Chào bác, trông cái mặt bác quen quen ( Đăng nhập | Đăng ký tạm trú )

5 Trang « < 3 4 5 

· [ ] ·

 Phản đối đặt Tên đường Alexandre De Rhodes?

Phó Thường Nhân
post Jan 22 2020, 10:00 PM    
Đường dẫn tới bài viết này #41

Tả Thiên Thanh
Group Icon

Nhóm: Chánh tổng
Số bài viết: 5.392
Tham gia từ: 11-August 02
Thành viên thứ: 133

Tiền mặt hiện có : 37.463$
Số tuần chưa đóng thuế : 3

Bình chọn :



Hôm qua, nhân có việc phải ở nhà, tôi mới tranh thủ đi tìm cuốn sách của học giả Tsuboi trong đống sách của tôi. Việc này là rất ngại, vì sau khi lôi chúng ra thì phải xếp lại, và xếp lại thì bao giờ cũng .. thừa ra mấy quyển mà không hiểu sao lúc trước mình lại xếp gọn gàng được. Giống như thủa bé, tôi tháo xe đạp ra sửa, lúc lắp lại ..vẫn thừa mấy cái đinh ốc hay bi sắt. Cuối cùng cũng tìm được quyển sách tiếng Pháp (vì tôi có cả bản tiếng Việt nữa). Tôi sẽ làm một cái tóm tắt cách phân tích của tác giả ở đây, vì nó rất thú vị, do học giả là người Nhật, vừa « đồng chủng đồng văn », vừa không có mấy « tiền án tiền sự » trong lịch sử VN hiện đại (trừ thời 1940-1945). Ngẫu nhiên thời Nhật chiếm này cũng là thời có chính phủ bù nhìn Trần Trọng Kim theo Nhật (1943-1945), mà thành quả « nổi tiếng » của nó còn lại là nạn chết đói năm 1945. Gần đây, cũng có người VN sang Nhật làm luận án tiến sĩ về đề tài này với học bổng của Nhật, để thẩm định xem ở VN vẫn nói có 3 triệu người chết đói có đúng không. Tin cuối cùng nhận được, thì không phải là 3 triệu, mà chỉ là mấy trăm ngàn thôi, theo cái luận án này. Hi vọng rằng chuyện này, cũng giúp cho các « chí sĩ yêu nước » có cơ hội phỉ nhổ chính sử để tuyên truyền ngược, để cài cắm cái tư duy « phò nước lạ phương Tây » vào. Tôi chỉ nói ở đây một chi tiết là, sở dĩ Việt Minh có thể huy động quần chúng, bởi vì có chính sách phá kho thóc của Nhật để cứu đói. Lúc đó chính phủ Trần Trọng Kim đã « độc lập » rồi. Hiện cũng có luận án của nghiên cứu sinh VN sang Pháp, với học bổng của Pháp để chứng minh là , thời thuộc địa, Pháp chi trả nhiều hơn cho thuộc địa ở Đông Dương, chứ không phải bóc lột Đông Dương. Vì thế thực dân nó rất tốt, không giống chính sử nói. Hi vọng là « học giả » Khôi Nguyễn lại có thêm bằng chứng nữa để nói rằng VN nên là thuộc địa của Pháp, để ta có thể tiếp tục vinh danh Ngô đình Diệm, Nguyễn văn Thiệu, và các trí thức VN khác kiểu Phạm Quỳnh, Trần Trọng Kim, Trương Vĩnh Kỹ đã bị chính sử nói xấu vì chỉ vì là « bên không thắng cuộc » như quan niệm của họ. Gần đây, trong cuộc tranh cử tổng thống Pháp gần đây nhất, một ứng cử viên Pháp, ông François Fillon, cũng tuyên bố hùng hồn rằng « xâm lược thuộc địa chính là một cách để tương giao văn hoá ». điều này cũng rất khớp với những người kiểu như Khôi Nguyễn, hay những « chí sĩ » khác nói.
Trở lại với chủ đề. Chính quyền nhà Thanh chỉ đưa quân vào Bắc Kỳ, vào giai đoạn cuối của cuộc xâm lược thuộc địa của thực dân Pháp, lúc mà nhà Nguyễn đã chết lâm sàng, bởi sau khi Tôn Thất Thuyết phát động Cần vương, thì chính quyền nhà Nguyễn còn lại ở Huế chỉ là cái xác chết, mà Pháp giữ lại cho tới năm 1945, để chính danh. Còn cơ cấu của cái « xác chết » này thì phải đến năm 1963 mới tan rữa hoàn toàn, bằng cái chết của anh em Ngô Đình Diệm. Ở ngoài bắc thì cái xác chết này tan rữa sớm hơn, vào năm 1954, chính nhờ vào cải cách ruộng đất.
