Chào bác, trông cái mặt bác quen quen ( Đăng nhập | Đăng ký tạm trú )

4 Trang « < 2 3 4 

· [ ] ·

 Chánh Niệm Không Như Bạn Nghĩ

Phó Thường Nhân
post Oct 9 2018, 10:28 PM    
Đường dẫn tới bài viết này #31

Tả Thiên Thanh
Group Icon

Nhóm: Chánh tổng
Số bài viết: 5.134
Tham gia từ: 11-August 02
Thành viên thứ: 133

Tiền mặt hiện có : 35.812$
Số tuần chưa đóng thuế : 4

Bình chọn :



7- Vấn đáp.
Để chứng minh cho những điều nói ở trên, thì tốt nhất là xem Thiền của vua Trần Thái Tông là gì. Trong quyển « Khoá Hư Lục » đã nói, có một phần rất quan trọng, được gọi là vấn đáp. Là đối thoại giữa Vua và một nhà sư. Trong quyển của tôi, sách giấy, nó nằm trước phần « niêm luận tụng », tức là lời bàn của vua về các công án, trong phần quyển thượng. Ngược lại trong bản mà thầy Thích Thanh Từ giảng, có trên mạng, thì không có phần này. Vì thế mặc dù rất lười trích dẫn, nếu không thể kiếm được trên mạng để cóp pi, tôi đánh phải chép lại, vì vấn đáp này rất quan trọng, có thể coi như là bản lề thiền tông của nhà vua, và vì thế cũng là gốc gác của Thiền Trúc lâm. Đoạn vấn đáp như thế này.
“Một ngày nọ Vua thăm chùa Chân giáo. Vị tăng Đức Thành đời Tống hỏi : - “Đức Thế tôn chưa rời cung Đâu Suất đã giáng xuống vương cung, chưa ra khỏi thai mẹ đã độ người hoàn tất, đó nghĩa là thế nào ?”. Vua đáp: “Ngàn sông có nước ngàn trăng chiếu, muôn dặm không mây muôn dặm trời”. Tăng hỏi “Chưa rời cung chưa ra đời đã được chỉ bảo. Còn đã lìa cung, đã ra đời, việc ấy như thế nào?”. Vua đáp “Mây sinh đỉnh núi đều mầu trắng, nước đến Tiêu, Tương một vẻ trong”; Tăng nói “Mưa tạnh, sắc núi rạng,mây quang trong động sáng, vậy thế nào là ẩn hiện nhất như ». Vua đáp “ngoại trừ con thật của nhà ta, ai dám hướng vào trong nơi đó”. Tăng nói “Xưa nay không khác lối, người đạt cùng nẻo đường, Bệ hạ há bảo duy Thế Tôn đắc đạo ư ?”. Vua nói “Mưa xuân không cao thấp, cành hoa có ngắn dài”. Tăng hỏi “Người người vốn tự người người đủ, kể kẻ nguyên lai kể kẻ tròn,Tại sao Thế Tôn lại vào núi tu đạo?”. Vua nói “Kiếm vì bất bình mở hộp báu, thuốc nhân trị bểnh rót khỏi bình”. Tăng nói “Trong mắt đừng để bụi, trên thịt chớ khoét ung, còn phần người học đạo có chỗ tu chứng chăng ?”. Vua nói “Nước chẩy xuôi non đâu có ý, mây tuôn qua núi vốn không tâm”. Tăng im lặng. Vua nói “Chớ bảo vô tâm nói là đạo, vô tâm còn cách một trùng quan”. Tăng nói “Tâm đã không gọi cái gì là trùng quan”.Vua lại nói “Nước chẩy xuôi non đâu có ý, mây tuôn qua núi vốn không tâm”. Tăng không đáp.”
Vị tăng tên hiệu là Đức Thành (tức là Thích Đức Thành), còn “đời Tống” bởi nhà sư chắc là người Hoa, chạy loạn sang VN, lúc này nhà Tống đã bị nhà Nguyên tiêu diệt (miền nam sông Trường Giang), sau khi tiêu diệt nhà Kim ở Trung Nguyên (miền bắc sông Trường Giang). Đời Tống-Đường là thời kỳ hưng thịnh nhất của Thiền Tông TQ. Vì thế cuộc đối thoại của vua với vị tăng này có thể giúp ta tìm hiểu Thiền ở VN thời này so với Thiền TQ thế nào. Có sánh tầm được không. Về mặt lịch sử, ở TQ, đời nhà Nguyên (100 năm), trọng mật tông, vì nhà Nguyên là triều đại Mông cổ, người Mông cổ ảnh hưởng của Mật Tông như người Tây Tạng. Khi nhà Minh lật đổ được nhà Nguyên, thì nhánh phật giáo hưng thịnh là Tịnh độ. Còn Thiền thì có xu hướng tổng kết lại, và mất dần ảnh hưởng. Một phần nhận thức Thiền nhập vào Nho giáo. Quá trình hội nhập này đã có từ đời nhà Tống với Lý học, nhưng càng rõ rệt hơn với Minh Nho (Nho giáo đời nhà Minh). Phật giáo ở VN và ở bán đảo Triều Tiên cũng theo cái quy trình này, nhưng nó không theo sát TQ. Ví dụ, ở VN và Triều Tiên chỉ có Tống Nho (Lý học) mà không có Minh Nho. Nhưng ở cả hai nơi, Tịnh độ tông cũng đều là tông phái phổ cập hơn cả.
