Langven.com Forum

Giúp đỡ - Lục lọi - Dân l ng - Lịch
Full Version: Hiện sinh
Quán nước đầu làng Ven > Sáng Tác - Thảo Luận - Phổ biến kiến thức > CLB Văn Hoá - Lịch sử
Pages: 1, 2
Hưng
Triết học hiện sinh
Thụy Khuê

(Giới thiệu cuốn Triết học Hiện Sinh của Trần Thái Đỉnh)

Ngay ở Pháp hiện nay cũng khó tìm được một cuốn sách viết về triết học Hiện Sinh vừa đầy đủ, vừa dễ hiểu như cuốn của Trần Thái Đỉnh, do nhà Thời Mới in năm 1967 tại Sài Gòn. Võ Phiến, lúc đó là chủ nhà xuất bản Thời Mới, ghi lại: "Hai cuốn sách bán được nhanh nhất và nhiều nhất (thời ấy) là hai cuốn liên quan đến triết học tức là cuốn Triết Học Hiện Sinh của Trần Thái Đỉnh và cuốn Những Trào Lưu Lớn Của Tư Tưởng Hiện Đại, dịch của André Maurois" (Văn Học Miền Nam Tổng Quan, Nxb Văn Nghệ, 1986). Tại sao cuốn sách best sellers năm 1967 không phải là tiểu thuyết mà lại là sách về triết học? Đó là câu hỏi cần được đặt ra. Hiện tượng này mang nhiều ý nghĩa: Phải chăng thời kỳ những năm 60-70 triết học đã đi vào đời sống thường ngày? Phải chăng các giáo sư thời ấy đã thành công ít nhiều trong việc giảng dậy môn triết ở nhà trường và đại học, họ đã bình dân hóa triết học hơn các thời kỳ khác và đó có thể cũng là một trong những lý do khiến miền Nam, sau 54, đã có những thành tựu đáng kể trong việc đổi mới văn học, với những tác giả đào sâu vào nỗi đau nội tâm, vào bi kịch phi lý của cuộc hiện sinh con người như Mai Thảo, Thanh Tâm Tuyền, Vũ Khắc Khoan, Nguyên Sa, Dương Nghiễm Mậu, Bùi Giáng, Trịnh Công Sơn, Huỳnh Phan Anh, Nguyễn Đình Toàn, Trần Thị NgH. v.v...


Tác dụng triết học vào sáng tác thời ấy, đem lại cho văn học một chiều sâu mới. Tác dụng này đã được giáo sư Nguyễn Khắc Hoạch, cựu khoa trưởng Đại Học Văn Khoa, Sài Gòn, tức nhà thơ Trần Hồng Châu nhắc đến bằng những lời sau đây: "Thời 60-70, triết học phương Tây tương đối phát triển mạnh ở miền Nam [...] Triết lý này phát triển mạnh ở đại học Pháp [sau thế chiến], sau đó bước hẳn vào đời sống, đặc biệt ở thị thành với giới trí thức và thanh niên. Dĩ nhiên sang Việt Nam, cũng đồng hoàn cảnh chiến tranh, đồng tâm lý hoang mang, chán nản và mất hướng, những hạt giống hiện sinh tha hồ nẩy nở. Nhất là lúc đó, từ nửa sau thập niên 50, có một số trí thức Việt Nam du học ở pháp và Bỉ, về nước đã phổ biến các triết thuyết Hiện Sinh, hình thái Sartre và Merleau Ponty. Cộng thêm vào đó là lý thuyết phi lý (théorie de l?absurde) của Camus, rồi tới trào lưu nhân vị, personnalisme, của E. Mounier, một hệ tư tưởng được bồi đắp và đề cao ở Việt Nam bởi những người cầm quyền đương thời, đồng tôn giáo với tác giả.


Khi nói trí thức du học thời đó, tôi muốn đề cập đến một vài tên tuổi quen thuộc, nhất là 'tứ tru' của triều đình triết Tây tại miền Nam Việt Nam: Trần Văn Toàn và Lê Tôn Nghiêm, cả hai uyên bác và tường tận thấu đáo, Nguyễn Văn Trung sáng sủa, hệ thống và sắc bén, Trần Bích Lan Nguyên Sa tài hoa, uyển chuyển, 'văn chương'. Tất cả, ít nhiều trong từng giai đoạn, đều làm công việc tông đồ có hiệu năng cho trường phái của Sartre và tư tưởng Camus. Cần ghi nhận thêm nữa là những cố gắng của triết gia thần học Bửu Dưỡng -cũng thuộc đại học Văn Khoa-, người đã sáng tác ra tữ ngữ 'nhân vị' và từng đơn thương độc mã rao giảng, phổ biến triết thuyết của E. Mounier. Nhìn chung các tác giả kể trên đều có ảnh hưởng tới sinh viên, rồi từ đó lan ra giới trí thức và văn nghệ ngoài đại học, luôn luôn khao khát những sản phẩm tinh thần mới của Tây phương. Họ là những gạch nối, những người trung gian, chất súc tác không thể thiếu được trong sinh hoạt văn nghệ của thời 60-70" (phát biểu trong chương trình Văn Học Nghệ Thuật RFI tháng 3/1998, đăng lại trên báo Văn Học, California, số 147, tháng 7/1998 và in lại trong Dăm Ba Điều Nghĩ Về Văn Học Nghệ Thuật của Trần Hồng Châu, Nxb Văn Nghệ, 2001)





Cuốn Triết Học Hiện Sinh của Trần Thái Đỉnh mà chúng tôi muốn giới thiệu cùng bạn đọc hôm nay, là cuốn sách hiếm quý cho những bạn trẻ, muốn tìm hiểu nền triết học hiện đại của thế kỷ XX, không chỉ để thực dụng trong lãnh vực văn chương, mà còn để tìm một cách sống, một cách suy nghĩ, tìm hiểu chính mình để vượt mình.


Triết Học Hiện Sinh nằm trong loại sách nghiên cứu triết học của những giáo sư đại học có uy tín tại miền Nam. Đó là các giáo sư Trần Thái Đỉnh, Lê Tôn Nghiêm, Trần Văn Toàn, Nguyễn Văn Trung, Nguyên Sa Trần Bích Lan.


Trần Thái Đỉnh còn có bút hiệu là Trần Hương Tử, viết Triết Học Nhập Môn, Triết Học Hiện Sinh (1967), Triết Học Kant (1969), Biện Chứng Pháp Là Gì (1969), Hiện Tượng Học Là Gì (1969). Lê Tôn Nghiêm viết Heidegger Trước Sự Phá Sản Của Tư Tưởng Tây Phương (1969), Đâu Là Căn Nguyên Tư Tưởng (1970). Trần Văn Toàn viết Hành Trình Đi Vào Triết Học (1965), Xã Hội Và Con Người (1965), Tìm Hiểu Triết Học Karl Marx (1965), Tìm Hiểu Đời Sống Xã Hội (1967). Nguyễn Văn Trung viết rất nhiều tác phẩm, vừa triết học thuần túy, vừa triết học áp dụng vào văn chương, vào phê bình văn học, phê bình chính trị, phê bình xã hội v.v... Tác phẩm của Nguyễn Văn Trung gồm những cuốn như Biện Chứng Giải Thoát Trong Phật Giáo (1958), Nhận Định (5 tập), Xây Dựng Tác Phẩm Tiểu Thuyết (1962), Lược Khảo Văn Học (3 tập), Chủ Nghĩa Thực Dân Pháp Ở Việt Nam, Thực Chất Và Huyền Thoại (1963), Nhà Văn, Người Là Ai? Với Ai? (1965), Hành Trình Trí Thức Của Karl Marx (1966), Ca Tụng Thân Xác (1967), Ngôn Ngữ Và Thân Xác (1968), v.v... Nguyên Sa Trần Bích Lan viết những sách về văn học và triết học: Quan Điểm Văn Học Và Triết Học (1959), Descartes Nhìn Từ Phương Đông (1966), Một Bông Hồng Cho Văn Nghệ (1967), Một Mình Một Ngựa (1971).


Nếu trong một ngày gần đây, những cuốn sách của các tác giả này được lần lượt tái bản ở trong nước, thì hẳn chúng sẽ giúp đỡ rất nhiều cho giới trẻ, phần lớn còn thiếu vốn ngoại ngữ, nhưng muốn tìm hiểu tiến trình tư tưởng của con người trong thế kỷ XX. Đối với những văn nghệ sĩ muốn cách tân thơ văn, vấn đề lại càng khẩn thiết. Vì hầu như mọi hình thức văn nghệ đều gắn bó với các trào lưu tư tưởng, mà muốn cập nhật hóa văn nghệ thì trước hết phải cập nhật hóa tư tưởng.


Ở ngoài nước, vấn đề cũng không khác: Các tác giả ngoài nước có cảm tưởng rằng sự tự do và đọc được ngoại ngữ sẽ đương nhiên đưa tới việc đổi mới và cập nhật với văn chương thế giới. Mọi sự có lẽ không đơn giản như vậy: Từ việc biết ngoại ngữ để làm việc sinh sống, đến việc tìm hiểu tư tưởng của thế kỷ để đào sâu sáng tác của mình, không hiển nhiên dễ dàng, nhất là phần lớn những người cầm bút hải ngoại còn phải lo cuộc sống cơm áo hàng ngày, sáng tác nằm trong lãnh vực cuối tuần, trà dư tửu hậu. Trong sách báo hải ngoại, đôi khi có những tác giả muốn bước thẳng vào những cái mới nhất của thời đại này, họ đưa ra những isme thật tân kỳ, ầm ỹ, nhưng thường họ lại không giải thích được cặn kẽ nội dung những điều muốn nói, rút cục lại cũng rơi vào cái trống rỗng của những người muốn bước vọt quá cao mà không dựa trên một nền tảng suy luận vững chắc về "cái biết" của mình. Bi kịch chung của người viết trong nước và ngoài nước hôm nay là có một khoảng trống tư tưởng của nhân loại chưa cập nhật được, một phần của khoảng trống đó là triết học Hiện Sinh.





