Chào bác, trông cái mặt bác quen quen ( Đăng nhập | Đăng ký tạm trú )

2 Trang < 1 2 

· [ ] ·

 Lý Thuyết Tổ Chức Nhà Nước, copy từ FB

NVT2002
post Sep 23 2020, 04:13 PM    
Đường dẫn tới bài viết này #11

Thiên hạ cãi nhau vô địch thủ
Group Icon

Nhóm: Lý trưởng
Số bài viết: 1.937
Tham gia từ: 21-August 02
Thành viên thứ: 203

Tiền mặt hiện có : 57.945$
Số tuần chưa đóng thuế : 10

Bình chọn :



TỔNG THỐNG CHẾ, ĐẠI NGHỊ CHẾ VÀ BÁN TỔNG THỐNG CHẾ (Phần cuối)
Trong phần cuối, chúng ta cùng đi vào phân tích Bán tổng thống chế ở Pháp, thông qua các đặc điểm, quá trình phát triển và mối liên hệ giữa các nhánh quyền lực. Để không làm đứt mạch người đọc, bài này sẽ không chia làm hai phần nhỏ như các bài trước. Vì vậy bài sẽ hơi dài, cộng thêm một số ý đã nói ở các phần trước không được nhắc lại, người đọc lưu ý theo dõi.
P/S: Do mình là người học luật bằng tiếng Tây Ban Nha, nên sẽ có một số chỗ mình dịch ra tiếng Việt không hay hoặc thậm chí không đúng. Mong các bạn góp ý. Bài viết đơn thuần là lý thuyết pháp lý (lý thuyết về nhà nước và pháp luật, luật hành chính và luật hiến pháp), không mang yếu tố chính trị.
Bài viết được biên dịch dựa trên bài gốc của TS. Ricardo Espinoza Toledo trong bài
``Sistemas Parlamentario Presidencial Y Semipresidencial``, México, 2000
Chúng ta cùng đi đến phần 4, phần cuối cùng trong series nhé !
Phần 4: Bán tổng thống chế ở Pháp
Tổng thống chế và Đại nghị chế là hai thể chế cơ bản, bởi chiều dài lịch sử phát triển của nó. Đây là hai hệ thống được nghiên cứu kĩ trong khoa học chính trị. Tuy vậy, trong thế kỉ XX, đã xuất hiện một thể chế thứ ba, được tích hợp các nguyên tắc của cả hai thể chế đi trước. Thể chế Bán tổng thống hay hỗn hợp, được xây dựng và phát triển theo một cách khác hoàn toàn so với Tổng thống chế và Đại nghị chế. Trong hệ thống này, sự phân chia quyền lực (Division of Powers) phức tạp hơn nhiều hai hệ thống còn lại, bởi nhánh Hành pháp (Executive) và Lập pháp (legislative) đồng thời vừa tách biệt và vừa thống nhất.
1. Đặc điểm cơ bản
Trong hệ thống này, Tổng thống (President) có vai trò độc lập, nhưng chia sẻ quyền lực với một thủ tướng (Prime minister). Vì vậy, quyền Hành pháp được chia ra thành Người đứng đầu quốc gia – Tổng thống Cộng hòa, và một Người đứng đầu Chính phủ - Thủtướng. Mỗi một người được nhà nước lựa chọn theo cách khác nhau: trong khi Tổng thống đến từ một cuộc bầu cử phổ thông, thì Thủ tướng được số đông Nghị viện chọn. Thủ tướng phải người được chỉ định phải tuân theo đảng phái đa số hoặc liên minh đa số trong Nghị viện. Vì vậy, có thể nói, Thủ tướng phải đối mặt với các thách thức chính trị hàng ngày, còn Tổng thống thì ít hơn. Tổng thống giữmột mối quan hệ khá là yên bình với những người đứng đầu các đảng phái đối lập, và thường có xu hướng thỏa hiệp hoặc thương lượng với lực lượng đối lập.