Câu hỏi đầu tiên của Tăng, nếu dịch ra thuật ngữ triết học hiện đại, là muốn nói đến quan niệm giữa bản chất (Thế tôn trong cung Đâu Suất) và hiện tượng (người được độ). Theo quan niệm của phật giáo đại thừa, Phật Thích Ca (ở đây được gọi là Thế Tôn, người được thế gian tôn kính) là một kiếp của Phật đã có từ vô thuỷ vô chung. Vì thế trước khi Phật Thích Ca đầu thai làm người (« giáng xuống vương cung ») chưa giảng đạo thì đã có chúng sinh ngộ đạo Phật (« chưa khỏi thai mẹ đã độ người hoàn tất »). Như vậy giải thích điều này như thế nào, vì giáo lý phật giáo đã có đâu, đã có tăng đoàn đâu. « Thế Tôn trong cung đâu xuất » là cách nói ẩn dụ về pháp thân. Pháp thân ở đây có nghĩa là « bản chất Phật », cũng có thể gọi là Tâm. Tôi dùng từ CHÂN TÂM để diễn tả. Như vậy giữa pháp thân phật này, với người được độ (tức là người giác ngộ Phật giáo thấy được CHÂN TÂM) ngay cả khi Phật Thích Ca chưa sinh ra đầu thai làm người, tức là hiện tượng. Phải giải thích thế nào. Mối quan hệ của hai bên (bản chất < -- > hiện tượng) ra sao.
Trong Thiền Tông, nếu học theo công án kiểu Thiền Lâm Tế như hiện đại, thì ngộ điều này là ngộ từ « đa dạng (hiện tượng, vô thường luôn thay đổi) tới nhất như (chỉ là một, bất biến, vĩnh hằng) ». Cái nhất như bất biến này còn được gọi là KHÔNG. Đây thực ra là quá trình đầu tiên của học Thiền. Thường được người ta dẫn bằng công án của Triều Châu « một tăng hỏi Triều Châu : con chó có phật tính không . Triều Châu đáp : « Không ». (Chữ KHÔNG này phải để bằng chữ Nho thì mới hết nghĩa của nó, vì nó được viết bằng ký tự VÔ, giống như viết vô ngã, vô niệm, vô tâm).
Vậy vua trả lời thế nào ? Vua quan niệm ra sao ? Câu trả lời của vua thật tuyệt vời, và nó có thể dùng làm phương pháp tu tập thiền « Ngàn sông có nước ngàn trăng chiếu, muôn dặm không mây muôn dặm trời ». Nếu nói theo từ ngữ hiện đại. Thì vua nói thế này. Hiện tượng là cái phản xạ của bản chất, là hình ảnh của bản chất (giống như hình trăng dưới nước, thấy hình trăng nhưng đấy không phải là trăng), đồng thời bản chất nằm trong hiện tượng, và cái bản chất này LÀ MỘT (muôn dặm không mây muôn dặm trời. ở đây muôn dặm trời là bản chất, mây bay là hiện tượng, do ta tạo tác ra bởi nghiệp, bởi tâm lý, bởi cái tôi... Khi người ta vượt được đám mây, thì thấy được bầu trời chỗ nào cũng như nhau, chỉ vì bị mây che (thế giới hiện tượng) mà người ta không « nhin » thấy bản chất).
Tại sao tôi lại nói có thể dùng nó để tập thiền. Bởi vì nó có hai vế có thể luyện tập được. Đó là tĩnh lặng như mặt nước để hiện chân tâm, đây chính là ngồi Thiền. Nhưng ngồi thiền để tĩnh lặng là màn dạo đầu, để thấy được « bóng trăng dưới nước », tức là cảm nhận chân tâm nhưng chưa dùng được chưa sống được với chân tâm. Chỉ khi nào cảm nhận được NHẤT NHƯ, tất cả các hiện tượng đều là MỘT, không phân biệt như trời không mây thì mới đủ.
Như vậy ta có thể thấy, ngồi thiền, nhập thiền để tĩnh lặng, nhưng tự nó không ngộ được, chỉ thấy được hình ảnh ngộ thôi. Còn ngộ thì phải quét sạch các đám mây (như là các hiện tượng, sự việc) để thấy sau đó bản chất là KHÔNG, là TÂM, là MỘT và sống được với nó thì mới đủ.
(còn tiếp).