Trong thế kỷ XX, Hiện Sinh là triết học chủ yếu, đã đưa con người trở lại với con người. Con người của thế kỷ XX, từ chối vai trò Thượng Đế, cho nên nhà văn cũng từ chối vai trò sáng tạo theo phong cách Thượng Đế của các thế kỷ trước, nghĩa là "biết tất cả". Nhà văn trong thế kỷ XX, nhũn nhặn trở lại địa vị con người, sáng tác bằng những gì thuộc khả năng của mình, họ viết với tri giác, với trí tưởng tượng và hồi ức của họ. Về mặt hình thức, Hiện Tượng luận của Husserl đưa ra cách mô tả mới. Đó là cách nhìn sự vật từ nhiều hướng khác nhau, giúp các tiểu thuyết gia có những phương tiện mới để nhận thức về sự vật. Cho nên khi chúng ta than phiền là văn học Việt Nam khô cứng, truyện ngắn, tiểu thuyết Việt Nam không phát triển được, thơ ca của chúng ta bế tắc, thì đó là bởi chúng ta vẫn còn nhìn sự vật theo lối nhìn của thế kỷ XIX, viết theo kiểu viết của thế kỷ XIX và có lẽ đó là cơ nguyên sâu xa của sự khô cứng hiện nay.


Cuốn Triết Học Hiện Sinh của Trần Thái Đỉnh là một trong những cuốn sách mở cửa cho chúng ta vào nền tư tưởng chủ yếu của thế kỷ XX, vào sự tìm hiểu con người. Sách được chia làm 10 chương. Ba chương đầu nói về lập trường của triết học Hiện Sinh, những đề tài chính của triết học Hiện Sinh và hai ngành của triết học Hiện Sinh. Bẩy chương sau vết về bẩy triết gia hiện sinh: Kierkergaard, ông tổ hiện sinh chính thực, Nietzsche, ông tổ hiện sinh vô thần, Husserl, ông tổ văn chương triết lý Hiện tượng luận, Jasper, hiện sinh hướng về siêu việt, Marcel, hiện sinh và huyền nhiệm, Sartre, hiện sinh hư vô, Heidegger, hiện sinh và hiện hữu.


Trong phần đầu, trình bầy lập trường của triết học Hiện Sinh, Trần Thái Đỉnh lược kể mục đích của triết học cổ điển từ Aristote đến Hegel, để người đọc có thể so sánh sự khác biệt giữa triết học cổ điển với triết học Hiện Sinh và đó cũng là mấu chốt sâu xa của sự khác biệt giữa văn học cổ điển và hiện đại.


Triết học cổ truyền Tây phương, thay vì giúp con người suy nghĩ về thân phận và định mệnh mình, lại chỉ khuyến khích con người quên mình để tìm hiểu những lẽ huyền vi của tạo hóa. Câu định nghĩa của triết học kinh viện là: Triết học là khoa học về vạn vật, lấy những nguyên nhân tối cao để giải nghĩa chúng. Như thế, con người không có chỗ đứng riêng, con người cũng bị coi là trong hàng vạn vật. Trong cả bộ triết học Aristote, không dành phần nào cho con người hiện sinh hết, không bàn đến tự do, không bàn đến nhân vị, không bàn đến định mệnh và những gì đợi chúng ta sau khi chết. Vũ trụ to quá, át tất cả. Con người bị bỏ quên. (trang 11, 12).


Vũ trụ quan của Aristote cho ta thấy một con người bị chìm trong vũ trụ.


Descartes với sự khám phá ra chủ thể tính con người và tự do mang nặng chất hiện sinh, đã hé nhìn thấy đường đi của triết học. Đối với Descartes, không thể có triết học về vũ trụ mà chỉ có khoa học về vũ trụ và triết học về tinh thần. (trang 15)


Đáng tiếc là Descartes đã chỉ dừng lại ở tinh thần con người mà không tìm hiểu con người như một thực thể sinh tồn, có thần, có xác.


Kant và Hegel còn đẩy xa tinh thần hơn nữa thành thử triết học vẫn luẩn quẩn trong thái độ ý niệm, coi con người là một vật thể, cho con người là thế này, thế kia. Trong khi con người có thể thế này mà cũng có thế thế kia, có thể là quỷ hay là thánh, có thể sống làm thân trâu ngựa, sướng đời con vật, hay trái lại cũng có thể chọn đời tù ngục, miễn là nói được sự thực và sống xứng đáng tự do. (trang 15)





Như vậy, nội dung của triết học Hiện Sinh không phải là con người phổ quát, con người viết hoa của Aristote, mà là khảo sát con người có xương có thịt đang sinh hoạt hàng ngày trong xã hội. Con người đó là tôi, là anh, là chúng ta hết thẩy và từng người một. (trang 15)


Là con người sinh hoạt, tôi là một chủ thể và tôi là một nhân vị tự do. Chủ thể tính và nhân vị tự do là hai đề tài chủ yếu của triết học Hiện Sinh.


Triết học Hiện Sinh xây dựng trên chủ thể tính, không coi con người là một sự vật của toàn bộ vũ trụ như trong triết học cổ điển nữa mà coi con người như một hữu thể đứng trên vũ trụ và có quyền gán cho vũ trụ một giá trị tùy quan điểm của mỗi người. (trang 19)


Khi con người đã ý thức được chủ thể tính của mình thì vũ trụ liền mất vẻ thần thánh của nó: những sấm sét, những tinh tú, mặt trời, mặt trăng không còn là những thần linh cao quang nữa ... Con người nhận định một cách sáng suốt rằng: Không có sự vật gì có giá trị tuyệt đối.


Con người hiện sinh là con người tỉnh ngộ, dám nhìn thẳng vào sự thật với nhãn quan, với khả năng của mình. Nhãn quan này không phải là nhãn quan của Thượng Đế, cũng chẳng phải là nhãn quan của thần linh, của các bề trên, của vua chúa đời xưa, của lãnh đạo, lãnh tụ đời nay, của ông thầy hay của bất cứ ai ban bảo. Mà là nhãn quan của cá nhân mình.


Tự do ở đây không phải là cái tự do của thế giới tự do. Tự do ở đây là tự do hiện sinh, tức là tự do bên trong, tự do phát xuất từ bản thể. Tự do lựa chọn, tự do quyết định. Tự do ở đây là dám là mình. Nếu tôi cứ sống như cái máy, ở trên bảo sao tôi làm vậy, người ta bảo sao mình làm vậy, thì tôi mới chỉ sống như một sinh vật, chưa sống cái kiếp người của tôi. Cuộc sống ù lì đó, sống chỉ để sinh tồn, sống như cây cỏ đó, Sartre gọi là buồn nôn, Camus cho là phi lý, Heidegger gọi là tầm thường, và con người muốn vượt khỏi cuộc sống tầm thường, buồn nôn, phi lý, thì phải vượt lên trên mình, phải sống một cách độc đáo (unique), phải là một chủ thể độc đáo (sujet unique). Độc đáo ở đây không có nghĩa lập dị mà chỉ có nghĩa là tự do chọn lấy một lối sống riêng, không bắt chước người khác và cũng không chịu sự sai bảo, kiềm chế của người khác. Độc đáo là tự xác định nhân vị của mình. Nhân vị và tự do là nội dung của Hiện Sinh.


Về mặt hình thức, tri thức của triết gia cổ truyền là tìm biết bản tính sự vật và cả bản tính con người nữa. Thí dụ, triết học cổ truyền cho biết: bản tính con người là "một con vật có lý trí". Vì có lý trí nên có suy luận, có suy luận thì biết chọn điều thiện, bỏ điều ác v.v... (trang 29)


Văn chương cổ điển rập theo khuôn khổ triết học cổ điển ấy, cũng tìm hiểu tâm lý nhân vật, giải thích tại sao người này làm thế này, tại sao lại làm thế kia, nhân vật này nghĩ thế này, nhân vật kia nghĩ thế kia v.v... Tóm lại, triết học cổ truyền chủ trương rằng con người có thể biết được bản tính của sự vật và con người. Triết học Hiện Sinh, ngược lại, cho rằng chỉ có Thượng Đế mới biết được bản tính của muôn loài, còn chúng ta, con người, chỉ có cái nhìn phiến diện về sự vật. Vì chúng ta chỉ có cái nhìn phiến diện về sự vật nên đã phát sinh trường phái cái nhìn (Ecole du regard) trong tiểu thuyết mới: tức là nhà văn phải nhìn nhiều lần sự vật trong nhiều chiều hướng khác nhau, mỗi lần nhìn, nhà văn biết rõ thêm một chút về sự vật.

Bởi vậy, nhà văn hiện sinh mô tả sự vật, đặt sự vật dưới nhiều ống kính khác nhau. Lối mô tả này phát xuất từ Hiện tượng luận của Husserl, khác hẳn với lối mô tả trong văn hiện thực cổ điển.


Tóm lại, triết học Hiện Sinh là triết học chỉ cho ta những suy nghĩ về thân phận làm người, văn hiện sinh là văn mô tả, chủ ý của triết học Hiện Sinh là làm sao cho con người thấy sự buồn nôn của lối sống tầm thường, bảo sao nghe vậy, sống để sinh tồn giống như sinh vật, để vươn lên một đời sống độc đáo, có nhân vị của con người tự do. (trang 30)


Triết học Hiện Sinh có hai gốc đối lập nhau:

- Gốc Kierkergaard -bắt nguồn từ những truyền thống Hy Lạp (Socrate) và Thiên Chúa Giáo- hướng về Thượng Đế.


- Gốc Nietzsche -bắt nguồn từ những tư tưởng ngược chiều với truyền thống Hy Lạp- Nietzsche chủ trương tiêu diệt Thượng Đế để tiến tới con người, con người siêu nhân (surhomme).