Nhà Thanh đưa quân vào Lạng sơn không phải là để xâm lược VN, mà để tìm cách hạn chế việc Pháp tiếp cận vào Trung quốc. Quân nhà Thanh đánh nhau với quân Pháp (chứ không đánh quân nhà Nguyễn), và đã đại thắng ở thành Lạng sơn. Nhưng lúc này, Pháp đã quyết định chiếm VN bằng được, nên mặc dù chính phủ của Jules Fery ở Pháp đổ, nghị viện Pháp lại bỏ phiếu tán thành ngân sách chi tiền, tăng viện cho quân Pháp ở Đông Dương. Nhờ có sự tăng viện này, mà Pháp đã có thể dùng tầu chiến đánh phá vùng biển Quảng Đông, Phúc kiến, Đài loan. Trước sự đe doạ của một cuộc chiến tranh thuốc phiện thứ II này, mà nhà Thanh đã ký hiệp ước Thiên Tân với Pháp. Hiệp ước naỳ không những khẳng định quyền thống trị ở Pháp ở VN, mà còn giúp Pháp thâm nhập TQ. Giúp cho Pháp độc quyền khai thác đường theo sông Hồng vào Vân Nam tới Côn Minh (con đường sắt mà Pháp xây dựng, quản lý, có chủ quyền từ Hà Nội tới Côn Minh xuất xứ từ đây), Pháp cũng có độc quyền thương mại với Quảng tây qua Lạng sơn, đồng thời có một nhượng địa (giống như kiểu Hồng công với Anh) ở Quảng châu văn (là thành phố kiểm soát đường biển vào vịnh bắc bộ từ phía đông bắc, nằm trên bán đảo Hợp phố chĩa vào đảo Hải Nam). Thông qua quản lý biên giới, nhà Thanh cũng cam đoan không để lục địa TQ trở thành nơi ra vào, là căn cứ của người Việt chống Pháp, phải nhận trở lại Lưu Vĩnh Phúc về TQ (dù ông này là quân khởi nghĩa chống chính quyền nhà Thanh). Sự thất bại của nhà Thanh, không bảo đảm được chủ quyền ngay trên nước mình này đã mở đường cho Nhật đánh nhà Thanh ở Triều Tiên mười năm sau (1894-1895), phải nhượng lại Đài Loan cho Nhật.
Sau cách mạng Tân Hợi (1911) ở TQ, nhà Thanh đổ, nhưng hiệp định Pháp-Thanh này vẫn có hiệu lực.
Đến tận năm 1924, khi quốc dân đảng chuẩn bị tiến hành Bắc Phạt (với chính sách « liên Nga liên cộng »), tình hình TQ rối ren, nên việc nhà Thanh cam đoan cấm đoán người Vn yêu nước hoạt động ở TQ trở thành vô hiệu (vì thế Đảng cộng sản Đông Dương mới ra đời ở Quảng Châu-TQ). Còn những chủ quyền khác mà nhà Thanh bị mất, như đường sắt Hà nội- Côn Minh, nhượng điạ ở Quảng châu Văn, thì chính quyền Tưởng đã đổi với thực dân Pháp vào năm 1945. Pháp trả lại chủ quyền cho Tưởng, đổi lại Tưởng rút quân khỏi miền Bắc.
Chiến tranh Pháp-Thanh (1884-1885) này có thể coi như là « tăng hai » của cuộc chiến tranh thuốc phiện (1840) của liên minh phương Tây đánh nhà Thanh mà Pháp tham gia. Trong cuộc chiến tranh thuốc phiện này, Pháp đã hưởng lợi ít hơn Anh, nên hậm hực, vì thế trong cuộc cạnh tranh ảnh hưởng giành thuộc địa với Anh, Pháp đã quyết tâm chiếm VN bằng được, để có bàn đạp thâm nhập chia xẻ TQ, cho « bằng vai phải lứa » với Anh, điều này đã khiến lịch sử VN khác với lịch sử Thái Lan. Như vậy Pháp xâm lược VN vừa để chiếm thuộc địa, vừa nhằm dùng VN làm bàn đạp vào chia xẻ TQ với các cường quốc phương Tây khác.
Từ khi đổi mới, vào những năm 90, cũng có ý kiến của học giả VN (không phải kiểu Khôi Nguyễn), có giả định rằng, nếu VN mà mở cửa buôn bán với Pháp từ những năm đầu thế kỷ XIX (thời Minh Mạng), thì Pháp sẽ không xâm lược VN, vì Pháp xâm lược do bị cấm buôn bán. Điều này hoàn toàn sai lầm. Pháp quyết định xâm lược VN hay không, chủ yếu phụ thuộc vào cạnh tranh thuộc địa với Anh,mở cửa không thôi không thể chống xâm lược được. Điều này tôi sẽ nói tiếp khi phân tích sâu thêm hai điều mà chính sử VN hiện tại vẫn gán cho nhà Nguyễn , đó là việc « trọng nông ức thương bế quan toả cảng », và nhà Nguyễn hèn nhát không cố kết được lực lượng nhân dân để xem nó có đúng không.
(còn tiếp)