--------------------
Tả Thiên Thanh



User is offlineProfile Card
Go to the top of the page
+
Phó Thường Nhân
post Oct 10 2018, 11:18 PM    
Đường dẫn tới bài viết này #32

Tả Thiên Thanh
Group Icon

Nhóm: Chánh tổng
Số bài viết: 5.134
Tham gia từ: 11-August 02
Thành viên thứ: 133

Tiền mặt hiện có : 35.812$
Số tuần chưa đóng thuế : 4

Bình chọn :



Cảm nhận cái KHÔNG, CHÂN TÂM, NHẤT NHƯ này đã khó. Và vấp vào sai lầm coi nó là hư vô rất dễ. Bản thân tôi cũng đã từng bị lầm vào đây. Và có một nhân vật, vốn là trí thức miền Nam cũ, là ông Phạm Công Thiện cũng sa vào đây không ra được, mặc dù hiện nay, vẫn có nhiều người coi ông ấy là trí thức phật giáo. Nhưng câu chuyện này tôi sẽ nói sau. Bây giờ sẽ tiếp tục phân tích phần « vấn đáp » của Vua, để xem vua quan niệm thế nào mà không sa vào cái sai lầm này. Tức là đi từ cái nhất như trở về đa dạng, tức là theo nhân duyên, ứng dụng thực hành được trong cuộc sống hàng ngày.
Chính vì thế mà sư mới nói « “Chưa rời cung chưa ra đời đã được chỉ bảo. Còn đã lìa cung, đã ra đời, việc ấy như thế nào?”. Chuyển ra ngôn ngữ triết học hiện đại, thì câu này sẽ là. Vua đã nói được bản chất rồi (tức là KHÔNG, là TÂM), nhưng cái bản chất ấy thể hiện trong các hiện tượng thế nào. Câu trả lời của vua cũng cực chuẩn “Mây sinh đỉnh núi đều mầu trắng, nước đến Tiêu, Tương một vẻ trong”. Cái câu này nghĩa là thế nào. Ở đây vua dùng ẩn dụ để nói đến TÍNH (mà thông thường ta thường hiểu như từ « tính từ » trong ngữ pháp), như mây thì có TÍNH chất trắng, nước thì có TÍNH chất trong. Nếu gộp cả từ đầu, thì ta có thể hiểu nhận thức triết học phật giáo của vua (ở đây là theo Thiền Tông) rằng. Bản chất của mọi hiện tượng là TÂM, là MỘT (nhất như), bất biến, hằng thường.. nhưng ở trong hiện tượng, có hình thái, danh sắc thì đó chính là TÍNH. Và nhận thức này không ngoài câu kệ của tổ Bồ đề đạt ma « KIẾN TÍNH THÀNH PHẬT » (kiến ở đây là nhìn, nhưng ý nghiã nó rộng hơn không phải là nhìn thông thường, mà nhận thức).
Nhưng nhà sư không hoàn toàn thoả mãn với câu trả lời đó, vì với nhà sư mầu trắng của mây, sự trong của nước chưa hoàn toàn chỉ được TÍNH, vì nó có thể là hiện tượng.ví dụ giống như mây có thể mầu hồng, nước có thể mầu rêu, vậy trong trường hợp nào là TÍNH, trường hợp nào là hiện tượng. Vì thế sư mới truy tiếp “Mưa tạnh, sắc núi rạng,mây quang trong động sáng, vậy thế nào là ẩn hiện nhất như ». Hiển nhiên « mưa tạnh » (nhân duyên tạo ra) thì mầu núi sáng lên (nhưng cái sáng này không phải là TÍNH (chất) của núi). Cũng như vậy « Mây quang (nhân duyên) thì trong hang sáng ra (nhưng cũng không thể nói sự sáng ra này là TÍNH (chất) của hang động). « Vậy thế nào là ẩn hiện nhất như » có nghĩa là vậy điều gì có thể coi là TÍNH, điều gì mặc dù giống thế chỉ là hiện tượng. Ta cũng có thể dịch nghĩa là « cái NHẤT NHƯ, tức là TÂM ấy nó ẩn hiện, thể hiện ra sao ».
(còn tiếp).


--------------------
Tả Thiên Thanh



User is offlineProfile Card
Go to the top of the page
+
Phó Thường Nhân
post Oct 12 2018, 09:48 PM    
Đường dẫn tới bài viết này #33

Tả Thiên Thanh
Group Icon

Nhóm: Chánh tổng
Số bài viết: 5.134
Tham gia từ: 11-August 02
Thành viên thứ: 133

Tiền mặt hiện có : 35.812$
Số tuần chưa đóng thuế : 4

Bình chọn :



