Chào bác, trông cái mặt bác quen quen ( Đăng nhập | Đăng ký tạm trú )

4 Trang « < 2 3 4 

· [ ] ·

 Chánh Niệm Không Như Bạn Nghĩ

Phó Thường Nhân
post Oct 9 2018, 10:28 PM    
Đường dẫn tới bài viết này #31

Tả Thiên Thanh
Group Icon

Nhóm: Chánh tổng
Số bài viết: 5.129
Tham gia từ: 11-August 02
Thành viên thứ: 133

Tiền mặt hiện có : 35.774$
Số tuần chưa đóng thuế : 3

Bình chọn :



7- Vấn đáp.
Để chứng minh cho những điều nói ở trên, thì tốt nhất là xem Thiền của vua Trần Thái Tông là gì. Trong quyển « Khoá Hư Lục » đã nói, có một phần rất quan trọng, được gọi là vấn đáp. Là đối thoại giữa Vua và một nhà sư. Trong quyển của tôi, sách giấy, nó nằm trước phần « niêm luận tụng », tức là lời bàn của vua về các công án, trong phần quyển thượng. Ngược lại trong bản mà thầy Thích Thanh Từ giảng, có trên mạng, thì không có phần này. Vì thế mặc dù rất lười trích dẫn, nếu không thể kiếm được trên mạng để cóp pi, tôi đánh phải chép lại, vì vấn đáp này rất quan trọng, có thể coi như là bản lề thiền tông của nhà vua, và vì thế cũng là gốc gác của Thiền Trúc lâm. Đoạn vấn đáp như thế này.
“Một ngày nọ Vua thăm chùa Chân giáo. Vị tăng Đức Thành đời Tống hỏi : - “Đức Thế tôn chưa rời cung Đâu Suất đã giáng xuống vương cung, chưa ra khỏi thai mẹ đã độ người hoàn tất, đó nghĩa là thế nào ?”. Vua đáp: “Ngàn sông có nước ngàn trăng chiếu, muôn dặm không mây muôn dặm trời”. Tăng hỏi “Chưa rời cung chưa ra đời đã được chỉ bảo. Còn đã lìa cung, đã ra đời, việc ấy như thế nào?”. Vua đáp “Mây sinh đỉnh núi đều mầu trắng, nước đến Tiêu, Tương một vẻ trong”; Tăng nói “Mưa tạnh, sắc núi rạng,mây quang trong động sáng, vậy thế nào là ẩn hiện nhất như ». Vua đáp “ngoại trừ con thật của nhà ta, ai dám hướng vào trong nơi đó”. Tăng nói “Xưa nay không khác lối, người đạt cùng nẻo đường, Bệ hạ há bảo duy Thế Tôn đắc đạo ư ?”. Vua nói “Mưa xuân không cao thấp, cành hoa có ngắn dài”. Tăng hỏi “Người người vốn tự người người đủ, kể kẻ nguyên lai kể kẻ tròn,Tại sao Thế Tôn lại vào núi tu đạo?”. Vua nói “Kiếm vì bất bình mở hộp báu, thuốc nhân trị bểnh rót khỏi bình”. Tăng nói “Trong mắt đừng để bụi, trên thịt chớ khoét ung, còn phần người học đạo có chỗ tu chứng chăng ?”. Vua nói “Nước chẩy xuôi non đâu có ý, mây tuôn qua núi vốn không tâm”. Tăng im lặng. Vua nói “Chớ bảo vô tâm nói là đạo, vô tâm còn cách một trùng quan”. Tăng nói “Tâm đã không gọi cái gì là trùng quan”.Vua lại nói “Nước chẩy xuôi non đâu có ý, mây tuôn qua núi vốn không tâm”. Tăng không đáp.”
Vị tăng tên hiệu là Đức Thành (tức là Thích Đức Thành), còn “đời Tống” bởi nhà sư chắc là người Hoa, chạy loạn sang VN, lúc này nhà Tống đã bị nhà Nguyên tiêu diệt (miền nam sông Trường Giang), sau khi tiêu diệt nhà Kim ở Trung Nguyên (miền bắc sông Trường Giang). Đời Tống-Đường là thời kỳ hưng thịnh nhất của Thiền Tông TQ. Vì thế cuộc đối thoại của vua với vị tăng này có thể giúp ta tìm hiểu Thiền ở VN thời này so với Thiền TQ thế nào. Có sánh tầm được không. Về mặt lịch sử, ở TQ, đời nhà Nguyên (100 năm), trọng mật tông, vì nhà Nguyên là triều đại Mông cổ, người Mông cổ ảnh hưởng của Mật Tông như người Tây Tạng. Khi nhà Minh lật đổ được nhà Nguyên, thì nhánh phật giáo hưng thịnh là Tịnh độ. Còn Thiền thì có xu hướng tổng kết lại, và mất dần ảnh hưởng. Một phần nhận thức Thiền nhập vào Nho giáo. Quá trình hội nhập này đã có từ đời nhà Tống với Lý học, nhưng càng rõ rệt hơn với Minh Nho (Nho giáo đời nhà Minh). Phật giáo ở VN và ở bán đảo Triều Tiên cũng theo cái quy trình này, nhưng nó không theo sát TQ. Ví dụ, ở VN và Triều Tiên chỉ có Tống Nho (Lý học) mà không có Minh Nho. Nhưng ở cả hai nơi, Tịnh độ tông cũng đều là tông phái phổ cập hơn cả.