Kierkergaard

Trước hết là Kierkergaard, ông tổ Hiện Sinh đích thực. Kierkergaard sinh ngày mùng 5 tháng 5 năm 1813 tại Copenhague, Đan Mạch; ông là triết gia đầu tiên đã đem đời mình, đời cha mình ra để suy nghiệm về nỗi thống khổ của con người. Với ông, con người không phải là con người trừu tượng, con người phổ quát, con người được đem ra làm vật thể để lý luận như trong triết học duy lý của Hegel, con người mà ông khảo sát ở đây là chính bản thân ông, với những giai đoạn trong đường đời. Đó là lý do khiến ông trở thành ông tổ đích thực (authentique) của triết học Hiện Sinh. Sau này, Sartre, Camus, Simone de Beauvoir và những tác giả có khuynh hướng hiện sinh khác, như các nhà văn trong phong trào tiểu thuyết mới v.v... hầu như tất cả đều viết về mình, đều tra khảo chính mình để tìm hiểu sự thật dưới các dạng thức khác nhau. Triết học của Kierkergaard là triết học nghiệm sinh trên cá nhân tác giả.


Kierkergaard nhìn thấy trong kinh nghiệm sống của mình, ba giai đoạn hiện sinh:


Giai đoạn đầu là giai đoạn hiếu mỹ: thời còn sinh viên, chìm đắm trong sắc dục, bị cám dỗ. Kierkergaard bắt đầu suy nghĩ về tội lỗi, về buồn chán, về khổ đau. Những tội lỗi mà Kierkergaard luôn luôn nhắc đến, có thể chỉ là trụy lạc trong trí tưởng tượng, trụy lạc của cảm giác thẩm mỹ. Giai đoạn thứ nhì là giai đoạn đạo hạnh: Kierkergaard yêu người con gái tên Régine Olsen, ông chấm dứt thời kỳ phiêu đãng, ăn chơi. Ông muốn người yêu cùng với mình vươn lên tới giai đoạn thứ ba: giai đoạn tôn giáo. Đặc tính của đời sống tôn giáo gồm hai chữ độc đáo và tin yêu. Theo Kierkergaard, con người tôn giáo là con người đã tìm được nhân vị của mình, không còn bị trói buộc bởi những luật lệ phổ quát của luân lý nữa. Nếu hỏi: Tại đâu con người có thể biết mình là một nhân vị độc đáo? Kierkergaard trả lời: Tự ý thức về tội lỗi. Chính tội lỗi là cái làm cho con người tự cảm thấy đơn độc. Tội lỗi làm cho con người có tương quan với tuyệt đối, dám tiếp xúc với thực tại cao cả nhất là Thượng Đế. (trang 92)


Kierkergaard vạch mặt, chỉ tên những người như Hegel chỉ lấy lý luận để mong giải nghĩa tất cả. Ông trình bầy một tâm hồn hiện sinh luôn luôn bị dằn vặt, vật lộn với chính mình để vượt qua những chặng đường đời. Kierkergaard đã thật sự mang triết học về với con người. Là một linh mục, Trần Thái Đỉnh đã dành cho Kierkergaard những trang phân tích tràn ngập ưu ái và đồng cảm.
Hưng
Nietzsche

Viết về Nietzsche, Trần Thái Đỉnh phê bình có khắc nghiệt hơn, nhưng đồng thời ông cũng cho người đọc thấu nhận những giá trị chân xác của Nietzsche.


"Hãy là mình", câu nói của Nietzsche trở thành châm ngôn sống cho nhiều thế hệ ở phương Tây. Ngay từ cuối thế kỷ XIX, Nietzsche đã tiên đoán rằng phải đến rạng đông của thiên niên kỷ thứ ba, ông mới được thật sự đọc và hiểu một cách thấu đáo.


Nhắc lại lời tiên tri này, nguyệt san văn học có tiếng của Pháp, Le magazine littéraire ra một số đặc biệt về Nietzsche trong tháng 10/2001. Vẫn tờ Le magazine littéraire này, số tháng 11/2001 có chủ đề Hiện tượng luận. Như thế, triết học của Nietzsche cũng như Hiện tượng luận của Husserl vẫn còn là những trào lưu tư tưởng đang được khám phá và những áp dụng vào văn học, nghệ thuật, vào đời sống hàng ngày của con người sẽ còn được kéo dài trong thế kỷ XXI.


Trong cuốn Triết Học Hiện Sinh, Trần Thái Đỉnh dành chương năm và chương sáu để viết về hai triết gia Nietzsche và Husserl. Nietzsche được coi là ông tổ Hiện Sinh vô thần và Husserl là ông tổ văn chương triết lý hiện tượng luận.


Frédéric Nietzsche sinh ngày 15 tháng 10 năm 1844 tại Roecken, miền trung nước Đức; cha là mục sư. Từ hồi nhỏ, Nietzsche đã say mê âm nhạc, soạn nhiều bài thơ và bản nhạc để ca tụng thiên chúa. Năm 20 tuổi, Nietzsche theo học ngành triết học và thần học tại đại học Bonn, rồi chuyển sang đại học Leipzig. Những năm ở đại học đã khiến Nietzsche xa dần tôn giáo. Ông say mê học thuyết của Schopenhauer và âm nhạc Wagner. Từ năm 1869, Nietzsche giảng dậy ở đại học Bâle. Ba năm sau, ông cho in tác phẩm đầu tiên, tựa đề Nguồn Gốc Của Bi Kịch (La naissance de la tragédie).


Sau mười năm dậy học Nietzsche từ chức giáo sư đại học và bắt đầu cuộc đời phiêu bạt, nay đây mai đó giữa Đức, Pháp, Ý. Từ 1889 trở đi, hoạt động tinh thần của Nietzsche ngày càng phong phú. Ông viết không ngừng. Hầu như mỗi năm đều có sách phát hành. Từ 1879, mang bệnh nhức đầu kinh niên, nhức mắt, buồn nôn. Nietzsche mất năm 1900, trong điên loạn và tê liệt hoàn toàn tại Weimar ở tuổi 56.


Trần Thái Đỉnh viết: Tư chất của Nietzsche thực là họa hiếm. Nietzsche đã nhằm một cuộc cách mạng tinh thần như chưa từng thấy: Ông nhằm đổi lại cái bảng giá trị luân lý và xã hội. Những gì người ta vẫn tôn trọng tự trước đến nay sẽ bị ông thóa mạ và lên án; tóm lại ông sẽ đặt lại và tạo ra những nhận định hoàn toàn mới về thiện và ác. Cho nên triết học của ông có thể mệnh danh là "Đảo lại tất cả các giá trị". Thay vào những giá trị tư tưởng hoàn toàn duy niệm của truyền thống Socrate, Nietzsche đã đề cao những giá trị của Hiện Sinh, và thay vào những giá trị "yếm thế" của các tôn giáo, Nietzsche đã thay vào cái lý tưởng của người hùng (le surhomme) và ý chí hùng cường (volonté de puissance). (trang 114)

Nietzsche chịu ảnh hưởng sâu sắc tư tưởng của Schopenhauer, triết gia Đức đầu thế kỷ XIX. Tư tưởng Schopenhauer có ba điểm chính:


1. Vai trò vô cùng quan trọng của chủ thể. Schopehauer chủ trương: Vũ trụ là cái nhìn của tôi. Câu này chứng tỏ không có một vũ trụ bất biến cho tất cả mọi người mà chỉ có những cái nhìn từ những quan điểm nhất định nào đó về vũ trụ. Schopenhauer xác định chủ thể tính là một trong những tính chất cơ bản của triết học Hiện Sinh.


2. Điểm thứ nhì là vai trò quan trọng gán cho ý chí. Các triết gia trước Schopenhauer đều coi trí tuệ là thành phần chủ lực trong con người. Nhưng Schopenhauer chủ trương và chứng minh rằng: "Ý chí mới là yếu tố căn nguyên và nền tảng trong con người; chính ý chí hướng dẫn và cai trị trí tuệ và tiềm năng". Theo ông, chân lý bao giờ cũng là một thái độ của một người đối với một hoàn cảnh nhất định. Cho nên chỉ có chân lý khi có tôi và đối tượng của tôi. Không có chân lý viết sẵn cho tất cả mọi người. Thành thử các chân lý của các triết gia cổ điển chỉ là một mớ sáo ngữ, và ông viết: "Mớ tri thức khổng lồ của người học giả thường chỉ là một thứ tri thức chết, một tri thức trừu tượng, sáo ngữ".


3. Điểm thứ ba: Vai trò quan trọng của thân xác và nhân vị. Schopenhauer cho rằng: "Chủ thể tri thức là một người sống thực, một nhân vị với thân xác nhất định. Sở dĩ tôi nghĩ thế này mà không nghĩ như anh Ầt, anh Giáp và tất cả mọi người khác vì tôi là một nhân vị độc đáo." (trang 117)


Tóm lại, ba yếu tố chủ thể, ý chí và thân xác trong triết học Schopenhauer sau này sẽ là những thành tố quan trọng của triết học Hiện Sinh. Từ ảnh hưởng Schopenhauer, Nietzsche đã xây dựng nền triết học của mình trên hai cơ sở:


1. Phê bình các giá trị cổ truyền và dựng thuyết siêu nhân tức thuyết con người mới của Nietzsche. Ngay từ những tác phẩm đầu tay như Nguồn Gốc Của Bi Kịch và Sự Phát Sinh Của Triết Học (La naissance de la philosophie), Nietzsche đã đả phá triệt để triết học duy niệm mà ông coi Socrate là tổ phụ. Theo ông, Socrate đã mắc tội giết chết tinh thần hùng cường và sức sống mãnh liệt của Hy Lạp thời nguyên thủy, thời kỳ mà hai thần Apollon, thần của ánh sáng và mực thước, và Dionysos, thần của sức sống và say sưa, luôn luôn thay phiên nhau xuất hiện để chung đúc nên nền văn minh Hy Lạp với những thiên trường ca bất hủ của Homère. Nietzsche đem tinh thần sảng khoái, nghệ sĩ của Dionysos để đối lập với tính chất thuần lý của siêu hình học Socrate, và theo ông, chính cái tinh thần phóng khoáng, say mê, bất chấp thiện ác ấy là cái sức sống chưa tự ý thức về mình, là hiện sinh chưa bị trừu tượng hóa bởi những quan niệm và những ngôn ngữ khái quát, chưa bị mớ lý thuyết luận lý của Socrate triệt hạ. Và đó chính là lý tưởng nghệ thuật đối với Nietzsche. (trang 121)


2. Theo Nietzsche, không thể có chân lý trừu tượng. Chân lý trừu tượng chỉ là một thứ tri thức do người khác dạy và ta chấp nhận mà không xem lại. Cái hợp lý là cái trừu tượng, nó lạnh lùng như xác chết nên nó vô bổ cho cuộc hiện sinh. Nietzsche tranh đấu cho một tri thức mới: tri thức cụ thể gắn liền với thực tế sống động. Tri thức cụ thể nằm trong cuộc sống hiện sinh của mỗi người và nó có những thước đo khác nhau tùy theo quan điểm của từng người.