Câu hỏi của nhà sư cũng có thể hiểu theo nghĩa, nếu coi NÚI , ĐộNG(hang) biểu tượng của bản thể, tức là TÂM. Mưa Tạnh, Mây Quang là biểu tượng của hiện tượng, chúng xuất hiện cùng đồng thời như vậy, thì phải ngộ thế nào.
Câu trả lời của Vua cho đến nay với tôi vẫn là một công án, mà tôi chưa cảm nhận được đầy đủ. Điều đặc biệt là câu trả lời của Vua « Ngoại trừ con thật của nhà ta, ai dám hướng vào trong nơi đó », nhà vua không chỉ nói một lần mà được lặp lại trong một « niêm luật tụng » của Vua (số 4).
4. Cử: Ngoại đạo hỏi Phật: Chẳng hỏi có lời, chẳng hỏi không lời?
Niêm: Trừ người quả thật con ta đó,
Ai kẻ bạo chân vào đường này.
Tụng: Lao quan khó buộc có ai tri,
Ngôn ngữ đều quên không chỗ y.
Chẳng phải trong đời con ngựa giỏi,
Do đâu bất chợt được tiện nghi.
(Phải đính chính ở đây một tí. Khi đi tìm cái công án ở trên, cũng trong một bản Khoá Hư lục của Thầy Thích Thanh Từ, tôi lại thấy phần Thầy giảng về phần « vấn đáp » mà tôi đang nói ở đây. Hoá ra cái bản trước tôi tìm không có. Vì thế trên mạng, thực ra rất khó sử dụng nó một cách tin cậy, và đấy cũng là điều khiến tôi thích sách giấy).
Thú thực mà nói, câu trả lời của Vua trong vấn đáp làm tôi thất vọng. Về bản chất, câu cử « chẳng hỏi có lời, chẳng hỏi không lời » với câu « Mưa tạnh sắc núi rạng, mây quang trong động sáng » là đều nhằm vào một vấn đề. Đó là cảm nhận bản chất (TÂM) và hiện tượng cùng đồng thời như thế nào. Nhưng vua lại trả lời rằng “ngoại trừ con thật của nhà ta, ai dám hướng vào trong nơi đó”. Mà ta có thể dịch là « nếu không phải là người ngộ đạo (con thật của nhà ta), thì không hiểu được điều đó ». Điều này tất nhiên là đúng, nhưng cái điều sư muốn hỏi, là vua đã ngộ, vậy cái ngộ của vua thế nào, thể hiện nó ra. Trong bài niêm luật tụng số bốn ở trên, phần tụng nói rõ hơn ý của vua. « Ngôn ngữ đều quên không chỗ y, chẳng phải trong đời con ngựa giỏi, Do đâu bất chợt được tiện nghi ». Ba cái câu này ta có thể diễn giải là « sự vật không thể bám vào lời nói (ngôn ngữ đều quên không chỗ y) mà đánh giá, mà phụ thuộc vào nhân duyên xẩy ra (như con ngựa giỏi vì là có nhân duyên xẩy ra khiến người ta có thể đáng giá nó giỏi (do đâu bất chợt được tiện nghi), kiểu thời thế tạo anh hùng).
Như vậy nếu lấy câu niêm và tụng coi nó như câu trả lời của Vua, thì nó hay hơn và chuẩn hơn.
Tôi nghĩ rằng nhà Sư cũng thấy ngay điều đó. Nên mới hỏi tiếp “Xưa nay không khác lối, người đạt cùng nẻo đường, Bệ hạ há bảo duy Thế Tôn đắc đạo ư ?”. Điều sư muốn nói là bản thể chân TÂM chỉ có một (không khác lối, cùng nẻo đường), vậy nếu phân biệt người ngộ với không ngộ, thì có hai cửa khác nhau ».Nếu hiểu như nhà vua thì chỉ có Thế Tôn tức là phật Thích Ca đắc đạo. Tóm lại Sư đã thấy Vua có thể nắm bắt được CHÂN TÂM về mặt tuyệt đối, nhưng sự chuyển hoá nó thành tương đối, để ứng dụng thì chưa đạt. Vua đã có chiều đi (từ tương đối tới tuyệt đối), nhưng nếu dừng ở đó, thì chỉ ngộ ở mức độ hư vô (như ông Phạm Công Thiện, mà tôi sẽ nói tới sau), nhưng không tìm được chiều về (tức là đi từ tuyệt đối xuống tương đối, từ lý thuyết ứng dụng xuống đời thường).
Để hiểu điều này, có lẽ ta nên có một khái niệm về từng bước ngộ thiền, ngay cả trong thiền « đốn ngộ ». Vì nó là phương pháp mà Tổ của Tào Động (là tông phái tôi dùng tu tập) là Động Sơn đề ra.Động sơn gọi TÂM là LÝ (bản thể), gọi hiện tượng là SỰ. Hiện tượng ở đây là nói theo kiểu hiện đại, để chỉ rằng tất cả mọi sự tồn tại (sự vật, tâm linh,..) mà do nhân duyên tạo ra, tức là có nguyên nhân hoàn cảnh mới tồn tại được thì gọi là hiện tượng. Như vậy cuộc sống đời thường của ta là SỰ (ngay cả chính ta và bên ngoài), vì nó không thể thoát được SINH, LÃO, BỆNH, TỬ (người ta cũng thường dùng các khái niệm tương đương như SINH, THÀNH, HOẠI, DIỆT để chỉ cho nó bao quát hơn). Khi tôi tập thiền, thì điều tôi hướng tới là SỰ, bởi nó có thể dùng được trong đời thường. Quá trình giác ngộ thiền như vậy có 5 công đoạn : 1- SỰ đi vào LÝ 2- LÝ đi vào SỰ 3-« Hiểu » LÝ và SỰ đều là TÂM 4-LÝ và SỰ đồng tồn tại 5-LÝ và SỰ đồng tồn tại và không có NGÃ (vô ngã).
Đến công đoạn thứ 5 thì mới thực là ngộ thiền. Sau này Lâm Tế (là tổ của Thiền Lâm Tế) cũng phân khúc ra như vậy, nhưng gọi LÝ là CHÍNH (thẳng) SỰ là nghiêng, và chia quá trình này làm 4 đoạn. Bao gồm LÝ đi vào LÝ (có thể hiểu như ngộ lý thuyết), SỰ đi vào LÝ (tức là từ thực tế mà nhận ra chân lý), LÝ đi vào SỰ (là sự áp dụng lý thuyết vào thực tế), và cuối cùng SỰ đi vào SỰ.
Nói gọn lại ta có thể hiểu là nó có hai phần tôi gọi là đi lên (từ cuộc sống đời thường mà ngộ được triết lý Thiền), gọi là LÝ. Một khi biết cái LÝ rồi phải ứng dụng được vào SỰ (tức là từ lý thuyết lại trở thành thực tế) tức là đi xuống. Đi lên đi xuống ghép lại thành vòng tròn. VN hiện đại, có câu « học đi đôi với hành » chính là điều này. Học (kinh điển, ngồi thiền, ..) là để ngộ được cái LÝ. Nhưng phải dùng cái LÝ ứng dụng nó vào đời sống (Hành) thì mới đủ.
Các Thiền sư để lại công án, họ đều là sư. Như vậy, phần ứng dụng ngược trở lại của Thiền trong đời thường không nhiều, vì họ đi tu. Nhưng với vua Trần Thánh Tông thì điều này không đủ. Vì Vua trị vì. Và điều đó thể hiện rõ trong các câu trả lời tiếp theo của Vua. Ngược lại cách hỏi của nhà sư Đức Thành là đi theo chiều mà tôi nói ở trên. Sư hỏi vua về bản thể (TÂM) rồi từ đó lần xuống SỰ. Nhân đây tôi cũng nói luôn, là nếu chỉ từ SỰ ngộ tới LÝ , thì chính là sa vào hư vô. Như ông Phạm công Thiện mắc vào. Tôi trong quá trình tập thiền cũng mắc phải điêù này. Tôi thoát ra khỏi nó thế nào thì sẽ nói sau.
(còn tiếp)