Tổng thống có chức năng chính là đảm bảo các hoạt động bình thường của các cơ quan tổ chức, điều chỉnh chính sách đối ngoại, ngoại giao và quốc phòng. Thủ tướng có nhiệm vụ điều chỉnh các chính sách trong nước và kinh tế. Ở chiều ngược lại, Nghị viện được chia làm hai Viện. Cả Tổng thống và Nghị viện đều được lựa chọn từ cuộc bầu cử phổ thông: Nghị viện không phụ thuộc vào Tổng thống cũng như Tổng thống cũng không phụ thuộc vào Nghị viện. Chính phủ được thành lập từ Nghị viện và Nghị viện có thể bị giải tán bởi Tổng thống.
Có thể nói rằng, Bán tổng thống chế áp dụng cùng lúc các nguyên tắc của Tổng thống chế và Đại nghị chế sau: a) Người đứng đầu Nhà nước – Tổng thống được bầu cử phổthông trực tiếp hay gián tiếp, với một nhiệm kì nhất định và b) Tổng thống chia sẻquyền Hành pháp với một Thủ tướng, thiết lập một cấu trúc chính quyền song song (dual authority) với các đặc điểm sau:
1) Tổng thống độc lập với Nghị viện, nhưng không thể điều hành một mình trực tiếp, kết quả là Tổng thống phải phối hợp với Chính phủ của mình để đưa ra các quyết định
2) Ở khía cạnh khác, Thủ tướng và nội các của mình độc lập với Tổng thống bởi họphụ thuộc vào số đông Nghị viện, và phải đối mặt với các cuộc bỏ phiếu không tín nhiệm (Motion of no confidence) và bỏ phiểu bất tín nhiệm (Motion of censure)
3) Cấu trúc chính quyền song song cho phép Bán tổng thống chế cân bằng quyền lực các nhánh, cũng như cho phép sự phân chia quyền lực diễn ra trong chính nhánh Hành pháp.
Trong hệ thống này, việc giải tán Nghị viện (Dissolution) là một vũ khí trong tay Tổng
thống. Tổng thống giải tán Nghị viện trên cơ sở những tính toán chính trị bởi, mặc dù không có các điều kiện hay hạn chế để giải tán, Tổng thống chỉ sử dụng quyền này trong các tình huống chính trị để tìm kiếm sự ủng hộ số đông cho các chính sách của mình.
Bài viết tập trung nghiên cứu thể chế bán Tổng thống của Pháp, nơi sản sinh ra thể chế
này.Tuy nhiên, cần phải ghi nhớ rằng tuy thể chế giống nhau nhưng ở mỗi quốc gia lại
có những đặc điểm riêng biệt, phụ thuộc lịch sử, văn hóa và sự phát triển chính trị của
từng quốc gia dân tộc.