Để phê bình nền luân lý cổ truyền, Nietzsche chia nền luân lý này làm hai loại: Luân lý chủ ông và luân lý nô lệ. Luân lý chủ ông là luân lý của giai cấp thống trị. Cái gì liên lạc tới bọn quý tộc, thống trị là tốt. Quý tộc thống trị có bản tính ngang tàng, kiêu hãnh, cho nên luân lý chủ ông xây dựng trên lòng tự tín, tự đại, kẻ hào hùng.


Luân lý nô lệ thì ngược lại, người nô lệ bị đàn áp, yếu hèn, cho nên họ lập ra bảng giá trị riêng của họ, họ lập ra đức nhẫn nại, khiêm tốn, từ bi ... đó là đức của những người bất lực. Nietzsche khinh bỉ các tôn giáo như Do Thái, Ki Tô và Phật giáo, ông cho rằng tôn giáo là sản phẩm của những kẻ bệnh tật, hèn yếu, không có can đảm để đấu tranh, sống cuộc sống hiện sinh ở đời này nên mới tạo ra những giá trị yếm thế, chối bỏ cuộc hiện sinh để mưu cầu cuộc sống hạnh phúc ở đời sau. (trang 126)

Trong cuốn Ainsi parlait Zarathoustra (Zarathoustra Đã Nói Như Thế), một trong những tác phẩm nòng cốt của ông, Nietzsche mượn miệng Zarathoustra để nói ra những mặc khải mới của ông về con người. Zarathoustra là một bậc thánh hiền, có dòng máu Arya đã sống trên đất Ba Tư hồi thế kỷ thứ VI trước Tây lịch, và đã rao giảng một thứ đạo gần giống Bà La Môn ở Ần Độ. Nietzsche mượn miệng Zarathoustra để nói lên tư tưởng hiện đại của mình.


Đối với những hình thức luân lý hoặc tôn giáo cổ truyền khinh chê thân xác, Nietzsche bảo: thế thì đừng sống nữa, sống để chờ chết như thế là sống thừa, và ông tuyên bố: "Tôi là xác và hồn". Hoặc: "Tôi chỉ là thân xác mà thôi", câu này dẫn tới quan niệm tư thân (corp propre) của Marcel và Ponty sau này. (trang 130)


Triết lý người hùng (surhomme) của Nietzsche nhằm đả phá tất cả những học thuyết nào không giúp cho con người phát triển khả năng vô tận của cuộc hiện sinh, trong đó ông coi hiện sinh tôn giáo là hiện sinh nô lệ, vô bổ. Bởi vậy, phải giết Thượng Đế thì con người siêu nhân mới có cơ xuất hiện.


Mà siêu nhân là gì? Đây là định nghĩa của Nietzsche: Siêu nhân hay người hùng là con người hoàn toàn tự chủ, không lệ thuộc vào những thói tục do luân lý cổ truyền tạo nên để nô lệ hóa con người. Người hùng có ý thức sâu xa về tính cách tự chủ của mình, hắn muốn dùng cuộc đời của hắn để thể hiện quyền tự chủ vô cùng quý báu đó. Nietzsche viết: Hãy luôn luôn trở nên chính mình, hãy là ông chủ và nhà điêu khắc để tạc nên chính mình. Nói tóm lại, đừng nhắm mắt làm nô lệ kẻ khác, đừng để bảo sao làm vậy, phải có ý chí tự quyết, tự tìm lấy lối đi. Tự quyết, tự chọn là những ý chí căn bản của cuộc hiện sinh. Con người phải tự vượt mình.





Theo Nietzsche, quần chúng tuy đông về số nhưng không có ai là người hết, họ chỉ là những bóng vật vờ, bảo sao nghe vậy. Nietzsche viết: "Ở ngoài công trường, ta nói với hết thảy mọi người mà kỳ thực không nói với người nào hết". Quần chúng chỉ là cái miệng để hoan hô, đả đảo. Những tay lãnh đạo bảo hoan hô thì quần chúng hoan hô, bảo đả đảo thì quần chúng lại đả đảo ngay. Quần chúng thực là một cái máy khổng lồ và vô hồn". (trang 141)


Ai muốn sống cuộc hiện sinh của mình thì phải thoát ra ngoài cuộc sống vô hồn ấy, phải dám suy nghĩ lấy, không để cho ai nghĩ hộ, phải luôn luôn tìm cách vượt chính mình, phải tìm con đường đi của mình, sống phải sáng tạo, phải dám nghĩ những cái chưa ai nghĩ, phải tự giác và tự giải thoát ... không cảnh nô lệ nào nhục nhã bằng nô lệ tinh thần. Kể cả nô lệ người thầy. Cho nên Zarathoustra nói rằng: "Ông thầy dậy ta làm người chứ không dậy ta làm học sinh suốt đời. Chư đệ phải xa ta ra. Phải chống lại ta. Biết đâu ta đã chẳng là một kẻ bịp bợm".


"Hãy coi chừng đừng để cho thần tượng đè chết". Tư tưởng của Nietzsche không phải là một học thuyết khép kín mà chỉ cho ta lối mở, lối đạp đổ tất cả những học thuyết đã có, phá tan những căn nhà tiền chế về tư tưởng, để lại bắt đầu. Bài học của Nietzsche là sự bắt đầu miên viễn, l?éternel retour. Con người phải bước qua Thượng Đế, bước qua thánh thần, bước qua Nietzsche, bước qua chính mình mà đi. Tác phẩm của Nietzsche là tác phẩm mở. Từ một điểm nào đó trong tác phẩm của ông, chúng ta đều có thể bắt đầu làm lại, đi con đường khác, cho nên tác phẩm của ông luôn luôn là đề tài cho các cuộc tranh luận không ngừng, mỗi người có thể tìm thấy ở đó những cách đọc, cách hiểu khác nhau, kể cả Hitler lẫn Mussolini đều đã chịu ảnh hưởng thuyết người hùng của Nietzsche. Cho nên Trần Thái Đỉnh đã có lý khi ông viết: Mặc dù các tội ác của bọn Đức Quốc Xã không thể đổ cả cho Nietzsche, nhưng ai cũng biết rằng quân đội Hitler đã trao tay nhau những trang sách Nietzsche ca tụng người hùng và con người siêu nhân.


Tuy nhiên ảnh hưởng của Nietzsche đối với Tây phương ngày nay thực là lớn lao [...] Nietzsche đã xuất hiện như một trận bão táp kinh thiên động địa: những lời lẽ tuy ngạo mạn nhưng thống thiết của ông đã lay chuyển tư tưởng nhân loại, như ít khi thấy trong lịch sử. Đọc Nietzsche, chúng ta thấy như bị tát vào mặt, ta thấy hổ thẹn vì thói ươn hèn của tư tưởng ta, ta thấy hổ thẹn vì thái độ nô lệ và thụ động của ta, ta chưa vươn tới mức làm người tự do. (trang 150) Ta thấy ta như lũ trẻ con ngày ngày nhai đi nhai lại những lời lẽ của thánh hiền, coi đó là những bùa hộ mệnh, tưởng chừng như những lời kinh hoa mỹ kia có phép màu để giải quyết cuộc nhân sinh của ta, mà ta không biết rằng ỷ lại như thế là sống thêm nô lệ. (trang 151)

Một lời răn của Nietzsche trong Zarathoustra Đã Nói Như Thế: "Anh đã đi con đường từ giun lên làm người, nhưng vẫn còn rất nhiều giun dế trong anh. Xưa kia, anh là khỉ, và ngày nay, loài người vẫn còn khỉ hơn bất cứ con khỉ nào."

Với những lời như thế, triết học của Nietzsche trước ngưỡng cửa thế kỷ XXI vẫn còn là một liều thuốc đắng cho những tâm hồn muốn vươn lên, thoát khỏi kiếp nô lệ để sống kiếp người.
Hưng
Hiện tượng luận Husserl

Năm 2001 là năm kỷ niệm 100 năm ra đời của Hiện tượng luận Husserl. Sinh nhật này đã được những người làm văn học ở Tây phương đánh dấu một cách trân trọng với những buổi hội thảo, những số báo đặc biệt nhắc lại Hiện tượng luận và vai trò của nó trong văn học toàn cầu. Vậy Hiện tượng luận là gì?


Trần Thái Đỉnh trong Triết Học Hiện Sinh viết:


"Husserl (1859-1938) đã coi khoa Hiện tượng học là một cái nhìn cách mạng triệt để, chấm dứt thời kỳ ngây thơ của những triết gia và khoa học gia đi trước ông. Ông thường gọi Hiện tượng học là Căn để chủ nghĩa (radicalisme), vì nó có chủ đích tìm hiểu đến nguồn ngọn tri thức của con người dưới tất cả mọi hình thức, từ hình thức thường nghiệm đến hình thức khoa học." (trang 153)


Nhưng cốt lõi của Hiện tượng luận là gì? Tại sao Hiện tượng luận lại đóng một vai trò quan trọng như thế trong văn học thế kỷ XX?


Như chúng ta đã biết, triết học cổ truyền đi đôi với văn học truyền thống và triết học Hiện Sinh đi đôi với văn học hiện đại.