--------------------
Tả Thiên Thanh



User is offlineProfile Card
Go to the top of the page
+
Phó Thường Nhân
post Jan 23 2020, 07:04 PM    
Đường dẫn tới bài viết này #42

Tả Thiên Thanh
Group Icon

Nhóm: Chánh tổng
Số bài viết: 5.392
Tham gia từ: 11-August 02
Thành viên thứ: 133

Tiền mặt hiện có : 37.463$
Số tuần chưa đóng thuế : 3

Bình chọn :



Việc đầu tiên là tìm hiểu xem « Trọng nông ức thương, bế quan toả cảng » trong thực tế thời nhà Nguyễn là thế nào. Ở đây có hai vế « Trọng nông ức thương » (chú trọng nông nghiệp, kìm hãm thương nghiệp) và « Bế quan toả cảng » (quan tức là cửa khẩu trên đất liên như kiểu Ải Nam quan, cảng là hải cảng, Bế là bịt, toả là phong toả, bao vây). « Bế quan toả cảng » hiểu theo nghĩa đen là cấm thương mại. Vậy nhà Nguyễn có cấm thương mại không ?

Để tìm hiểu điều này, tôi có mấy tài liệu sau. Một là một quyển sách, rất mỏng, nhưng đầy đủ, tên là « thương mại thời nhà Nguyễn », do nhà xuất bản Đà Nẵng in, vào cỡ năm 1996. Trong quyển sách này, tác giả (xin lỗi là tôi quên mất tên), đã nói đầy đủ từ các dạng đơn vị đo lường thời nhà Nguyễn, tiền tệ, giao thông, đến các thương nhân trúng thầu, họ là ai.. Một quyển khác, mà tôi mua được ở VN gần đây, nói về « thương mại ở Đàng Trong », đây là một luận án tiến sĩ của một học giả người việt ở Pháp, viết bằng tiếng Pháp, và được dịch ra tiếng việt. Tác phẩm này không có tác dụng trực tiếp tìm hiểu thương mại thời nhà Nguyễn, nhưng cho ta biết nguồn gốc tư duy thương mại nhà Nguyễn từ đâu, vì vua Gia Long là hậu duệ của các chúa Nguyễn, chính quyền nhà Nguyễn là sự nối dài của Đàng Trong, mà biểu tượng của nó là Huế vẫn được giữ là thủ đô. Văn minh cung đình nhà Nguyễn là văn minh cung đình Huế của Đàng Trong phát triển thêm. Tất nhiên sau đó là các bộ sử của nhà Nguyễn, tôi có một phần bộ Đại Nam thực lục chính biên, chưa tìm mua được cả bộ. Đại Nam liệt truyện (kể về các anh hùng, liệt sĩ mà nhà Nguyễn tôn vinh), cộng vào các kiến thức lịch sử VN và thế giới mà tôi có.