--------------------
Nguyễn Văn Thanh



User is offlineProfile Card
Go to the top of the page
+
NVT2002
post Sep 23 2020, 04:14 PM    
Đường dẫn tới bài viết này #12

Thiên hạ cãi nhau vô địch thủ
Group Icon

Nhóm: Lý trưởng
Số bài viết: 1.937
Tham gia từ: 21-August 02
Thành viên thứ: 203

Tiền mặt hiện có : 57.945$
Số tuần chưa đóng thuế : 10

Bình chọn :



2. Lịch sử phát triển và cấu trúc
Tất cả các kinh nghiệm lịch sử trước kia của Pháp, đã được tổng hợp lại để xây dựng nên một nguyên tắc mới trong việc tổ chức các quyền lực chính trị. Và kết quả là sự ra đời của Đệ ngũ Cộng hòa Pháp (French Fifth Republic), cũng như của thể chế hỗn hợp, vào năm 1958.
Vấn đề mà người Pháp phải đối mặt sau Thế chiến thứ hai chính là việc nghiên cứumột thiết kế chính quyền mà cho phép tìm kiếm sự đồng thuận và tránh việc phân cực không chỉ trong chính trị mà còn trong xã hội. Kết luận quan trọng nhất dọc sự tồn tại của Đệ Tứ Cộng hòa chính là việc cấu trúc quyền lực hiện tại cho phép phân cực trong Nghị viện, hay nói cách khác, sự chuyên chế của các đảng phái (Particracy). Người Pháp không phải đang tìm kiếm một nền dân chủ vô chính phủ, mà là một thể chế mà không cho phép chính phủ áp đặt lên xã hội. Đệ tứ Cộng hòa Pháp được hình thành sau Thế chiến, nhưng không đạt được sự ổn định chính trị.
Charles De Gaulle, anh hùng dân tộc trong Thế chiến thứ hai, một mình nghĩ ra ý tưởng. Từ những giây phút đầu của Đệ tứ Cộng hòa, đã xuất hiện những chỉ trích gay gắt dành cho hệ thống Nghị viện mà ở đó, có sự thống trị tuyệt đối của các đảng phái. Hơn nữa, tồn tại thêm một vấn đề: các đảng phải dần dần quên đi nhiệm vụ của họ, đại diện cho dân chúng, điều này đã dẫn đến các câu hỏi xung quanh chất lượng của nền dân chủ đại diện, khi mà tồn tại một lỗ hổng lớn trong xã hội.
Vấn đề nằm ở việc là việc cai trị. Đệ tứ Cộng hòa là một Đại nghị chế cực đoan, khi mà
Chính phủ phải tuân theo các đảng phái. Một trong các khía cạnh mà De Gaulle đã chỉ ra chính là việc thiếu đi một cơ chế cho phép đảm bảo việc hoạt động binh thường của các cơ quan tổ chức, với khả năng kiểm soát, thiết lập lại trật tự, nhưng cũng cần thiết phải tuân theo quyết định và ý kiến của các tổ chức chính trị. Một cơ chế mới được hình thành cho phép Đệ ngũ Cộng hòa cân bằng được sức mạnh của Nghị viện bằng một Nguyên thủ Quốc gia độc lập hoàn toàn với nó. Khác với các hệ thống Nghị viện, Tổng thống được bầu cử phổ thông, song song với một Thủ tướng được Nghị viện
chọn.Một trong các đặc điểm của Đệ ngũ Cộng hòa chính là việc Nguyên thủ quốc gia có tính chính danh (Legitimacy). Đó không phải là một chức vụ được thừa kế hay mang tính