Triết học cổ truyền, vì mải tranh luận về con người phổ quát, vì mải tìm đến con người lý tưởng, cho nên dễ bỏ qua con người bằng xương bằng thịt đang sống cuộc hiện sinh này. Ngoài ra, triết học cổ truyền cũng đã quá thản nhiên với cuộc đời, coi cuộc đời là thiên nhiên, và thiên nhiên thì lúc nào cũng thế. Husserl gọi thái độ trên đây của triết học cổ truyền là thái độ duy nhiên (naturaliste); và vì thấy duy nhiên là lối bí, nên ông mới khám phá ra Hiện tượng luận. (trang 155)


Có thể nói ngắn gọn, trước Husserl đã có hai quan niệm cổ điển về vũ trụ.


Theo Aristote thì vũ trụ là tất cả. Vũ trụ bất biến, cho nên khi người quân tử đã đạt được cái nhìn đích thực về vũ trụ rồi, tức là đã đạt được chân thiện mỹ rồi, thì không cần học nữa mà chỉ cần truyền bá cái đạo của mình mà thôi.


Quan điểm thứ hai là Hiện tượng luận Hegel. Đó là Hiện tượng luận về tinh thần. Hegel chứng minh rằng: Tất cả vũ trụ hiện hữu này chỉ là phản ảnh tinh thần con người: tức là tôi nghĩ thế nào thì vũ trụ xuất hiện đúng như thế; vũ trụ Hegel là vũ trụ Kiều, người buồn cảnh có vui đâu bao giờ, cho nên nhà tâm lý học chỉ cần nghiên cứu tâm trạng của con người là có thể biết hết về vũ trụ.


Tóm lại, có hai quan điểm về vũ trụ. 1) Vũ trụ bất biến, con người phải tìm ra cái nhìn đích thực về vũ trụ. 2) Chủ thể có quyền tuyệt đối về vũ trụ tức là chủ thể xác định vũ trụ. Hiện tượng luận của Husserl dung hòa hai quan niệm trên và đưa ra cái nhìn mới để ghi nhận những biến thái muôn mầu của vũ trụ.





Theo Husserl, chủ thể không có quyền tự đặt mình làm tuyệt đối và đối tượng (tức sự vật) cũng không phải là bất biến. Bởi vì cùng một sự vật mà mỗi người chúng ta thấy nó một cách khác nhau. Đối với Husserl, thì tôi coi sư vật là đối tượng, tức là môt hiện diện, sự vật là một hữu thể đang đối diện và đối thoại với tôi. Cho nên tôi và sự vật (hay vũ trụ) là đồng hạng với nhau, không ai có quyền tuyệt đối trên ai.


Cái học thời cổ, là học trò lập lại những lời của thánh hiền. Tử viết, Aristote viết, Tử nói, Aristote nói, Socrate nói, bởi vì đó là những lời của người quân tử đã đạt tới chân thiện mỹ rồi. Học trò không cần xét lại. Chỉ học như con vẹt.


Nhưng nếu lấy Hiện tượng luận mà xét lại thì sẽ thấy ngay những lời Tử viết ấy, lời Platon, Socrate ấy, ngày nay còn chỗ nào có giá trị, chỗ nào đã lỗi thời. Cũng như nếu lấy Hiện tượng luận mà xét thì câu ca dao "Ta về ta tắm ao ta, vừa trong vừa đục ao nhà vẫn hơn" hủ lậu và thoái hóa vô cùng. Nếu triết học cổ điển công nhận có chân lý hiển nhiên và coi cái nhìn của ta về vũ trụ là hiển nhiên và tất nhiên, thì trái lại, với Husserl, không có cái gì là hiển nhiên và bất biến hết. Hiện tượng luận không dành ưu tiên cho bất cứ một cách nhìn nào về sự vật, về vũ trụ, nhưng nó quyết tâm tra vấn những cái nhìn đó, không coi cái nhìn nào là tất nhiên nữa, và quyết chí tìm cho ra cái nền tảng căn do đã làm cho ta nhìn thế này mà không nhìn thế kia. (trang 160) Thành thử nếu muốn nhập môn Hiện tượng luận, chúng ta phải lột xác, bỏ những ý kiến cố định đi để theo Husserl đứng vào những cách nhìn như ta chưa từng làm bao giờ hết. (trang 160)





Nhìn lại văn học thế kỷ XX, hầu như những tác giả lớn đều ít nhiều chịu ảnh hưởng của Hiện tượng luận.


Jean Paul Sartre đã áp dụng Hiện tượng luận vào mọi thể loại văn học của ông, từ phê bình đến truyện ngắn, kịch ... Ví dụ cách mô tả nhân vật của Sartre qua Roquentin trong Buồn Nôn. Ông đã mổ xẻ đến kiệt cùng sự nhận thức của Roquentin về chính mình, về từng động tác, từng cảm giác, từng tri giác của chính mình. Trong truyện ngắn Le mur, Bức Tường, Sartre đã dùng Hiện tượng luận để mổ xẻ nỗi sợ của con người, chủ yếu là của những tử tù trước khi chết. Trong Les Mots, Chữ Nghĩa, Sartre đã dùng Hiện tượng luận để mổ xẻ xã hội trưởng giả mà ông xuấ? thân, qua ngôn ngữ của chính nó. Trong Qu?est ce que la littérature, Văn Chương Là Gì?, Sartre dùng Hiện tượng luận để tra khảo văn chương, tìm đến nguồn cội của sự viết, cách viết, tại sao viết ... Tóm lại, Hiện tượng luận cho phép tác giả đi đến kiệt cùng một hiện tượng, một vấn đề mà tác giả muốn trình bầy cho người đọc.


Trong tiểu thuyết mới, Alain Robbe Grillet là người chịu ảnh hưởng sâu sắc Husserl, ông áp dụng Hiện tượng luận để mô tả đến kiệt cùng một sự vật. Khác với Jean Paul Sartre, lối mô tả của Alain Robbe Grillet lả lướt và có nhiều hình tượng hơn, nhưng vẫn là Hiện tượng luận. Chỉ một màn cô gái xõa tóc chải đầu, trong cuốn La jalousie (Bức Mành Mành), Alain Robbe Grillet có thể viết thành một bài thơ dài, vừa mơ hồ, vừa chính xác. Ông nghe thấy "tiếng" tóc lao xao, bối rối mỗi lần bàn tay chuyển động, cái lược đưa lên, kéo xuống, da đầu xao động với cán ngà... Một vết con rết chết dí trên tường, cũng được ông quay đi quay lại đến mươi lần, và mỗi lần nhà văn lại lục lọi trong hồi ức, ra một kỷ niệm hay một nhận thức khác trước.


Tóm lại, Hiện tượng luận bắt buộc nhà văn phải nhìn hiện tượng dưới nhiều góc độ khác nhau, bắt buộc đạo diễn phải quay một cảnh dưới những ống kính khác nhau, và mỗi khi đổi vị trí, nhà văn hay đạo diễn lại khám phá ra một khía cạnh mới của hiện tượng, của sự vật. Trường phái cái nhìn, Ecole du regard, trong tiểu thuyết mới thoát thai từ Hiện tượng luận; do vậy, nhà văn "mới" không mô tả như nhà văn cũ. Cái khác nhau của họ là: đối với các nhà văn cổ điển, cái bàn là cái bàn, cái ghế là cái ghế, chúng chỉ có bốn chân, và tả thêm nữa thì nó làm bằng gỗ lim, gỗ gụ, nó tập tàng hay nó còn mới toanh ... nhưng nếu ở dưới mắt một nhà văn chịu ảnh hưởng Hiện tuợng luận thì sẽ thấy cái bàn ấy có bao nhiêu vết nứt, mỗi vết nứt có hình thù gì và mỗi vết nẻ là dấu ấn của một cuộc ẩm thực nào, của một buổi tiễn đưa nào v.v...


Hiện tượng luận bắt buộc nhà văn đặt đối tượng tức vật thể ở trước mắt để tra khảo trí nhớ, kỷ niệm của mình, tra khảo giác quan của mình mà mô tả. Như thể một người đã đỗ bằng bác sĩ, nếu học thêm về giải phẫu thì sẽ có thể mổ xẻ được những bộ phận của con người một cách tinh vi hơn, còn không thì anh ta chỉ là một bác sĩ toàn khoa, chuyên trị bệnh cảm cúm nhưng không thể đi sâu vào những khúc mắc bên trong mỗi phần thân thể riêng của con người.


Khi mô tả như vậy, đối tượng hay hiện tượng sẽ hiện ra dưới bộ măt?khác, khác hẳn với lối mô tả -dù là tả chân- trong cách viết hiện thực cổ điển. Bởi trong cách viết hiện thực cổ điển, nhà văn nhìn sự vật như một điều bất biến: Cô Huyền là một cô Huyền do tác giả tạo ra, tức là tác giả "hình dung" ra. Trong lối nhìn Hiện tượng luận, tác giả mang cô Huyền để trước mặt và chiếu nhiều ống kính hiển vi khác nhau vào cô Huyền. Ta sẽ thấy cha cô Huyền nhìn cô Huyền một cách khác, mẹ cô Huyền nhìn cô Huyền một cách khác, anh cô Huyền nhìn cô Huyền một cách khác, người yêu cô Huyền nhìn cô Huyền một cách khác ... Và càng chiếu nhiều ống kính khác nhau vào cô Huyền thì chân dung cô Huyền càng sống động, nó không chỉ có một chiều duy nhất như tác giả cổ điển nghĩ ra. Tóm lại, Hiện tượng luận không cho nhà văn nghĩ ra, tức là bịa ra một cái gì đó để viết, mà nhà văn phải khảo sát, phải kiểm nghiệm, phải để đối tượng trước mắt để ngắm nhìn, phải cho đối tượng sống lại bằng hồi ức, kỷ niệm, kinh nghiệm sống của nhà văn, phải nhìn kỹ, nhìn đi, nhìn lại để khám phá ra những bí mật của đối tượng.