--------------------
Tả Thiên Thanh



User is offlineProfile Card
Go to the top of the page
+
Phó Thường Nhân
post Oct 15 2018, 10:26 PM    
Đường dẫn tới bài viết này #34

Tả Thiên Thanh
Group Icon

Nhóm: Chánh tổng
Số bài viết: 5.134
Tham gia từ: 11-August 02
Thành viên thứ: 133

Tiền mặt hiện có : 35.812$
Số tuần chưa đóng thuế : 4

Bình chọn :



Để trả lời câu hỏi của Sư «Tăng nói “Xưa nay không khác lối, người đạt cùng nẻo đường, Bệ hạ há bảo duy Thế Tôn đắc đạo ư ?”. Vua nói “Mưa xuân không cao thấp, cành hoa có ngắn dài” .

Đến đây Vua và Sư đã đi ngược nhau. Kiểu ông hỏi gà bà trả lời vịt, bởi câu trả lời của vua không sai, nhưng không đúng với Thiền. Câu trả lời của Vua chính là nội dung của phẩm dược sư, trong kinh Pháp Hoa. Nếu nó giải thích được đúng đắn quan niệm ngộ phật khác nhau của chúng sinh, thì nó lại không thuộc phạm vi Thiền quan tâm. Thông thường, trong phật giáo Đại Thừa, từ thời nhà Đường (TQ) thì người ta quan niệm trong đạo Phật có 3 phạm trù khác nhau : Thiền, Giáo, Luật. Nếu Thiền coi trọng sự tự tu, tự giác ngộ, thì Giáo (như cái tên của nó) là tu theo giáo lý lại trong kinh điển. Để giải thích tại sao có nhiều giáo lý, thì mới có hình tượng, giáo lý của Phật như mưa xuống (đều nhau), nhưng hấp thụ thì tuỳ theo căn cơ (giống như cây cỏ đều nhận được mưa nhưng độ tiếp nhận khác nhau). Như vậy nếu lấy cái lý này để trả lời thì người ta vẫn không hiểu tại sao « xưa nay không khác lối, người đạt cùng nẻo đường ». Bởi ở đây sư nhấn mạnh tới điểm chúng sinh có chung nhau (cùng có chân tâm) chứ không phải giải thích tại sao giác ngộ khác nhau. Như vậy là Vua đã dùng Giáo để trả lời Thiền. Trong khi trong Thiền là « giáo ngoại biệt truyền » (tức là truyền bên ngoài giáo lý) theo Tổ Bồ Đề Đạt Ma.

Tiếp theo. Sư gợi ý cho nhà Vua, vì thế mới nói. « Tăng hỏi “Người người vốn tự người người đủ, kẻ kẻ nguyên lai kẻ kẻ tròn, tại sao Thế Tôn lại vào núi tu đạo?” ».
Khi Tăng nói « Người người vốn tự người người đủ, kể kẻ nguyên lai kể kẻ tròn », thì đây chính là câu trả lời cho câu hỏi của Sư ở trên. « Xưa nay không khác lối, người đạt cùng nẻo đường ». Ý của nó là phật tính con người đã có sẵn đầy đủ từ nguyên thuỷ (nguyên lai), chính vì thế mà khi tu tập, như một sự gột rửa, thì bản thể (TÂM) hiện ra giống nhau. Đây cũng chính là quá trình tu tập của Phật Thích Ca theo nhà Thiền. Nhưng ở đây Vua cũng trả lời theo kiểu khác. Vua hiểu việc Phật Thích Ca vào núi tu đạo là để cứu người, cứu chúng sinh. Điều này cũng hoàn toàn đúng, nhưng nó chỉ không ăn nhập với câu hỏi mà thôi. Vua nói “Kiếm vì bất bình mở hộp báu, thuốc nhân trị bệnh rót khỏi bình”
Như vậy việc vào núi tu của Phật Thích Ca là vì từ bi. Điều đặc biệt là vua không quan niệm từ bi theo kiểu « thương vay khóc mướn » mà có cả đủ thưởng phạt. Có cả kiếm cả thuốc.

Nhưng có lẽ vua là người duy nhất học Thiền, mà gắn Thiền với Từ Bi (vì bất bình, vì muốn chữa bệnh cho thế gian). Ta có thể hiểu rằng, tập thiền thế nào thì tập, nhưng điểm cuối cùng khi ứng dụng nó, « SỰ vào SỰ’ như tôi nói ở trên chính là Từ bi. Và chính nhờ điều này, mà vua không bị rơi vào cái bẫy hư vô mà người học Thiền hay vấp phải.