biểu tượng như ở Anh quốc, mà được lụa chọn trong cuộc bầu cử phổ thông. Với điều này, thiết kế thể chế của Đệ ngũ Cộng hòa đã sử dụng các nguyên tắc riêng của thểchế Tổng thống.
Cũng như tất cả các chế độ dân chủ khác, trong thể chế hỗn hợp Pháp tồn tại hệ thống Lưỡng viện (bicameralism): một Thượng viện (Senate) và một Hạviện – gọi là Quốc hội (National Assembly), hình thành nên Nghị viện Pháp, nơi nắm quyền Lập pháp. Hai viện được hình thành dựa trên bầu cử phổ thông. Điều này giống với các đặc điểm của Đại nghị chế (trừ Anh quốc)
Dưới góc nhìn chức năng hoạt động, người Pháp muốn thiết kế một chế độ Tổng thống
hơn là Đại nghị. Về cơ bản, Đệ ngũ Cộng hòa thừa hưởng thiết kế thể chế của một nhánh Hành pháp mạnh, nhưng không Đơn đầu như ở Mỹ (monocephalous) Với một Tổng thống được bầu cử phổ thông trực tiếp, Nghị viện không có khả năng kiểm soát các hoạt động của Tổng thống cũng như không thể phế truất. Mặc dù vậy, Tổng thống lại có quyền giải tán Nghị viện. Đây chính là phương thức mà qua đó ngăn cản sự thống trị của các đảng phái, cũng như cho phép xây dựng một số đông gắn kết.
Tổng thống có khá nhiều uy quyền bởi, trên tất cả, Hiến pháp gửi gắm vào ông ta chức năng cơ bản, chính là theo dõi, đảm bảo các cơ quan tổ chức hoạt động bình thường. Khả năng giải tán Nghị viện cho phép Tổng thống được hoạt động đúng vai trò của nó. Hiến pháp Pháp cũng thiết lập một số cơ chế cho phép Tổng thống kiểm soát Nghịviện. Chúng ta có thể thấy qua trường hợp kinh điển xảy ra trong lịch sử Đệ ngũ Cộng hòa: vào năm 1981 và 1988, Francois Mitlerrand trở thành Tổng thống Pháp, ông ta đã giải tán Quốc hội và tiến hành cuộc bầu cử mới, với lí do đơn giản là trong các cuộc bầu cử trung gian đã diễn ra, số đông Nghị viện đã được hình thành bởi sự liên minh của các đảng phái trung hữu, đối lập với đảng Xã hội thiên tả của chính ông.
Nghị viện chỉ định Chính phủ, trừ Tổng thống. Nghị viện cũng có quyền giải tán Chính phủ, hay nói cách khác, bất tín nhiệm. Chính phủ luôn bị kiểm soát bởi số đông Nghịviện. Số đông này có thể được hình thành bởi một đảng phải hay liên minh của nhiều đảng. Ở Pháp, số đông Nghị viện thường là kết quả của một liên minh các đảng phái, cánh tả hoặc cánh hữu.
Quốc hội Pháp (Hạ viện) có 577 thành viên, nhiệm kì 5 năm và có thể được tái nhiệm.
Ở Pháp, hệ thống bầu cử cũng là hệ thống đa số, nhưng hai vòng. Ở vòng đầu, nếu không có đảng phái nào dành được hơn 50% số phiếu thì sẽ diễn ra vòng hai với hai đảng phái dành được nhiều phiếu nhất. Điều này cũng áp dụng tương tự cho bầu cửTổng thống. Hệ thống đa số hai vòng khiến ứng viên dành chiến thắng luôn nhận được nhiều hơn 50% số phiếu ủng hộ. Quốc hội Pháp có chức năng bỏ phiếu các dự luật, hình thành và giám sát Chính phủ.