Triết học cổ điển chủ trương con người có thể biết thấu bản tính, biết đến đáy lòng của sự vật và của con người. Nhưng triết học Hiện Sinh, đặc biệt là Hiện tượng luận của Husserl, cho rằng chúng ta không biết rõ bản tính của ai hết, kể cả của người lẫn vật, những cái nhìn của chúng ta về sự vật thường phiến diện, vì vậy chúng ta phải có cái nhìn trắc diện, đo, đạc và phải có nhiều cái nhìn trắc diện khác nhau, nhìn trước, nhìn sau, nhìn từ phía trên, nhìn từ phía dưới, tóm lại là luôn luôn đổi cái nhìn thì mới mong đi sâu vào sự hiểu biết sự vật, tìm thấy những sắc thái mới mẻ của nó, và cho đến mãi mãi, sự vật vẫn dành cho ta những bỡ ngỡ nếu ta biết thay cái nhìn để tìm hiểu nó hơn. (trang 166)


Hiện tượng luận dựa trên phương pháp khoa học được Husserl gọi là những giảm trừ (reduction). Có ba giảm trừ chính:


- Giảm trừ triết học: buộc ta phải xét lại tất cả những học thuyết của tiền nhân.


- Giảm trừ yếu tính: giúp ta đặt vũ trụ hiện hữu vào trong ngoặc đơn để chỉ nhắm nó như một hiện tượng.

- Và sau đó là giảm trừ Hiện tượng luận: nhờ đó ý thức được gỡ ra khỏi tất cả những bám víu của thái độ duy nhiên trước đây để chỉ còn là những cái nhìn thuần túy, trắc, diện về mọi sự, kể cả những tâm tình của chủ thể. (trang 172).

Cho nên Husserl luôn luôn nhắc đến nhiều đợt (couches) khác nhau, nhiều hình thái khác nhau của ý thức: cũng là cái nhìn, có khi sâu, có khi nông, cũng là hoài niệm, có khi là hoài niệm đầu tiên, có khi là hoài niệm thứ nhì, tức là ta nhớ rằng ta đã nhớ như thế này, thế nọ v.v... Ví dụ cũng là cái nhà số X đường Tú Xương chẳng hạn, hằng ngày tôi vẫn đạp xe qua đó đến trường, tôi nhìn thấy đó là một cái nhà, sau đó, tôi cần mua nhà để ở, tôi bắt đầu để ý đến chiếc nhà đó, cái nhìn của tôi đã đào sâu hơn, sau khi đã bàn bạc trong gia đình, và đã gần như đồng ý mua, tôi lại nhìn nó bằng đôi mắt khác, vì ý hướng đã mỗi lần mỗi đổi khác, cho đến khi vào hỏi chủ nhà, được mời đi xem trước sau, trong ngoài, cái nhìn của tôi càng sâu hơn, tâm tình và ý hướng tôi càng đổi mãi; thành thử theo Hiện tượng luận, tôi phải tả được những "hiện tượng nhà" mà tôi đã kinh nghiệm đối với cái nhà số X đường Tú Xương đó. Đối với những cảnh vật và những người mà tôi giao tiếp cũng thế, và càng hơn thế nữ: tôi phải dùng Hiện tượng luận để mô tả đúng những cái nhìn của tôi đối với họ ở mỗi chặng đường đời, ở mỗi tình trạng riêng biệt [...]. Không nói thêm. Không nói bớt. Nhất là không sáo ngữ. (trang 187)



Nhiều người làm văn học hay mượn cớ lãng mạn để viết phóng, viết bịa ra những tình cảm hoặc mô tả những con người không có thực trong đời sống, tóm lại tác giả nhầm lẫn sự hư cấu với sự bịa đặt, không sống thực, nhầm lẫn tưởng tượng văn học với tưởng tượng bịa đặt.

Tưởng tượng văn học là vẽ lại những hình ảnh mình đã kinh qua trong đời sống một cách nghệ thuật. Nhà văn phải viết bằng tri giác và kinh nghiệm sống và khi họ bước ra ngoài hai lãnh vực ấy để bịa ra những mẩu đời, những mẩu tâm tình không ăn nhằm gì với cuộc sống, thì họ thất bại.

Cũng phải nói thêm rằng lối mô tả trong hiện thực cổ điển chỉ là lối chụp ảnh thiên nhiên và hiện tượng theo lối nhìn cổ điển, tức là nhà văn trước hết đã thấu suốt hết mọi lẽ, mọi sự và anh ta chỉ việc đưa ra cái ảnh của cái gọi là sự biết ấy của anh về sự vật, về thế giới, là xong.

Ngược lại, trong cái nhìn Hiện tượng luận, nhà văn, trước hết, không biết gì về hiện tượng mà anh mô tả và anh ta phải truy lùng, phải tìm kiếm, phải vật lộn với tri giác và kinh nghiệm sống mới có thể viết về đối tượng mà anh ta khảo sát, và những điều mà anh ta đưa ra cũng không bao giờ là kết quả cuối cùng về sự vật, về hiện tượng đó mà chỉ là một cách tìm kiếm mà thôi.

Đó là lý do mà một nhà văn như Alain Robbe Grillet cứ viết đi viết lại một chủ đề án mạng, trong nhiều tác phẩm, với những nhân vật giống nhau, và mỗi lần viết, ông ta lại tìm ra những nhận xét mới. Cho nên, nếu đi sâu vào Hiện tượng luận thì nhà văn sẽ khó có thể bí đề tài, bởi bất cứ một đề tài nào, ta cũng có thể đào bới nó bằng trăm cách nhìn, cách viết khác nhau: Một mái đình làng, một cuộc lễ hội, một đám cháy v.v... tất cả đều có thể được khảo sát đến vô cùng bằng phương pháp nội soi vừa khoa học, vừa triết học, vừa văn chương của Hiện tượng luận.

Thụy Khuê
Paris, tháng 11/2001
Phó Thường Nhân
Chủ nghĩa Hiện sinh, theo tôi là một dạng Chủ nghĩa Mác chủ quan cá nhân. Bây giờ nó đã hết mốt, nhưng qua đó có thể thấy cách phân tích của Tây Âu như thế nào. Đọc sách của Sartre tương đối khó, vì mình không biết ông này bắt đầu từ đâu, cái gì đã có sẵn, cái gì cần chứng minh. Do điểm xuất phát của ông ta , ít nhất đối với tôi, không rõ ràng.
Nếu tôi tìm lại được những cái tôi đã đọc thì sẽ góp vui. Nhưng quả thực đọc ông này ngại lắm.
koibeto81
Xin bác Phó tha cho Mác... >:(
koibeto81
Người ta vẫn coi Chủ Nghĩa Hiện Sinh là một trong những khuynh hướng triết học chủ yếu có nguồn gốc ở Chủ Nghĩa Phi Lý Tính, một thứ chủ nghĩa Duy Tâm cực đoan, gạt bỏ ngay cả những yếu tố vốn được coi là tiến bộ của chủ nghĩa Duy Tâm cổ điển, thay vào đó nó ca ngợi và tung hô một cách hơi quá mức những yếu tố vốn được xem là "phản động" nhất đã từng được đề cập đến trong triết học Duy Tâm cổ điển.

QUOTE
Như vậy, nội dung của triết học Hiện Sinh không phải là con người phổ quát, con người viết hoa của Aristote, mà là khảo sát con người có xương có thịt đang sinh hoạt hàng ngày trong xã hội. Con người đó là tôi, là anh, là chúng ta hết thẩy và từng người một.



Triết học Hiện Sinh lấy "sự hiện hữu" của mỗi một cá nhân cụ thể làm điểm xuất phát cho mọi lý lẽ của nó. Dưới ánh sáng của triết học Hiện Sinh, mỗi cá nhân cụ thể "hiện hữu" với những đặc tính/đặc điểm cụ thể của nó, được bộc lộ/thể hiện trong một cuộc sống cụ thể tương ứng. Nói một cách khác, người ta nhận biết "sự hiện hữu" của mỗi cá nhân cụ thể thông qua những đặc tính/đặc điểm cụ thể của anh ta bằng cuộc sống cụ thể của chính anh ta. Với chủ nghĩa Hiện Sinh, không có khái niệm Con Người Nói Chung vì nó chung chung, không cụ thể, không sống...do đó nó không Hiện Hữu.

QUOTE
Là con người sinh hoạt, tôi là một chủ thể và tôi là một nhân vị tự do. Chủ thể tính và nhân vị tự do là hai đề tài chủ yếu của triết học Hiện Sinh.


Ở đây, cần phân biệt khái niệm "Nhân Vị" trong chủ nghĩa Hiện Sinh với khái niệm "Nhân Vị" trong chủ nghĩa Nhân Vị.

Khái niệm "Nhân Vị" trong chủ nghĩa Nhân Vị bao gồm 3 nội dung cơ bản sau đây, có thể coi như 3 "cách hiểu" hoặc "cách giải nghĩa" của từ Nhân Vị nhưng tất nhiên là "cách hiểu" hay "cách giải nghĩa" của môn Triết Học chứ không phải "cách hiểu" hay "cách giải nghĩa" của môn Ngữ Nghĩa Học.

"Nhân vị" là một khái niệm dùng để chỉ con người mà con người ở đây gồm có thể xác và linh hồn mà linh hồn giữ vai trò quyết định đối với thể xác, là linh thiêng và bất tử.

"Nhân vị" còn có thể hiểu là "cách" mà chủ nghĩa Nhân Vị thể hiện thái độ của nó đối với con người, tức thái độ đối với Nhân vị. Theo cách hiểu này, chủ nghĩa Nhân Vị cho ta thấy rằng, nó là một thứ chủ nghĩa coi trọng con người trên cơ sở đã xác định được vị trí cao cả của con người trong Vũ Trụ.

Cách hiểu hay cách giải nghĩa cuối cùng của "Nhân vị" trong chủ nghĩa Nhân Vị là : chủ nghĩa Nhân Vị khẳng định, nó là một chủ nghĩa nhằm phục vụ con người, mưu cầu hạnh phúc cho con người từ đó đem hạnh phúc đến cho toàn nhân loại.