Trong thực tế, nhà Nguyễn không cấm thương mại, ngược lại thương mại là một bộ phận quan trọng của kinh tế thời nhà Nguyễn. Đặc điểm của nó tương đồng với thương mại có từ thời Đàng Trong, Đàng ngoài, và chính sách của nhà Nguyễn tương đương với chính sách thương mại của chính quyền Mạc Phủ (Shogun) Nhật, trước thời Minh trị. Nó có những đặc điểm sau :

-Nội thương manh mún, vì nền kinh tế là nền kinh tế tiểu nông, tự cấp tự túc. Thị trường nội thương lớn nhất là kinh thành Huế, do nhà Nguyễn phải chuyển tải thóc gạo, vải vóc, các đồ thủ công .. từ ngoài Bắc và miền Nam ra phục vụ cho kinh thành. Vận chuyển chủ yếu bằng đường biển cận bờ. Các thương nhân vận chuyển sẽ được nhà nước trả tiền công, hoặc được trừ vào lao dịch, dịch vụ của triều đình.

-Tiền tệ có 4 loại khác nhau, bao gồm tiền đồng, tiền kẽm, thoi vàng, thoi bạc. Nhưng thị trường tiền tệ không thống nhất. Tiền đồng và tiền kẽm là tiền dùng chủ yếu trong nội thương. Ngược lại vàng và bạc dùng trong ngoại thương. Ta có thể coi tiền đồng và kẽm như là đồng VND hiện tại, còn vàng và bạc giống như Đô la và Euro hiện nay. Tiền đồng và tiền kẽm hoàn toàn được sản xuất ở Bắc Kỳ, nhà Nguyễn giao quyền cho tư nhân đúc tiền. Như vậy trái với thời hiện tại, thời Nguyễn, miền Bắc là « đầu tầu kinh tế ». Vàng , bạc do trao đổi với bên ngoài (ngoại thương) tạo ra. Bạc chủ yếu đến từ Philipine, mà nguồn của nó là các mỏ bạc ở ..Mexico, do Philipine là thuộc địa của Tây ban Nha, tương tự như Mexico. Do thị trường nội thương yếu, lại cách biệt với ngoại thương, nên hầu như không có lạm phạt với tiền đồng, tiền kẽm. Ngược lại có lạm phát với vàng và bạc trong trao đổi với nước ngoài

-Ngoại thương của nhà Nguyễn, hầu như không thay đổi mấy so với thời Đàng trong, xuất khẩu bao gồm gạo, tơ tằm sống (tức là nguyên liệu, chứ không phải là lụa), các đồ thủ công mỹ nghệ, chủ yếu là đồ sứ. Nhập khẩu chủ yếu là các hàng hoá dùng cho quan lại, triều đình.

-Có sự khác nhau giữa ngoại thương với phương Tây và ngoại thương với Trung quốc. Với Trung quốc, Hoa thương là lực lượng chủ đạo trong thương mại thời nhà Nguyễn. Các Hoa thương thường mua thóc gạo, trầm hương mang về TQ, đổi lại họ mang đồ sứ sang. Sứ (porcelaine) TQ vốn nổi tiếng, những đồ này lại được VN xuất cho phương Tây. Hoa thương cũng được tổ chức khai mỏ, buôn bán rộng rãi.
Ngược lại thương nhân phương Tây chỉ được vào buôn bán ở cửa biển Đà nẵng, và nhà nước giữ độc quyền việc buôn bán này. Đồ nhập khẩu là các loại vải vóc, vũ khí (như lưu huỳnh dùng để chế thuốc nổ).
Tình trạng ngoại thương ở VN giống tình trạng ngoại thương ở Xiêm La, trong đó Hoa kiều chiếm phần thượng phong. Ta có thể coi ĐNA (ngay cả Indonesia) nằm trong một khu vực thương mại chung với TQ, như một dạng FTA thô sơ. Trong đó thương nhân TQ mang tới bán đồ sứ, lụa, vải vóc, ngược lại họ nhập thóc gạo, hương liệu (trầm hương, hồ tiêu, sản vật nhiệt đới). Có nhiều trường hợp họ chỉ mua chứ không xuất, ví dụ với Xiêm La, nhưng ngôi chùa Hoa ở Băng cốc, nhiều khi được xây bằng gạch ngói, tượng mà thương nhân Hoa kiều mang sang, mục đích đầu tiên là để thuyền không tròng trành lúc đi, đổi lại họ mua sản vật nông nghiệp về TQ.
Không chỉ có Hoa thương mới như vậy, mà thực dân Pháp thời đầu cũng vậy. Nhà thờ Đức Bà ở trung tâm Sài gòn, gạch xây là gạch sản xuất ở Tu lông (Toulon, Pháp) mang sang, ngược lại tầu Pháp mang gạo về.