Câu hỏi đầu tiên của Tăng, nếu dịch ra thuật ngữ triết học hiện đại, là muốn nói đến quan niệm giữa bản chất (Thế tôn trong cung Đâu Suất) và hiện tượng (người được độ). Theo quan niệm của phật giáo đại thừa, Phật Thích Ca (ở đây được gọi là Thế Tôn, người được thế gian tôn kính) là một kiếp của Phật đã có từ vô thuỷ vô chung. Vì thế trước khi Phật Thích Ca đầu thai làm người (« giáng xuống vương cung ») chưa giảng đạo thì đã có chúng sinh ngộ đạo Phật (« chưa khỏi thai mẹ đã độ người hoàn tất »). Như vậy giải thích điều này như thế nào, vì giáo lý phật giáo đã có đâu, đã có tăng đoàn đâu. « Thế Tôn trong cung đâu xuất » là cách nói ẩn dụ về pháp thân. Pháp thân ở đây có nghĩa là « bản chất Phật », cũng có thể gọi là Tâm. Tôi dùng từ CHÂN TÂM để diễn tả. Như vậy giữa pháp thân phật này, với người được độ (tức là người giác ngộ Phật giáo thấy được CHÂN TÂM) ngay cả khi Phật Thích Ca chưa sinh ra đầu thai làm người, tức là hiện tượng. Phải giải thích thế nào. Mối quan hệ của hai bên (bản chất < -- > hiện tượng) ra sao.
Trong Thiền Tông, nếu học theo công án kiểu Thiền Lâm Tế như hiện đại, thì ngộ điều này là ngộ từ « đa dạng (hiện tượng, vô thường luôn thay đổi) tới nhất như (chỉ là một, bất biến, vĩnh hằng) ». Cái nhất như bất biến này còn được gọi là KHÔNG. Đây thực ra là quá trình đầu tiên của học Thiền. Thường được người ta dẫn bằng công án của Triều Châu « một tăng hỏi Triều Châu : con chó có phật tính không . Triều Châu đáp : « Không ». (Chữ KHÔNG này phải để bằng chữ Nho thì mới hết nghĩa của nó, vì nó được viết bằng ký tự VÔ, giống như viết vô ngã, vô niệm, vô tâm).
Vậy vua trả lời thế nào ? Vua quan niệm ra sao ? Câu trả lời của vua thật tuyệt vời, và nó có thể dùng làm phương pháp tu tập thiền « Ngàn sông có nước ngàn trăng chiếu, muôn dặm không mây muôn dặm trời ». Nếu nói theo từ ngữ hiện đại. Thì vua nói thế này. Hiện tượng là cái phản xạ của bản chất, là hình ảnh của bản chất (giống như hình trăng dưới nước, thấy hình trăng nhưng đấy không phải là trăng), đồng thời bản chất nằm trong hiện tượng, và cái bản chất này LÀ MỘT (muôn dặm không mây muôn dặm trời. ở đây muôn dặm trời là bản chất, mây bay là hiện tượng, do ta tạo tác ra bởi nghiệp, bởi tâm lý, bởi cái tôi... Khi người ta vượt được đám mây, thì thấy được bầu trời chỗ nào cũng như nhau, chỉ vì bị mây che (thế giới hiện tượng) mà người ta không « nhin » thấy bản chất).
Tại sao tôi lại nói có thể dùng nó để tập thiền. Bởi vì nó có hai vế có thể luyện tập được. Đó là tĩnh lặng như mặt nước để hiện chân tâm, đây chính là ngồi Thiền. Nhưng ngồi thiền để tĩnh lặng là màn dạo đầu, để thấy được « bóng trăng dưới nước », tức là cảm nhận chân tâm nhưng chưa dùng được chưa sống được với chân tâm. Chỉ khi nào cảm nhận được NHẤT NHƯ, tất cả các hiện tượng đều là MỘT, không phân biệt như trời không mây thì mới đủ.
Như vậy ta có thể thấy, ngồi thiền, nhập thiền để tĩnh lặng, nhưng tự nó không ngộ được, chỉ thấy được hình ảnh ngộ thôi. Còn ngộ thì phải quét sạch các đám mây (như là các hiện tượng, sự việc) để thấy sau đó bản chất là KHÔNG, là TÂM, là MỘT và sống được với nó thì mới đủ.
(còn tiếp).