Trong chủ nghĩa Hiện Sinh, khái niệm "Nhân vị" được đồng nhất với khái niệm Hiện Sinh Thể. Chủ nghĩa Hiện Sinh cho rằng, con người sinh ra, lúc đầu chỉ là một "hữu thể" mà chưa phải là một "hiện hữu" càng chưa phải là một "hiện sinh thể". Chỉ sau khi, con người, bằng chính "ý thức" của mình, một cách hoàn toàn cá nhân tự lựa chọn cho mình một "ý nghĩa" và chỉ kể từ lúc đó thì con người mới bắt đầu được chủ nghĩa Hiện Sinh xem xét với tư cách của một Hiện Sinh Thể. Chủ nghĩa Hiện Sinh cho rằng, chỉ sau khi xác định cho cá nhân mình một "ý nghĩa" cụ thể, con người mới thực sự được coi là đã Hiện Hữu, "ý nghĩa" đó được hiểu là ý nghĩa về cuộc sống của chính mình.

PS : em sẽ cố gắng viết tiếp...lúc nào rảnh ;D
longatum
em tự dưng kiếm được cuốn The Wall của cụ Sartre. đọc thấy cụ ý viết ngon ra phết sp_ike.gif chẳng giống sách triết tẹo nào. cũng sống chết cười cợt, sếch siếc các kiểu luôn. có điều sex của cụ hơi bị hay của nó. bác nào đọc chưa nhỉ? bệnh ơi là bệnh sp_ike.gif
Phó Thường Nhân
To Longatum, Jean-Paul Sartre còn là một nhà văn. Ông dùng văn chương để tải triết học, chứ không giống như một số nhà triết học khác viết triết dưới dạng nghị luận.
To Koibeto81, Khổ một nỗi là không tha ông Mác được. ;D vì hai điều. Tôi cũng như nhiều người khác đều được đào tạo dưới mái trường XHCN, cho nên chủ nghĩa Mác là cái cửa duy nhất để tiếp cận văn hoá Tây Âu. Ở đâu đó tôi có nói ông này như Aristote đối với triết học cổ đại Hi lạp, chính là vì lẽ đó. Một cái cửa thứ 2 có lẽ là Thiên chúa giáo, nhưng cửa này đối với tôi hơi bị khó, vì nó ngược lại tất cả những truyền thống Vn mà tôi bị ngấm như Phật, Lão, Nho, nên không dùng được. Đó là lý do thứ nhất. Lý do thứ nhì là nếu nói đến Jean-Paul Sartre vả Merleau-Ponty thì càng khó thoát khỏi nghĩ đến Mác. Về cuối đời Sartre tuyên bố "chủ nghĩa Mác là chân trời không thể vượt qua nổi của nhân loại", rồi "trí thức đứng về phía người lao động". Một trong những hình ảnh ông này để lại là bức ảnh ông đứng trên thùng rượu rỗng ủng hộ công nhân của hãng Renault đình công. Ông cũng sang Liên Xô nhiều lần cùng với vợ là Simone de Beauvaire. Học thuyết của Sartre thực tế là thay cái tôi riêng bằng một cái tôi chung, được coi như tổng thể của những cái tôi riêng. Cái tôi chung này có thể gọi là thoả thuận (convention) hay người ta nói kiểu triết học là intersubjetivité. Chính cái thoả thuận này được Sartre thay thế vào yếu tố khách quan của học thuyết Mác. Ông ta đưa ra điều này để lý giải quan niệm vận động lịch sử của Mác. Trong chủ nghĩa Mác nói LS vận động là do đấu tranh giai cấp và phương thức sản xuất. Theo Mác như vậy phương thức sản xuất (yếu tố khách quan) quyết định sự vận động xã hội. Ví dụ Xã hội tư bản được tạo dựng do có hình thức sản xuất TBCH, hình thức này sản sinh ra giai cấp TB khiến nó tiến tới lật đổ chế độ phong kiến. Nhưng đồng thời Mác lại yêu cầu giai cấp công nhân phải có sự tự nhận thức(conscience de classe) để lật đổ TB. Điều này hoàn toàn là yếu tố chủ quan, chứng tỏ phương thức sản xuất (điều kiện khách quan) không thể quyết định được sự thay đổi xã hội một mình, đồng nghĩa là nếu không có nhận thức chính trị kia thì CNTB sẽ vẫn mãi là CNTB. Cho nên cái ý thức chủ quan kia trong thực tế lại là quan trọng nhất. Từ đó dẫn đến sự định nghĩa lại yếu tố khách quan bằng một sự tổng hợp của nhận thức chủ quan. Vì vậy tôi mới nói chủ nghĩa hiện sinh là chủ nghĩa Mác chủ quan . Hiểu Sartre như thế, thì mới hiểu tại sao ông lại thân Liên xô, và tuyên bố về CN Mác như nói ở trên.
Hôm qua viết mấy chữ, nhưng không đọc bài của Ubu pốt, vì buồn ngủ quá. Hôm nay đọc lại cảm thấy Tác giả viết về Hiện Sinh như vậy thì hơi rộng quá. CN Hiện sinh (existancialisme) là của J-P. Sartre, cỗi rễ của nó chỉ bắt nguồn từ thuyết hiện tượng của Husserl thôi, chứ làm sao leo lên tới được Kierkergaard rồi Nietzsche. Có cảm tưởng tác giả gần với thuyết nhân vị (personalisme) hơi hướng Thiên chúa giáo hơn là Jean Paul Sartre.
koibeto81
Chúng ta đã biết, điểm xuất phát của chủ nghĩa Hiện Sinh là sự "hiện hữu" của các Hiện Sinh Thể. Cũng theo chủ nghĩa Hiện Sinh, cái quan trọng nhất quyết định sự hiện hữu của mỗi cá nhân hay thậm chí sự hiện hữu của cả cái thế giới xung quanh chúng ta là trực giác, cảm tính, ý thức (thức giác)...dễ thấy, chúng hoàn toàn là những cái mang tính chủ quan của mỗi người, của mỗi cá nhân. Thể hiện ở việc, chủ nghĩa Hiện Sinh cho rằng ta chỉ thực sự hiện hữu sau khi tự ta đã tìm hay chọn cho chính mình một "ý nghĩa".

Về thế giới nói chung, chẳng hạn một con sông, một dòng suối...với chủ nghĩa Hiện Sinh, thế giới tự nhiên mà chúng ta đang sống trong đó chỉ là "thế giới cái nhiên" hiểu theo nghĩa là có cũng được không có cũng được, bởi tự nó không hiện hữu, và chúng chẳng có liên quan hay ảnh hưởng gì đến mỗi Hiện Sinh thể. Chúng sẽ chỉ là những cái vô thưởng vô phạt nếu Hiện Sinh Thể không bằng ý thức (thức giác) mang đến cho nó một ý nghĩa.

Như thế có thể thấy, với chủ nghĩa hiện sinh, một "cái" được coi là hiện hữu chỉ khi nó mang trong mình một Ý Nghĩa nào đó.

Chủ nghĩa Hiện Sinh chủ trương, chúng ta phải được lựa chọn cái "ý nghĩa" của mỗi chúng ta một cách hoàn toàn tự do. Tự do đó, theo các nhà Hiện Sinh, là một thứ tự do hoàn toàn, một thứ tự do tuyệt đối tùy thuộc vào cái chủ quan của mỗi Hiện Sinh thể. Có thể thấy là tự nhiên chủ nghĩa Hiện Sinh sẽ đem đối lập Tự Do (theo quan niệm của họ) với Quy Luật, với tính Tất Yếu (theo quan niệm của những người đương thời khác). Nhà Hiện Sinh kiên quyết phủ nhận mọi quy luật của đời sống xã hội. Hơn thế, họ còn tìm cách phủ nhận mọi hệ thống, mọi tổ chức và đặc biệt họ điên cuồng tìm cách phủ nhận mọi hệ thống lý luận (tất nhiên là phải khác với họ). Chủ nghĩa Hiện Sinh đề cao một cách tuyệt đối tính tự phát, cái ngẫu nhiên và đề rất cao kinh nghiệm sống của từng người.

Những ai tôn sùng sự tự do cá nhân...hẳn sẽ thấy rất sướng khi đọc đoạn vừa rồi vì chủ nghĩa Hiện Sinh quả đã rất khéo khi "gãi" đúng chỗ ngứa của người đó. Chúng ta, nói chung, có ai mà lại không đề cao sự Tự Do của Cá Nhân!!! Nhưng khi phải chọn cho mình một con đường để hướng tới Tự Do, phải thận trọng mới được. ;D
Phó Thường Nhân
Kobeito81 hiểu chưa thật hết nghĩa "hiện hữu" trong chủ nghĩa hiện sinh rồi. Cái thuyết này tôi xem loáng thoáng đã lâu quá nên quên gần hết. Để thử cóp nhặt, viết lại xem sao.
sp_ike.gif
koibeto81
QUOTE
Hôm qua viết mấy chữ, nhưng không đọc bài của Ubu pốt, vì buồn ngủ quá. Hôm nay đọc lại cảm thấy Tác giả viết về Hiện Sinh như vậy thì hơi rộng quá. CN Hiện sinh (existancialisme) là của J-P. Sartre, cỗi rễ của nó chỉ bắt nguồn từ thuyết hiện tượng của Husserl thôi, chứ làm sao leo lên tới được Kierkergaard rồi Nietzsche. Có cảm tưởng tác giả gần với thuyết nhân vị (personalisme) hơi hướng Thiên chúa giáo hơn là Jean Paul Sartre.


Trong chủ nghĩa Hiện Sinh có hai khuynh hướng khác nhau. Đó là chủ nghĩa Hiện Sinh hữu thần mà Soren Kierkegaard là đại diện tiêu biểu và chủ nghĩa Hiện Sinh vô thần mà Nietzche, Heideger và Sartre là những đại diện tiêu biểu.