-Nhà Nguyễn cũng có đội tầu buôn nhà nước, vào thời điểm cao nhất (thời Minh Mạng) có khoảng 8,9 chiếc, đóng vỏ sắt (được gọi là tầu đồng) để sang Tân Gia Ba (Singapore), Jakarta , buôn bán. Cao Bá Quát, khi bị nhà Nguyễn « kiểm điểm », cũng đã từng phải làm lính thú, đi phục vụ trên một con tầu kiểu này sang Jakarta, ông có viết một số bài thơ về về chuyến đi này. Tôi đã từng nói ở trong langven.

Như vậy « bế quan toả cảng » thực chất là quản lý thương mại với phương Tây, chứ không phải là cấm thương mại như cái tên của nó, dịch đúng nghĩa mà ra. Như vậy là « chính sử lừa dối », để ta có thể hô hoán lên, như lề trái vẫn hay làm ?? Không phải, thực ra nó chỉ là một cụm từ để chỉ đúng những điều tôi nói ở trên, và xuất phát từ Trung Quốc có từ thời nhà Minh. Ở TQ, nó đúng như nghĩa đen thật, nhưng họ chỉ cấm với phương Tây. Chính vì thế mà Hoa thương mới mang đồ sang ta, và từ đó xuất tiếp sang phương Tây. Khi chính sách này vào Nhật bản, thì chính quyền Mạc phủ (shogun) đã biến báo đi. Nó chỉ còn là quản lý thương mại, chứ không phải là cấm hoàn toàn. Chính sách của Nhật và nhà Nguyễn rất giống nhau. Từ việc hạn chế một cảng duy nhất, tới cấm tư nhân quan hệ với phương Tây, rồi lập đội tầu nhà nước đi buôn. Điều duy nhất Nhật khác VN là ở Nhật không có Hoa thương. Tất cả các loại chính sách này, có một cái tên chung là « Bế quan, toả cảng ».
(còn tiếp)


--------------------
Tả Thiên Thanh



User is offlineProfile Card
Go to the top of the page
+
Phó Thường Nhân
post Jan 23 2020, 10:35 PM    
Đường dẫn tới bài viết này #43

Tả Thiên Thanh
Group Icon

Nhóm: Chánh tổng
Số bài viết: 5.392
Tham gia từ: 11-August 02
Thành viên thứ: 133

Tiền mặt hiện có : 37.463$
Số tuần chưa đóng thuế : 3

Bình chọn :