Thượng viện Pháp có 348 thành viên, nhiệm kì 6 năm, nhưng sau mỗi 3 năm sẽ bầu lại một nửa theo hình thức gián tiếp (thông qua các đại cử tri). Thượng viện, khác với Quốc hội, không thể bị giải tán bởi Tổng thống. Các thượng nghị sĩ được lựa chọn thông qua một đại cử tri đoàn (Electoral College). Thượng viện Pháp thường khá là bảo thủ, bởi trên thực tế họ đại diện cho tầng lớp giàu có ở các địa phương. Mặc dù là bầu gián tiếp, nhưng vẫn thông qua hai vòng, với một danh sách được trình lên bởi mỗi
đảng phái. Thượng VIện Pháp, cũng giống ở Anh, tham gia vào quá trình bỏ phiếu các
dự luật, nhưng với chức năng thứ yếu – chức năng chính thuộc về Quốc hội hay Hạviện. Mặc dù có khả năng kiểm soát các hoạt động của Chính phủ, nhưng Thượng viện không tham gia vào quá trình hình thành cũng như có khả năng giải tán Chính phủ.
Ở Pháp tồn tại một cơ quan giống như Tối cao Pháp viện ở Hoa Kỳ: Hội đồng Bảo Hiến
(Constitutional Council). Là một cơ quan với 9 thành viên, nhiệm kì 9 năm và không được tái nhiệm. 3 người được chỉ định bởi Tổng thống, 3 người bởi Chủ tịch Quốc hội, và 3 người còn lại bởi Chủ tịch Thượng viện. Các cựu Tổng thống là thành viên suốt đời của Hội đồng, mặc dù chẳng bao giờ tham gia.
Chủ tịch Hội đồng Bảo Hiến được chỉ định trong 9 người bởi Tổng thống. Một trong các
nhiệm vụ của Hội đồng là giám sát bầu cử. Ngoài ra còn tiến hành và giám sát một cuộc trưng cầu dân ý (referendum) về một đạo luật, đề án cải cách chính quyền, các vấn đề liên quan đến Liên minh Châu Âu, v.v. Cuộc trưng cầu dân ý được quyết định bởi Tổng thống,
thông qua đề nghị của Thủ tướng hoặc Lưỡng viện. Nhiệm vụ quan trọng nhất của Hội đồng chính là bảo vệ Hiến pháp, nói cách khác, phát hiện và ngăn chặn các vấn đề vi hiến (Unconstitutionality). Trong trường hợp phát hiện một dự luật vi hiến, Hội đồng sẽngăn không cho dự luật đó đến tay Chính phủ, vì vậy dự luật sẽ không được thông qua. Cần lưu ý rằng, các dự luật được thông qua bởi Nghị viện, phải được Tổng thống kí mới trở thành đạo luật chính thức.
3. Mối liên hệ giữa các nhánh quyền lực
Sự phân chia quyền lực là tổ hợp các cơ chế tìm kiếm sự cân bằng giữa các nhánh
quyền lực. Theo Monstequieu, nguyên tắc cần thiết để đạt được điều trên chính là việc
quyền lực kiểm soát quyền lực (Power moderates Power). Ở thể chế hỗn hợp, chúng ta có thể thấy sự phân chia quyền lực dưới hình thức một Lưỡng viện kết hợp với một
nhánh Hành pháp ´´đôi đầu´´ (bicephalous): nhánh Hành pháp được chia thành Tổng
