăng ghen là điển hình của cách nghiên cứu kinh tế tác động lên hình thái xã hội. Nhưng nếu đã theo duy vật biện chứng, và duy vật lịch sử dùng làm phương pháp phân tích, thì người ta có thể hiểu dễ dàng rằng quan hệ kinh tế với xã hội tập tục văn hoá không chỉ có một chiều từ kinh tế (kiến trúc hạ tầng) tác động vào xã hội văn hoá(kiến trúc thượng tầng), mà bản thân xã hội văn hoá cũng tác động lại vào kinh tế thông qua cách ứng sử, thái độ làm ăn, quan niệm sinh sống, những mặt mà người ta có thể coi vào phạm trù ethics, esthetics là những giá trị về đạo đức, ứng xử. Người đầu tiên nói tới điều này là Max Weber, người đã nghiên cứu tác động của đạo tin lành có ảnh hưởng đến cách làm ăn kinh tế, mà theo ông ta, chính đạo này đã tạo nên chủ nghĩa tư bản, hình thức kinh tế tư bản chủ nghĩa, giờ được gọi là kinh tế thị trường. Tôi không theo Max Weber tới mức coi chủ nghĩa tư bản là biến thể của đạo tin lành, nhưng tôi chấp nhận giá trị văn hoá đạo đức của một xã hội, sẽ tác động ngược trở lại vào kinh tế. Làm kinh tế, thực ra cũng là một hình thức ứng sử, tính toán để mang lại lợi nhuận. Mà đã nói tới ứng xử tức là nói tới văn hoá. Như vậy nhìn ra sự yếu kém của cách ứng sử này thế nào, tức là cũng tìm ra sự yếu kém của tư duy kinh tế. Hiện nay, tất cả các nước phát triển G7 đều theo chủ nghĩa tư bản, nhưng tư bản từng nước không giống nhau, do ảnh hưởng của tôn giáo, tập quán, nhận thức lịch sử,.. khác nhau.

Bây giờ quay trở lại với « kinh tế thị trường VN ». Từ khi đổi mới, thì hình thái « kinh tế thị trường kiểu Sài gòn » này dần dần lan rộng ra cả nước, và trở thành tư duy kinh tế thị trường ở VN. Tôi gọi là « kinh tế thị trường kiểu Sài gòn » là để tôn trọng sự phát nguyên của nó, chứ bây giờ ở mọi miền tổ quốc, đây là cách ứng xử chủ yếu. Tất nhiên, từ khi đổi mới, thì còn phát sinh ra « tư bản thân hữu », nhưng tư bản thân hữu có nhiều yếu điểm hơn, do thân hữu không có nghĩa là biết làm ăn, còn biết phá thì chắc chắn. Nhưng nó lại là cái cửa để tiếp nhận tham nhũng, từ kinh tế thị trường kiểu Sài gòn. Và nhiều khi nó kết hợp với nhau. Gần đây, trên báo chính thống VN, có đăng chuyện nhà máy tơ sợi ở Hải Dương (cùng trong vụ Đinh La Thăng), và người ta có thể thấy, tư nhân kiểu « thị trường Sài gòn » mua « tư bản thân hữu » bằng cổ phần của hãng cùng nhau lập ra. Hình thức tham nhũng qua biếu cổ phần không hiếm trong kinh tế VN. Vụ AVG (An viên group) đang bị lôi ra lại cho ta thấy một điều nữa. Đó là hãng nhà nước (Mobile phone) mua với giá khống công ti tư nhân (cái kênh An viên giá thật có lẽ chỉ 1,2 ngàn tỉ, sống ngất ngư chẳng biết có sinh lãi không, nhưng nó được mua với giá 8 nghìn tỉ, sự chênh lệch chắc chắn để chia nhau, trước khi nó được đưa ra để cổ phần hoá theo chính sách nhà nước. Như vậy chuyện gì sẽ xẩy ra. Với giá mua ấy, cách làm kinh tế (đểu cố tình) ấy, thì Monbile phone nhất định sẽ càng lỗ, càng lỗ thì giá cổ phần bán ra càng giảm. Đây là một cách để kéo giá xuống, mua với giá hời. Và nếu những kẻ đã quyết định biểu quyết mua AVG kia cũng là những chủ đầu tư mới, thì đây chỉ một cách chuyển hoá tiền nhà nước vào túi tư nhân (tiền họ chia nhau lúc biểu quyết dùng tiền nhà nước mua An Viên, sẽ được dùng để mua lại với giá rẻ do Mobilephone lụn bại bởi chính họ gây ra) . Một chuyện khác có thể xẩy ra, đó là nếu kẻ mua là người nước ngoài (thấy báo nói có hãng Thuỵ điển muốn mua), tất nhiên nó sẽ yêu cầu nhà nước ôm cái phần lỗ, chỉ có phần làm ra lãi, hoặc phần nó quan tâm thì nó mới mua. Trong trường hợp này, tiền chênh lệch các ông chia nhau rồi xù, chính là tiền nhà nước phải chi ra để bù. Hiện nay phi vụ này đã đổ bể, phải hoàn tiền. Nhưng cái cơ chế kiểu này không phải đã bị triệt phá. Ở đây ta lại thấy xuất hiện thêm một hình thức tư bản với một văn hoá mới nữa. Đó là văn hoá đập phá thời Liên Xô cũ ở Nga ở UK mang về, phá được cái gì thì phá, xẻ được cái gì thì xẻ. Mà bố đẻ của nó là những tài phiệt UK đang dẫn nước này tới chỗ suy sụp.
(còn tiếp)


--------------------
Tả Thiên Thanh



User is offlineProfile Card
Go to the top of the page
+
« Bài viết cũ hơn · Thời Sự · Bài mới tiếp theo »
 

32 Trang « < 30 31 32
Topic Options
3 người đang chống cằm trầm tư ngâm cứu chủ đề này (3 khách vãng lai và 0 thầy mo tàng hình)
0 Thành viên:
 

Xem diễn đàn ở dạng TEXT - PDA - Pocket PC