Nhưng kiểu trả lời này không hợp với Sư, nên Sư lại một lần nữa hướng vua về Thiền « tổng thể ». Tăng nói “Trong mắt đừng để bụi, trên thịt chớ khoét ung, còn phần người học đạo có chỗ tu chứng chăng ?”. Đây chính là một dẫn dụ trong kinh Pháp Bảo Đàn của tổ Huệ Năng, và nó cũng được Huệ Khai Vô Môn nhắc lại trong quyển giáo khoa về thiền Lâm Tế « Vô môn quan », trong có có ghi lại hơn 40 công án vẫn còn được dùng tới ngay nay ở Nhật. Chắc chắn Sư Đức Thành biết. Câu hỏi của Tăng có nghĩa ngầm nhắc vua là phải quay về với cảm nhận KHÔNG, chứ không phải tạo tác, như tự mình để bụi vào mắt, khoét thịt tự gây thương tích. Tức là làm những việc vô ích.
Lần này thì vua trả lời đúng, nhưng không phải với lý do mà Sư muốn. Vua nói “Nước chẩy xuôi non đâu có ý, mây tuôn qua núi vốn không tâm”. Như vậy vua hoàn toàn ngộ Thiền, và cách ngộ của vua gần với đạo lão, tức là vô vi giống như Lão tử, hiểu là hành động theo tự nhiên (« đâu có ý », « vốn không tâm »). Và để khẳng định thêm điều này, vua nói “Chớ bảo vô tâm nói là đạo, vô tâm còn cách một trùng quan”. Bản giấy của tôi viết là trùng quan, tôi hiểu là khoảng cách. Trong bản của thầy Thanh từ mà tôi mới thấy, thì trùng quan được dịch là hàng rào. Bất luận thế nào thì ý của câu nói cũng rõ. Chữ Vô Tâm mà vua dùng ở đây chính là chỉ hư vô. Giống như kiểu hư vô của ông Phạm công Thiện.

Đến đây thì Sư vặn lại, bởi vì cách ứng dụng KHÔNG của Vua. Bởi với Sư khi đã ngộ thì tất cả là một, không còn khoảng cách, ngăn cách. Giống như câu nói « tất cả vũ trụ nằm trong một hạt cải » hay được dẫn trong Thiền. « Tăng nói “Tâm đã không gọi cái gì là trùng quan”.Vua lại nói “Nước chẩy xuôi non đâu có ý, mây tuôn qua núi vốn không tâm”. Tăng không đáp. »
Hai cái câu cuối này của sư và của Vua thể hiện rõ sự khác biệt của hai bên trong « đối thoại », và có thể coi nó là « tóm tắt đại ý » câu chuyện luôn. Sự im lặng của Sư là sự không đồng ý, thì đúng hơn là « tâm phục khẩu phục ». Và nó cũng khẳng định lại Thiền của Vua Trần Thái Tông. Với vua tôi tóm tắt lại, bản thể tất cả là KHÔNG là TÂM, như khi thể hiện vào sự vật, đời sống thì nó là TÍNH. Hành động theo TÍNH (tự nhiên, không có ý) vì TỪ BI chính là hành đạo (SỰ đi vào SỰ). Còn ngược lại, Sư Đức Thành có thể coi là Thiền TQ nguyên bản, đặc biệt chú trọng cái KHÔNG. Nhưng Vua Trần Thái Tông chỉ chung với sư chiều đi từ hiện tượng đến bản thể (Sự vào Lý), chứ phần ứng dụng (Lý vào Sự, Sự vào sự) thì không giống nhau.

Vua cũng không ngần ngại tập hợp cả Thiền cả giáo. Thiền của Vua như vậy là Thiền tổng hợp. Tư duy của vua thực ra là tư duy của người Việt, trọng ứng dụng, hoà hợp, tổng kết theo sử dụng thực tế, chứ không coi trọng sự hợp lý của lý thuyết. Ta có thể thấy điều đó trong bất cứ lĩnh vực tư tưởng nào mà VN-TQ ảnh hưởng lẫn nhau. Từ đạo Phật, đạo Nho trong quá khứ, tới chủ nghĩa Mác-Lê nin hiện tại, nếu so VN với TQ. Vì thế ai mà nói VN học TQ thì thực ra họ mới chỉ nhìn cái vỏ, và có lẽ không hiểu TQ là thế nào, VN là thế nào.

Bình thường, thì Phật giáo của vua Trần Thái Tông chưa nằm trong phả hệ của Thiền Trúc Lâm. Vì Thiên Trúc Lâm chỉ có 3 tổ (Nhân Tông, Pháp Loa, Huyền Quang). Cả Tuệ Trung Thượng Sĩ cũng không được tính vào. Nhưng với Tôi thì cả năm người đều đại diện cho Phật giáo đời Trần, và đều có gốc là Thiền.
(còn tiếp).


--------------------
Tả Thiên Thanh



User is offlineProfile Card
Go to the top of the page
+
Phó Thường Nhân
post Oct 17 2018, 08:39 PM    
Đường dẫn tới bài viết này #35

Tả Thiên Thanh
Group Icon

Nhóm: Chánh tổng
Số bài viết: 5.134
Tham gia từ: 11-August 02
Thành viên thứ: 133

Tiền mặt hiện có : 35.812$
Số tuần chưa đóng thuế : 4

Bình chọn :