thống – Nguyên thủ quốc gia và Thủ tướng – người đứng đầu Chính phủ. Thượng viện chỉ nắm giữ vai trò thứ yếu, không có sự ngang hàng với Quốc hội, và không tham gia vào việc thành lập Chính phủ. Việc này chỉ có Quốc hội mới có quyền. Nghị viện không thể gây ảnh hưởng đến các chức năng chính của Tổng thống. Lý giải điều này ở chỗ: trong thiết kế chính quyền của Đệ ngũ Cộng hòa, người Pháp muốn có một nhánh Hành pháp được tự do hơn bởi ở Đệ tứ Cộng hòa, Chính phủ bị kiểm soát bởi Nghị viện.
Một vấn đề khác cần được nhắc đến chính là các đảng phái chính trị. Theo Charles De Gaulle, nguyên nhân sự sụp đổ của nền Cộng hòa thứ tư chính là việc các đảng phái chính trị nắm giữ quá nhiều quyền lực. Điều người Pháp tìm kiếm không phải là hạn chế các chức năng của Nghị viện, mà là vô hiệu hóa tính ưu thế của các đảng phái. Đểphục vụ điều này, cần có một Tổng thống có thể giới hạn quyền lực của các nhóm chính trị. Tuy nhiên, điều này cũng dẫn đến một số hậu quả.
Điều mà De Gaulle không lường trước, nhưng cuối cùng Francois Mitterrand chỉ ra, chính là tầm quan trọng của các đảng phái chính trị trong việc vận hành thể chế. Thiết kế của Đệ ngũ Cộng hòa đã tạo ra hiệu ứng ảnh hưởng đến đời sống chính trị, khiến các đảng phái phải phát triển và hiện đại hóa sao cho phù hợp với thực tại. Hai cực chính của chính trị Pháp, cánh tả (left wing) và cánh hữu (right wing), đã tái cơ cấu bên trong và tái cơ cấu các mối quan hệ với các đảng phái khác cũng như với xã hội Pháp. Có thểkhẳng định, chiến thắng của Mitterrand vào năm 1981 chính là kết quả của Đệ ngũ Cộng hòa, bởi từ năm 1971 ông ta trở thành người lãnh đạo của quá trình đổi mới Đảng Xã hội. Điều tương tự cũng xảy ra với các đảng trung hữu. Nền Cộng hòa thứnăm là một chất xúc tác quan trọng cho việc phát triển các đảng phái chính trị hiện đại.
Đồng thời, các tổ chức chính trị và đảng phái bắt đầu liên kết với nhau, phụ thuộc lẫn nhau. Nghị viện không thể hình thành và hoạt động thiếu các đảng phái cũng như Tổng thống không thể thi hành các chính sách nếu không có sự ủng hộ của các tổ chức chính trị. Vì vậy, nền Đệ ngũ Cộng hòa không chỉ dừng lại ở việc thiết kế thể chế, nó còn xây dựng và phát triển các lực lượng xã hội và chính trị, biến những lực lượng nàytrở thành các nhân tố chính để hoàn thiện chính quyền.
Hệ thống chính trị không chỉ là các chuẩn mực hoặc thể chế của nhà nước, mà còn là các giá trị đi kèm. Vì lí do này, một yếu tố quan trọng góp phần vào thành công của Đệ ngũ Cộng hòa chính là sự cam kết của các lực lượng chính trị xung quanh việc bảo vệ các hệ thống của chính họ và của đất nước. Các lực lượng chính trị chính của xã hội Pháp, cánh tả và trung hữu, tuy khác nhau về mặt tư tưởng, nhưng đều có những nguyên tắc chung để bảo vệ đất nước. Điều này làm cho văn hóa chính trị Pháp trở thành chỗ dựa vững chắc của bộ máy thể chế hỗn hợp.
(Hết phần 4)