--------------------
Tả Thiên Thanh



User is offlineProfile Card
Go to the top of the page
+
Phó Thường Nhân
post Oct 10 2018, 11:18 PM    
Đường dẫn tới bài viết này #32

Tả Thiên Thanh
Group Icon

Nhóm: Chánh tổng
Số bài viết: 5.129
Tham gia từ: 11-August 02
Thành viên thứ: 133

Tiền mặt hiện có : 35.774$
Số tuần chưa đóng thuế : 3

Bình chọn :



Cảm nhận cái KHÔNG, CHÂN TÂM, NHẤT NHƯ này đã khó. Và vấp vào sai lầm coi nó là hư vô rất dễ. Bản thân tôi cũng đã từng bị lầm vào đây. Và có một nhân vật, vốn là trí thức miền Nam cũ, là ông Phạm Công Thiện cũng sa vào đây không ra được, mặc dù hiện nay, vẫn có nhiều người coi ông ấy là trí thức phật giáo. Nhưng câu chuyện này tôi sẽ nói sau. Bây giờ sẽ tiếp tục phân tích phần « vấn đáp » của Vua, để xem vua quan niệm thế nào mà không sa vào cái sai lầm này. Tức là đi từ cái nhất như trở về đa dạng, tức là theo nhân duyên, ứng dụng thực hành được trong cuộc sống hàng ngày.
Chính vì thế mà sư mới nói « “Chưa rời cung chưa ra đời đã được chỉ bảo. Còn đã lìa cung, đã ra đời, việc ấy như thế nào?”. Chuyển ra ngôn ngữ triết học hiện đại, thì câu này sẽ là. Vua đã nói được bản chất rồi (tức là KHÔNG, là TÂM), nhưng cái bản chất ấy thể hiện trong các hiện tượng thế nào. Câu trả lời của vua cũng cực chuẩn “Mây sinh đỉnh núi đều mầu trắng, nước đến Tiêu, Tương một vẻ trong”. Cái câu này nghĩa là thế nào. Ở đây vua dùng ẩn dụ để nói đến TÍNH (mà thông thường ta thường hiểu như từ « tính từ » trong ngữ pháp), như mây thì có TÍNH chất trắng, nước thì có TÍNH chất trong. Nếu gộp cả từ đầu, thì ta có thể hiểu nhận thức triết học phật giáo của vua (ở đây là theo Thiền Tông) rằng. Bản chất của mọi hiện tượng là TÂM, là MỘT (nhất như), bất biến, hằng thường.. nhưng ở trong hiện tượng, có hình thái, danh sắc thì đó chính là TÍNH. Và nhận thức này không ngoài câu kệ của tổ Bồ đề đạt ma « KIẾN TÍNH THÀNH PHẬT » (kiến ở đây là nhìn, nhưng ý nghiã nó rộng hơn không phải là nhìn thông thường, mà nhận thức).
Nhưng nhà sư không hoàn toàn thoả mãn với câu trả lời đó, vì với nhà sư mầu trắng của mây, sự trong của nước chưa hoàn toàn chỉ được TÍNH, vì nó có thể là hiện tượng.ví dụ giống như mây có thể mầu hồng, nước có thể mầu rêu, vậy trong trường hợp nào là TÍNH, trường hợp nào là hiện tượng. Vì thế sư mới truy tiếp “Mưa tạnh, sắc núi rạng,mây quang trong động sáng, vậy thế nào là ẩn hiện nhất như ». Hiển nhiên « mưa tạnh » (nhân duyên tạo ra) thì mầu núi sáng lên (nhưng cái sáng này không phải là TÍNH (chất) của núi). Cũng như vậy « Mây quang (nhân duyên) thì trong hang sáng ra (nhưng cũng không thể nói sự sáng ra này là TÍNH (chất) của hang động). « Vậy thế nào là ẩn hiện nhất như » có nghĩa là vậy điều gì có thể coi là TÍNH, điều gì mặc dù giống thế chỉ là hiện tượng. Ta cũng có thể dịch nghĩa là « cái NHẤT NHƯ, tức là TÂM ấy nó ẩn hiện, thể hiện ra sao ».
(còn tiếp).