Tôi nói về Thiền Đại Thừa, Thiền vua Trần Thái Tông hơi dài. Nhưng có thể hiểu nó như là để trang bị cho các bác cái đế (background), để từ đó mà phân biệt giữa Thiền Đại Thừa, như một tông phái phật giáo với thiền nguyên thuỷ, chỉ là một bộ phận của phật giáo nguyên thuỷ, chứ không phải là một tông phái riêng. Các bác không những thấy sự khác biệt của Thiền với Thiền mà còn cả phật giáo nguyên thuỷ với phật giáo Đại thừa. Rồi phật giáo với các quan niệm phật giáo của phương Tây.
Cũng nhân thể một công viết, mà có thể coi nó là phần thứ hai, tiếp theo, của chủ đề tôi viết về Thiền Tào động trước đây.
8- Phạm công Thiện
Phạm Công Thiện là ai. Ông là một trí thức miền Nam cũ, sống trong vùng tạm chiếm của chính quyền Sài gòn (tôi dùng vùng tạm chiếm để thay việc dùng thuật ngữ chính quyền VN cộng hoà). Ông này được giới trí thức vùng Sài gòn coi là Triết gia, nhà thơ, được coi là nổi tiếng vì biết nhiều ngôn ngữ. với tôi,đóng góp đáng kể nhất có lẽ là việc ông tham gia vào đại học phật giáo Vạn Hạnh. Ông có viết một số sách, quyển nổi nhất có lẽ là « hố thẳm tư tưởng ». Sinh ra trong một gia đình công giáo, nhưng lại theo đạo Phật. Hiện tại sách của ông cũng được in lại ở VN.
Phạm Công Thiện được coi là triết gia có lẽ là vì được giới trí thức Sài gòn cũ coi là biết tới Nietzsche, là một triết gia Đức sống vào cuối thế kỷ XIX. Vào những năm 60, do Sài gòn còn là cái đuôi của văn hoá Pháp, Pháp có gì thì Sài gòn bắt chiếc như thế, nên giới thời thượng cũng thích triết học hiện sinh (existencialisme) của Sartes (một triết gia nổi tiếng của Pháp lúc đó). Triết học hiện sinh thực ra là hệ quả của triết học Nietzsche. Cùng cái dòng đó ta có thể xếp Nietzsche, Husserl (người được triết gia thật sự Trần Đức Thảo nghiên cứu), Heidegger (cũng là người Đức). Và Phạm Công Thiện đã thể hiện sự biết đó của mình về Nietzsche trong « hố thẳm tư tưởng ». Từ đó mà biết Nietzsche thành nổi tiếng.
Vào thời điểm những năm 60 ở miền nam, chủ yếu là ở Sài gòn, do sự nhố nhăng của thời cuộc, có thể người ta chấp nhận được Phạm Công Thiện là triết gia về Nietzsche, nhưng nếu bây giờ mà vẫn coi như thế, thì thực ra là không phải, vì Phạm Công Thiện biết về Nietzsche, thì có lẽ cũng giống như Xuân Tóc đỏ trong tiểu thuyết của Vũ Trọng Phụng, được coi là « danh thủ quần vợt », là « sinh viên Y khoa ».
Để nghiên cứu triết học phương Tây, bất cứ ai, do ta là người VN không phải là nằm trong văn hoá phương Tây, điều quan trọng đầu tiên là xem hoàn cảnh, nhân duyên của tác giả đó ở đâu, thì mới đánh giá được họ. Ví dụ như Nietzsche, một trong những luận điểm nổi tiếng nhất của ông là « chúa đã chết ». Nhưng nếu ta không đặt ta vào hoàn cảnh của họ, thì sẽ không hiểu tại sao câu nói này lại có tiếng vang và đóng góp vào triết học phương Tây cận đại và hiện đại. Ở Vn, một đứa trẻ con mặc quần thủng đít, nếu không theo đạo Thiên chúa,thì cũng biết là chúa không tồn tại. Và điều này (chúa sống hay chết) là vô nghĩa với văn hoá VN nói riêng và văn hoá Đông Á nói chung.
Để hiểu Nietzsche thật sự, thì ta phải có cái phông văn hoá Đức (vì tư duy của ông liên quan chặt chẽ tới ngôn ngữ Đức), phông văn hoá thiên chúa phương Tây, thì mới cảm nhận được thực sự. Ở đây tôi chỉ định hình ông ấy nằm ở đâu, và từ đó theo được cái lô gíc triết học của Nietzsche. Biết được cái lô gíc này rồi, thì sẽ thấy Phạm công Thiện lởm khởm thế nào.
Cái luận điểm « chúa đã chết » ở trên có thể là cách tiếp cận Nietzsche đơn giản nhất. Cũng như nhiều nhà triết học Đức khác (kể cả Mác), các nhà triết học Đức vào thế kỷ XIX đều bắt đầu bằng nghiên cứu triết học Hi lạp-La mã, đó là thời kỳ trước khi đạo Thiên chúa trở thành phổ cập ở văn hoá phương Tây. Điều đầu tiên đập vào mắt họ, là nền triết học này rất đa dạng, phong phú, và không cần có chúa để biện luận, lấy đó làm gốc. Nhưng chúa trời lại cực kỳ quan trọng với văn hoá phương Tây từ 300 năm sau Tây lịch, từ thời hoàng đế La Mã Constatin .Chúa trời cùng với nó là kinh thánh, trở thành cội nguồn cho tất cả các suy luận, áp dụng ..trong khoa học nhân văn, trong đạo đức, trong ứng xử.. Cái cảm nhận này ở VN ta không thể có được, nhưng nó là chung cho