Tài liệu tham khảo:
Espinoza Toledo, Ricardo. Sistemas Parlamentario, Presidencial y Semipresidencial.
México, 2000


--------------------
Nguyễn Văn Thanh



User is offlineProfile Card
Go to the top of the page
+
Phó Thường Nhân
post Sep 24 2020, 11:59 PM    
Đường dẫn tới bài viết này #13

Tả Thiên Thanh
Group Icon

Nhóm: Chánh tổng
Số bài viết: 5.734
Tham gia từ: 11-August 02
Thành viên thứ: 133

Tiền mặt hiện có : 39.757$
Số tuần chưa đóng thuế : 7

Bình chọn :



@nvt,
Tác giả bài viét bài dịch này cũng tốt, vì mọi người sẽ hiểu được cơ chế của thể chế đại nghị tư san phương Tây này ra sao (đây cũng là tên gọi khác của nó). Thực ra phần tôi định viết và chủ đề không đối nghịch nhau mà bổ trợ cho nhau. Bài viết trình bầy cơ chế ấy hoạt động thế nào, còn tôi phân tích điều kiện nào khiến thể chế đó hoạt động được.
Như vậy những gì tôi viết sẽ là cái gương chiếu hậu, nếu như ta quan niệm ví dụ hệ thống này giống như cái đầu người, không ai có thể nhìn trực tiếp cái gáy mình mà phải cần có gương.
Chế độ đại nghị tư sản hình thành dần dần theo kinh nghiệm và quá trình phát triển của chủ nghĩa tư bản phương Tây, mầm mống của nó có từ thế kỷ XVI (bắt đầu bằng cách mạng công nghiệp Hà lan), vì thế bản thân trong sách vở phương Tây nó cũng có phần phản biện. Nhưng nó có điều dở là hoặc nó tản mát, không thành hệ thống, hoặc nó là những thuyết lý không tưởng (ví dụ thuyết vô chính phủ). Vì thế trong thực tế chỉ có chủ nghĩa Mác Lê nin là có một cái nhìn hệ thống, và đặc biệt có thành quả ứng dụng thực tế như ở VN, TQ, không phải là một học thuyết lý thuyết ảo tưởng.
Một điều quan trọng nữa là ngay cả dù là phản biện, những học giả này cũng là người phương Tây, cho nên không thể thoát ra khỏi cái nôi văn hoá mà họ bú mớm từ bé.
Vì thế muốn phản biện nó phải là người của một văn hoá khác, thì mới đầy đủ.
Một người VN bình thường, được học ở VN hiện tại (không phải thời VN cộng hoà miền Nam) , hoàn toàn có khả năng này, chỉ có điều rất đáng tiếc là do chịu ảnh hưởng của “sức mạnh mềm” của văn hoá phương Tây mà họ quên đi, hay bị loá mắt.
Cũng phải nói thêm nữa là khi phản biện nó không phải là để đi tìm một kiểu đối kháng, vì mặc dù thể chế khác nhau, VN vẫn có quan hệ với các nước phương Tây, hiểu họ, phản biện họ có nghĩa là sẽ tìm được cách quan hệ thực tế có lợi, không bị viễn cảnh xâm thực, “diễn biến hoà bình” (như ngôn ngữ ở VN hiện đại dùng).
Phản biện tốt thì học được tốt hơn,vì biết cái gì nên học cái gì không, nó cũng cho mình có nhận xét chính xác hơn chuẩn hơn chính mình. Tóm lại là “hiểu mình hiểu người”, không bị lừa bịp.
Cũng tương tự như vậy, muốn hiểu đầy đủ thể chế này, để tìm nhân duyên, điều kiện hoạt động có lợi của nó người ta không thể dừng ở mức độ xem nó hoạt động trên lý thuyết như thế nào (tức là nội dung của người dịch chủ đề này) mà phải tiếp cận theo hai hướng :
1- Khởi thuỷ nó hoạt động ra sao, từ đó tìm được bản chất của nó.
2- Nó được đưa vào các nước ngoài văn hoá phương Tây thế nào, đặt ra vấn đề gì. Trong cái phần này lại có hai mục nhỏ,
2.1 đó là các nước nghiền được nó, và ứng dụng tương đương (ví dụ Nhật bản)
2.2 Các nước ứng dụng nó có vấn đề (Nga, các nước Đông Âu, các nước thế giới thứ 3)
Với điều 2 này ta sẽ thấy lộ ra vấn đê thích ứng văn hoá.
Như tôi đã nói, phản biện nó tốt nhất là chủ nghĩa Mác-Lê, nhưng tôi cũng bổ xung thêm các nguồn nhận thức khác của chính phương Tây : vị dụ thuyết cấu trúc (structuralisme), thuyết tâm lý (Freud), các học giả tư sản ảnh hưởng Mác ( ví dụ Pierre Bourdieu, Pháp), eurrocommunisme, v..v.. các học giả kinh tế tư sản Keynes, Hayek, ..Đây chính là phần phản biện rải rác mà tôi nói ở trên. Và cả các nhận thức tư tưởng văn hoá của thế giới ngoài phương Tây mà vì tôi rất yêu thích chúng nên cũnng sử dụng (như cách mạng hồi giao I ran, văn hoá châu Phi), những nhận thức này sẽ giúp tìm hiểu sự thâm nhập và tương tác với phương Tây ra sao.
Tất nhiên khi viết tôi sẽ trộn lẫn chúng, chứ tôi không thể chỉ ra rõ ràng cái này lấy từ đâu từ đâu, vì tôi cũng đã nghiền nó ra biến thành của mình để sử dụng. Nhưng với những điều nói ở trên, ai muốn tìm hiểu thêm thì có cửa để tìm hiểu tiếp dễ dàng hơn, và không bắt buộc phải cho rằng tôi đúng hay sai.



--------------------
Tả Thiên Thanh



User is offlineProfile Card
Go to the top of the page
+
« Bài viết cũ hơn · Thư viện bài viết · Bài mới tiếp theo »
 

2 Trang < 1 2
Topic Options
1 người đang chống cằm trầm tư ngâm cứu chủ đề này (1 khách vãng lai và 0 thầy mo tàng hình)
0 Thành viên:
 

Xem diễn đàn ở dạng TEXT - PDA - Pocket PC