--------------------
Tả Thiên Thanh



User is offlineProfile Card
Go to the top of the page
+
Phó Thường Nhân
post Oct 12 2018, 09:48 PM    
Đường dẫn tới bài viết này #33

Tả Thiên Thanh
Group Icon

Nhóm: Chánh tổng
Số bài viết: 5.129
Tham gia từ: 11-August 02
Thành viên thứ: 133

Tiền mặt hiện có : 35.774$
Số tuần chưa đóng thuế : 3

Bình chọn :



Câu hỏi của nhà sư cũng có thể hiểu theo nghĩa, nếu coi NÚI , ĐộNG(hang) biểu tượng của bản thể, tức là TÂM. Mưa Tạnh, Mây Quang là biểu tượng của hiện tượng, chúng xuất hiện cùng đồng thời như vậy, thì phải ngộ thế nào.
Câu trả lời của Vua cho đến nay với tôi vẫn là một công án, mà tôi chưa cảm nhận được đầy đủ. Điều đặc biệt là câu trả lời của Vua « Ngoại trừ con thật của nhà ta, ai dám hướng vào trong nơi đó », nhà vua không chỉ nói một lần mà được lặp lại trong một « niêm luật tụng » của Vua (số 4).
4. Cử: Ngoại đạo hỏi Phật: Chẳng hỏi có lời, chẳng hỏi không lời?
Niêm: Trừ người quả thật con ta đó,
Ai kẻ bạo chân vào đường này.
Tụng: Lao quan khó buộc có ai tri,
Ngôn ngữ đều quên không chỗ y.
Chẳng phải trong đời con ngựa giỏi,
Do đâu bất chợt được tiện nghi.
(Phải đính chính ở đây một tí. Khi đi tìm cái công án ở trên, cũng trong một bản Khoá Hư lục của Thầy Thích Thanh Từ, tôi lại thấy phần Thầy giảng về phần « vấn đáp » mà tôi đang nói ở đây. Hoá ra cái bản trước tôi tìm không có. Vì thế trên mạng, thực ra rất khó sử dụng nó một cách tin cậy, và đấy cũng là điều khiến tôi thích sách giấy).
Thú thực mà nói, câu trả lời của Vua trong vấn đáp làm tôi thất vọng. Về bản chất, câu cử « chẳng hỏi có lời, chẳng hỏi không lời » với câu « Mưa tạnh sắc núi rạng, mây quang trong động sáng » là đều nhằm vào một vấn đề. Đó là cảm nhận bản chất (TÂM) và hiện tượng cùng đồng thời như thế nào. Nhưng vua lại trả lời rằng “ngoại trừ con thật của nhà ta, ai dám hướng vào trong nơi đó”. Mà ta có thể dịch là « nếu không phải là người ngộ đạo (con thật của nhà ta), thì không hiểu được điều đó ». Điều này tất nhiên là đúng, nhưng cái điều sư muốn hỏi, là vua đã ngộ, vậy cái ngộ của vua thế nào, thể hiện nó ra. Trong bài niêm luật tụng số bốn ở trên, phần tụng nói rõ hơn ý của vua. « Ngôn ngữ đều quên không chỗ y, chẳng phải trong đời con ngựa giỏi, Do đâu bất chợt được tiện nghi ». Ba cái câu này ta có thể diễn giải là « sự vật không thể bám vào lời nói (ngôn ngữ đều quên không chỗ y) mà đánh giá, mà phụ thuộc vào nhân duyên xẩy ra (như con ngựa giỏi vì là có nhân duyên xẩy ra khiến người ta có thể đáng giá nó giỏi (do đâu bất chợt được tiện nghi), kiểu thời thế tạo anh hùng).
Như vậy nếu lấy câu niêm và tụng coi nó như câu trả lời của Vua, thì nó hay hơn và chuẩn hơn.
Tôi nghĩ rằng nhà Sư cũng thấy ngay điều đó. Nên mới hỏi tiếp “Xưa nay không khác lối, người đạt cùng nẻo đường, Bệ hạ há bảo duy Thế Tôn đắc đạo ư ?”. Điều sư muốn nói là bản thể chân TÂM chỉ có một (không khác lối, cùng nẻo đường), vậy nếu phân biệt người ngộ với không ngộ, thì có hai cửa khác nhau ».Nếu hiểu như nhà vua thì chỉ có Thế Tôn tức là phật Thích Ca đắc đạo. Tóm lại Sư đã thấy Vua có thể nắm bắt được CHÂN TÂM về mặt tuyệt đối, nhưng sự chuyển hoá nó thành tương đối, để ứng dụng thì chưa đạt. Vua đã có chiều đi (từ tương đối tới tuyệt đối), nhưng nếu dừng ở đó, thì chỉ ngộ ở mức độ hư vô (như ông Phạm Công Thiện, mà tôi sẽ nói tới sau), nhưng không tìm được chiều về (tức là đi từ tuyệt đối xuống tương đối, từ lý thuyết ứng dụng xuống đời thường).