các nền văn hoá kiểu nhất thần giáo như Thiên chúa, Hồi giáo, Do thái giáo. Thời Hi lạp- La Mã tiền thiên chúa, văn minh ở đây rất giống thời đại bách gia chư tử ở TQ, và nó cũng là đa thần (tức là giống như tâm linh ở Đông Á cho tới ngày nay). Từ đó câu hỏi được đặt ra là « Văn hoá Hi La rất phát triển, nhưng nó đâu có cần tới Thiên chúa để « justify » (lấy cớ biện luận) cho đạo đức, cho ứng xử xã hội », như vậy chúa có cần không. Niezsche đã tiếp cận vấn đề này trong tác phẩm « generalogie de la morale » (ta có thể dịch là gia phả của đạo đức học). Và kết luận của Niezsche là không cần, và từ đó dẫn tới luận điểm « chúa đã chết ». Thực ra từ thế kỷ XVIII, các nhà triết học khai sáng Pháp đã đả phá thiên chúa giáo, nhưng họ không đụng tới vấn đề « đạo đức có gốc trong Chúa trời », do họ thấy chỉ cần tách chính trị khỏi tôn giáo là đủ, ngược lại « đạo đức có gốc trong chúa trời » lại giúp họ ổn định được xã hội, vì xã hội nào cũng cần niềm tin. Vì thế mặc dù cách mạng tư sản Pháp vào thế kỷ 18, cách mạng Anh vào thế kỷ 17 cách thời đại của Niezsche đã hơn 100 năm, vấn đề sống chết của chúa không được đặt ra. Cũng chính vì thế khi Nietzsche nói chúa đã chết, thì trong triết học phương Tây đã nổ một quả bom. Tại sao ? vì nếu đạo đức lối sống không còn phải là do chúa đặt ra, tức là ta làm gì cũng được, như là gà sổng chuồng làm gì còn thiện ác, và từ đó cũng không còn niềm tin. (Phương Tây đặt chuẩn đạo đức là do tin theo chúa, bây giờ « chúa đã chết » thì cái chuẩn niềm tin ở đâu) . Nếu không có niềm tin, thì cũng có nghĩa là cuộc sống không còn ý nghĩa. Sự khủng hoảng này được gọi là « hư vô » (neant). Cái hư vô này không thể nhầm với KHÔNG của Thiền Tông.
Để giải quyết cái « hư vô » này, thì các nhà triết học phương Tây sau Nietzsche, mỗi người đưa ra một giải pháp. Ví dụ như Jean-Paul Sartres, người đưa ra thuyết hiện sinh, thì đưa ra giải pháp « không có bản thể », có hiện tượng nhưng không có bản thể, nếu dịch ra ngôn ngữ đời thường, có nghĩa là mỗi người phải tự tạo ra ý nghĩa cuộc sống cho mình, chứ không có ý nghĩa cuộc sống chung, không có cộng đồng. Thuyết này dẫn tới tự do cá nhân tổng thể. Vào khoảng đầu những năm 2000, ở VN cũng dịch cuốn tiểu thuyết « nôn mửa » của Sartes ra tiếng việt, đó là cuốn tiểu thuyết hiện sinh, nói lên cảm nhận « sự vô nghĩa của cuộc đời » của một nhân vật chính là giáo viên tỉnh lẻ ở Pháp. Sự vô nghĩa này được hình tượng hoá là « nôn mửa » với ý nghĩa chán ngán cuộc đời.
Bản thân Nietzsche cũng đưa ra giải pháp. Đó là « bất chấp thiện ác » (au-delà de bien et de mal) về đạo đức, đó là « ý chí quyền lực » (la volonté de puissance), đó là chia xã hội ra hai loại người. Loại thượng đẳng quý tộc dẫn dắt xã hội, và loại nô lệ. Tư duy của loại nô lệ .. chính là kinh thánh, vì theo Nietzsche, luật lệ theo kinh thánh là sự bất lực, là sự an ủi tinh thần của những kẻ nô lệ như trong tác phẩm Anti-christ (rất giống quan niệm tôn giáo là thuốc phiện của Mác, có điều với Mác tôn giáo là ước mơ hão huyền).
Phạm Công Thiện đi được tới hư vô của Nietzsche, nhưng rồi từ đó ông ấy ngoặc vào Thiền. Lấy cái hư vô cuả Nietzsche là không của Thiền. Kết của là Nietzsche cũng không được hiểu đến đầu đến đũa, chỉ có thể loè được giới trí thức Sài gòn cũ. Đồng thời ông ấy cũng ngộ sai Thiền, nhưng mà lại loè được ..Tây.
Phạm Công Thiện rời VN trước khi chế độ Sài gòn sụp đổ, để đi dậy về ..phật giáo ở một trường đại học Pháp. Vào khoảng những năm 60,70, ở phương Tây có cái mốt học phật, đặc biệt học Thiền, vì thế bất cứ người châu Á nào với phương Tây cũng là một nhà Thiền học tiềm năng. Giống như ở VN hiện tại, khả năng một người Âu Mỹ được một trung tâm dậy tiếng Anh thuê dậy tiếng lớn hơn so với người Việt dù có khi chẳng có bằng cấp gì cũng như không có trình độ sư phạm.
(còn tiếp)


--------------------
Tả Thiên Thanh



User is offlineProfile Card
Go to the top of the page
+
« Bài viết cũ hơn · Thiền Học & Tôn Giáo · Bài mới tiếp theo »
 

4 Trang « < 2 3 4
Topic Options
2 người đang chống cằm trầm tư ngâm cứu chủ đề này (2 khách vãng lai và 0 thầy mo tàng hình)
0 Thành viên:
 

Xem diễn đàn ở dạng TEXT - PDA - Pocket PC