Tựu chung lại có hai loại « bế quan toả cảng ». Khởi điểm đầu tiên đó là chính sách của nhà Minh. Vào giai đoạn cuối của triều đại này, nhà Minh khủng hoảng, suy yếu và chính sách làm sống lại con đường tơ lụa không thành (qua những chuyến đi biển của Trịnh Hoà, qua ĐNA đến tận bờ biển Đông Phi), do nhà Minh không tìm được một mô hình kinh tế thương mại để nuôi sống nó, mà chỉ mất tiền oan. Không kể thời cuối triều đại này, cướp biển Nhật bản (được gọi là người Wa) liên tục tấn công vào vùng biển từ Thượng hải đến Sơn Đông, khiến nhà Minh rồi nhà Thanh cho ra đời chính sách này.
Loại thứ hai, được áp dụng ở Nhật bản và Nhà Nguyễn là nhằm vào vấn đề an ninh, do phương Tây đe doạ. Trong trường hợp này thì chỉ có kiểm soát quan hệ với phương Tây. Sở dĩ Nhật và VN có chính sách giống nhau, là bởi mối đe doạ giống nhau. Cả hai bên đều nhằm hạn chế sự lợi dụng Thiên chúa giáo xâm nhập lật đổ. Trong trường hợp của Nhật là nhằm vào Bồ đào Nha và Tây ban Nha, ngược lại nhà Nguyễn nhằm vào Pháp. Pháp, Bồ, Tây ban Nha đều là những nước theo thiên chúa cơ đốc giáo (catholics), và đều dùng chiêu trò này để xâm lược. Ngược lại Anh, Hà lan vì theo đạo tin lành nên lại dùng chính sách « tự do thương mại » để xâm lược, mà điển hình là chiến tranh thuốc phiện với nhà Thanh (1840). Cuộc chiến tranh này nhằm bảo đảm việc buôn thuốc phiện tự do vào TQ. Hệ quả của cuộc chiến tranh này rất lớn với tất cả vùng Đông Á (Nhật, Triều Tiên, TQ, VN). Ta có thể coi cuộc chiến tranh này như khởi đầu của việc xâm lược thuộc địa ở đây (thay bằng việc cưỡng bức thương mại). Tất cả các nước kể trên đều có chính sách nhằm chống lại điều này, nhưng chỉ có ở Nhật là thành công.
Việc thương nhân người Hoa phổ biến ở khắp vùng ĐNA là hệ quả của những điều kiện sau :
- Từ thế kỷ thứ IV đã có thương mại trên biển từ Ấn độ tới TQ, cũng theo con đường này mà Đạo Phật đi vào ĐNA (đúng với cả VN, dù hiện tại đạo Phật ở VN , Nhật, TQ, Triều Tiên giống nhau).
- Các chuyến đi của Trịnh Hoà thời Minh cập nhật thông tin con đường đi từ Quảng Châu xuống ĐNA. Thích Đại Sán, một thiền sư thời nhà Thanh vào Đàng Trong, có để lại quyển « Hải ngoại ký sự » viết về Đàng Trong là đi theo thuyền buôn thời này. Nhưng trang đầu tiên của quyển ký sự (quyển này tôi cũng mua ở VN năm 2019) mô tả rất sinh động chuyến đi biển thế nào.
- Từ thời nhà Thanh, nếu TQ vẫn cấm thông thương trực tiếp từ đất TQ với phương Tây, thì Hoa thương có thể xuống ĐNA thiết lập quan hệ thương mại.
- Cho tới cách mạng tân hợi 1911, với sự thành lập Trung hoa Dân quốc, người Trung quốc không có khái niệm dân tộc như tôi đã nói ở trên, vì thế không có phản ứng từ các nước ĐNA với Hoa Thương, ngay cả khi họ định cư lại. Ví dụ, ở Xiêm La (Thái lan hiện nay), những phản ứng kiểu « dân tộc » của chính quyền Xiêm La với Hoa kiều là sau khi Trung Hoa dân quốc ra đời, đặt ra quốc tịch TQ vào những năm 20,30 của thế kỷ XX.
Như vậy việc Hoa Thương đóng vai trò chủ yếu trong thương mại thời nhà Nguyễn thế kỷ XIX, nếu nó nói lên sự yếu kém của người Việt trong thương mại thời này, thì điều này không phải là do nhà Nguyễn « thần phục » nhà Thanh mà ra (tôi để chữ thần phục trong nguặc kép, để muốn nói nó không có thật), đây là tình trạng chung của ĐNA, dù là nước theo Nho giáo như VN, theo Phật giáo như Thái, hay Hồi giáo như Indonesia.
(còn tiếp)


--------------------
Tả Thiên Thanh



User is offlineProfile Card
Go to the top of the page
+
« Bài viết cũ hơn · CLB Văn Hoá - Lịch sử · Bài mới tiếp theo »
 

5 Trang « < 3 4 5
Topic Options
2 người đang chống cằm trầm tư ngâm cứu chủ đề này (2 khách vãng lai và 0 thầy mo tàng hình)
0 Thành viên:
 

Xem diễn đàn ở dạng TEXT - PDA - Pocket PC