Để hiểu điều này, có lẽ ta nên có một khái niệm về từng bước ngộ thiền, ngay cả trong thiền « đốn ngộ ». Vì nó là phương pháp mà Tổ của Tào Động (là tông phái tôi dùng tu tập) là Động Sơn đề ra.Động sơn gọi TÂM là LÝ (bản thể), gọi hiện tượng là SỰ. Hiện tượng ở đây là nói theo kiểu hiện đại, để chỉ rằng tất cả mọi sự tồn tại (sự vật, tâm linh,..) mà do nhân duyên tạo ra, tức là có nguyên nhân hoàn cảnh mới tồn tại được thì gọi là hiện tượng. Như vậy cuộc sống đời thường của ta là SỰ (ngay cả chính ta và bên ngoài), vì nó không thể thoát được SINH, LÃO, BỆNH, TỬ (người ta cũng thường dùng các khái niệm tương đương như SINH, THÀNH, HOẠI, DIỆT để chỉ cho nó bao quát hơn). Khi tôi tập thiền, thì điều tôi hướng tới là SỰ, bởi nó có thể dùng được trong đời thường. Quá trình giác ngộ thiền như vậy có 5 công đoạn : 1- SỰ đi vào LÝ 2- LÝ đi vào SỰ 3-« Hiểu » LÝ và SỰ đều là TÂM 4-LÝ và SỰ đồng tồn tại 5-LÝ và SỰ đồng tồn tại và không có NGÃ (vô ngã).
Đến công đoạn thứ 5 thì mới thực là ngộ thiền. Sau này Lâm Tế (là tổ của Thiền Lâm Tế) cũng phân khúc ra như vậy, nhưng gọi LÝ là CHÍNH (thẳng) SỰ là nghiêng, và chia quá trình này làm 4 đoạn. Bao gồm LÝ đi vào LÝ (có thể hiểu như ngộ lý thuyết), SỰ đi vào LÝ (tức là từ thực tế mà nhận ra chân lý), LÝ đi vào SỰ (là sự áp dụng lý thuyết vào thực tế), và cuối cùng SỰ đi vào SỰ.
Nói gọn lại ta có thể hiểu là nó có hai phần tôi gọi là đi lên (từ cuộc sống đời thường mà ngộ được triết lý Thiền), gọi là LÝ. Một khi biết cái LÝ rồi phải ứng dụng được vào SỰ (tức là từ lý thuyết lại trở thành thực tế) tức là đi xuống. Đi lên đi xuống ghép lại thành vòng tròn. VN hiện đại, có câu « học đi đôi với hành » chính là điều này. Học (kinh điển, ngồi thiền, ..) là để ngộ được cái LÝ. Nhưng phải dùng cái LÝ ứng dụng nó vào đời sống (Hành) thì mới đủ.
Các Thiền sư để lại công án, họ đều là sư. Như vậy, phần ứng dụng ngược trở lại của Thiền trong đời thường không nhiều, vì họ đi tu. Nhưng với vua Trần Thánh Tông thì điều này không đủ. Vì Vua trị vì. Và điều đó thể hiện rõ trong các câu trả lời tiếp theo của Vua. Ngược lại cách hỏi của nhà sư Đức Thành là đi theo chiều mà tôi nói ở trên. Sư hỏi vua về bản thể (TÂM) rồi từ đó lần xuống SỰ. Nhân đây tôi cũng nói luôn, là nếu chỉ từ SỰ ngộ tới LÝ , thì chính là sa vào hư vô. Như ông Phạm công Thiện mắc vào. Tôi trong quá trình tập thiền cũng mắc phải điêù này. Tôi thoát ra khỏi nó thế nào thì sẽ nói sau.
(còn tiếp)


--------------------
Tả Thiên Thanh



User is offlineProfile Card
Go to the top of the page
+
« Bài viết cũ hơn · Thiền Học & Tôn Giáo · Bài mới tiếp theo »
 

4 Trang « < 2 3 4
Topic Options
2 người đang chống cằm trầm tư ngâm cứu chủ đề này (2 khách vãng lai và 0 thầy mo tàng hình)
0 Thành viên:
 

Xem diễn đàn ở dạng TEXT - PDA - Pocket PC