"...chủ nghĩa Hiện Sinh hữu thần khẳng định sự hiện hữu của Chúa và con đường trở thành siêu việt của mỗi Hiện Sinh Thể chỉ là con đường trở lại trong lòng Thiên Chúa. Con người tội lỗi là con người xa rời Thiên Chúa. Và tự do của chủ nghĩa Hiện Sinh hữu thần là tự do trước Chúa, trong Chúa. Tức là con người được phép "tự do" trong khuôn khổ được Chúa cho phép. Những nhà Hiện Sinh hữu thần đòi hỏi mọi người phải tin một cách tuyết đối vào Chúa, có nghĩa là tin không cần giải thích, không lý do..."tôi tin chỉ vì tôi tin" , "tôi tin vì đó là phi lý"..." (1)

"...chủ nghĩa Hiện Sinh vô thần thì quả quyết "nếu Chúa có hiện hữu đi chăng nữa thì cũng chẳng liên quan gì đến ta" và "nếu Chúa không hiện hữu thì con người được phép làm tất cả". Không cần phân biệt thiên, ác, thậm chí Nietzsche còn cho rằng "càng đi sâu vào con đường xấu thì con người lại sẽ càng trở nên thánh thiện"..." (2)

(1),(2) : trích Mấy trào lưu Triết học phương Tây - Phạm Minh Lăng.

PS: phần có nói đến Mác em sẽ trả lời bác Phó sau vậy. ;D À...từ giờ bác cứ gọi em là Koi...cho nó tiện, vừa ngắn, lại ít sai. sp_ike.gif
Phó Thường Nhân
Jean Paul Sartre là một triết gia lớn của Pháp và Tây Âu, dù ở Vn người ta ít đề cập tới. Ông là người đề sướng ra thuyết hiện sinh. Phần lớn các học giả đều cho rằng, thuyết này có từ trước từ thế kỷ XVII với Pascal Blaise, qua Kiergaard rồi Nietzsche .. v..v.., tựu chung lại là hầu hết các tư tưởng triết học của Tây Âu chịu ảnh hưởng của đạo Thiên chúa , chính vì thế mà người ta phân biệt ra thuyết hiện sinh hữu thần rồi vô thần. Bài viết của U bu đưa lên là theo xu hướng này. Bản thân tôi không hiểu như thế. Học thuyết của Jean Paul Sartre là một học thuyết vô thần (phủ nhận sự tồn tại của Chúa), như vậy nó có một khoảng cách rất lớn so với các học thuyết hữu thần (chấp nhận Chúa là đấng tạo hoá). Nó gần với Mác hơn. Bản thân Sartre về sau cũng thiên về chủ nghĩa Mác. Vì thế ở phương Tây người ta chia học thuyết của ông này làm hai đoạn, chỉ lấy đoạn đầu mà bỏ đoạn sau. Với tôi thực ra nó chỉ là một học thuyết, và việc Sartre bắc cầu sang chủ nghĩa Mác chứng tỏ sự gần cận của hai học thuyết này. Ngược lại Sartre không chấp nhận Chúa bao giờ cả.
Chúa hay không Chúa đối với tôi cũng không phải là điều quan trọng, vì trong tư duy châu Á, ta không đặt ra câu hỏi này. Cao nhất trong triết học Đông phương người ta quan niệm có thiên lý (trong đạo Nho), nhưng đây không phải là ý chí một ông Chúa, mà chỉ là một quy luật điều tiết toàn bộ vũ trụ, mà con người là một bộ phận.Đây cũng là một lý do chủ quan khiến tôi quan niệm thuyết hiện sinh là của Sartre mà không liên quan tới các thuyết khác. Cùng lắm thì người ta có thể ngược dòng tới thuyết Hiện tượng của Husserl mà thôi.
Thuyết hiện sinh nguyên bản là existentialisme, bắt nguồn từ chữ existence nghĩa là tồn tại mà ra. Nhưng tại sao lại gọi là thế vì nó quan niệm sự tồn tại của con người có trước bản thể. Trong các nước Thiên chúa giáo, người ta quan niệm con người là do Chúa tạo ra. Chúa tạo ra con người theo ý Chúa. Đạo Thiên chúa gắn sự tồn tại của mỗi con người vào « cái ý của Chúa » này. Cái ý chung được thể hiện bằng giới luật, đạo đức,.. phải tuân theo. Nó chính là bản thể. Vì nó vừa có trong mỗi người vừa là mục đính mà Chúa đưa ra bắt con người làm theo. Như vậy con người sinh ra đã có mục đích., được quyết định bởi một quyền năng siêu phàm nằm ngoài vòng tay mình
Thuyết hiện sinh phủ nhận con người sinh ra bởi Chúa, như vậy nó phủ nhận cuộc sống bắt đầu bằng một chủ đích. Đây chính là điểm khác nhau quan trọng bậc nhất giữa con người và các vật vô tri vô giác khác. Nếu con người sinh ra hoàn toàn do một sự ngẫu nhiên, thì các vật vô tri vô giác khác lại được tạo ra từ chủ đích của con người. Ví dụ, trước khi cái cốc tồn tại thì nó phải được con người nghĩ ra cách nặn đất rồi nung lên(đây là sáng tạo) để dùng đựng nước (đây là mục đích). Như vậy cái cốc không thể tồn tại nếu không có ý định của con người. Ở đây ý định đi trước sự tồn tại. Ngược lại con người tồn tại rồi mới đi kiếm ý nghĩa cho cuộc sống của mình. Ở đây theo tôi , Thuyết hiện sinh đã lý giải rất thông minh câu đố triết học « duy vật hay duy tâm » thường được ví dụ bằng chuyện « con gà có trước hay quả trứng có trước ». Đối với con người thì đây là « Duy vật có trước duy tâm », vì không ai tạo ra con người cả. Đối với các vật thể thì « Duy tâm có trước duy vật », vì con người không tạo ra cái gì mà không có mục đích. Những vật con người tạo ra, đều được làm theo các quy luật do con người tìm ra, tức là không phụ thuộc vào vật sẽ được tạo ra, cho nên những quy luật này được coi là khoa học, vì nó khách quan. Người ta có thể kiểm soát được nó 100%. Ngược lại quy luật con người tự tìm cho con người thì không thể khách quan được, vì nó còn phụ thuộc vào ý định của mỗi con người đặt ra cho mình, từ đó suy ra quy luật của xã hội loài người là hoàn toàn không thể xác định, mang yếu tố chủ quan. Nó phụ thuộc vào ý chí và sức sáng tạo của con người là chính. Quy luật của xã hội loài người mang tính quy ước, không phải là quy luật. Đây chính là sự khác nhau giữa khoa học xã hội và tự nhiên. Ở đây có một sự đảo ngược rất thú vị. Nếu sự tồn tại tự nhiên của con người là duy vật, thì ý nghĩa cuộc sống, xã hội loài người lại duy tâm. Sự tồn tại của sự vật là duy tâm, do được tạo tác, thì quy luật chi phối nó lại duy vật (Toán,Lý, Hoá). Ở đây cũng nên lưu ý là thuyết hiện sinh lấy con người, và các hoạt động của họ làm trung tâm. Cho nên những sự vật nói ở đây là những sự vật do con người tạo ra cho mình, hay tác động vào nó. Còn những hiện tượng hoàn toàn thiên nhiên khác, như sông suối núi non, thì hiển nhiên bị chi phối bởi « duy vật » rồi, không cần phải bàn nữa. :-X
(Còn tiếp)
yuyu
QUOTE
Ở đây theo tôi , Thuyết hiện sinh đã lý giải rất thông minh câu đố triết học « duy vật hay duy tâm » thường được ví dụ bằng chuyện « con gà có trước hay quả trứng có trước ». Đối với con người thì đây là « Duy vật có trước duy tâm », vì không ai tạo ra con người cả. Đối với các vật thể thì « Duy tâm có trước duy vật


Tôi đang bận mà không thể không viết vài dòng vì đọc đoạn văn buồn cười trên của bác Phó ;D
- " duy vật hay duy tâm" chỉ là đặc sản riêng của triết học phương Tây, chứ không phải của triết học nói chung . Nói đúng hơn thì tư tưởng phương Tây xưa nay vẫn bận bịu với câu hỏi đầu tiên dường như khá lẩm cẩm là : Vật Chất và Ý Thức, cái nào có trước cái nào và cái nào quyết định cái nào ?
Từ câu hỏi lẩm cẩm cơn bản trên , dẫn đến một câu hỏi khác cũng lẩm cẩm không kém và bế tắc là " Con gà có trước hay quả trứng có trước ? " nghĩa là thuộc cặp phạm trù Nhân - Quả. Giữa Quả Trứng và Con Gà thì cái nào là Nhân và cái nào là Quả ?
Điều này không liên quan đến tính trước sau của cặp phạm trù cơ bản Vật Chất và Tinh Thần, nhưng liên quan đến quan niệm Thời Gian và Không Gian của triết học cổ đại phương Tây là Duy Nhất Tuyệt Đối và theo đường Thẳng một chiều.
Trong triết học cổ Trung Hoa hay Ấn Độ thì chẳng có duy tâm cũng chẳng có duy vật, thời gian và không gian cũng tương đối và " xoay tròn" ( tạm gọi thế ) ( cũng tạm gọi là duy thức ? Khi nào rỗi sẽ triển khai sau ).

- "Duy vật có trước duy tâm » hay " Duy tâm có trưóc duy vật" .
Những câu này mới thực sự buồn cười chắc chỉ vì bác không chú ý đến ngữ nghĩa thôi vì chắc muốn nói đến vật chất hay tinh thần cái nào có trước ; chứ chắc không phải muốn nói tư tưởng ?

Theo tôi ,muốn hiểu rõ Hiện Sinh cần phải có một cái nhìn khái quát về đặc điểm của tư tưởng triết học phương Tây ( và hình như cũng là đặc điểm chung của tư tưởng) , đó là tính chất phản ứng đối kháng về nhận thức thế giới mỗi khi có một tư tưởng dù là mới hay là luộc lại , tân trang các tư tưởng cũ.
Tư tưởng Hiện Sinh ra đời và trở thành mode hồi thập niên 50 ( và rộ trở lại hồi thập niên 70 ) nhằm phản ứng lại thuyết Lý Hội Trực Giác của Bergson vốn cũng trở thành mode hồi thập niên 30 ( nghĩa là hai cái này xuất hiện trước và sau WWII, là những giai đoạn có những biến chuyển quan trọng trong lịch sử thế giới).
Đến lượt tư tưởng Hiện Sinh vốn nhấn mạnh vào Chủ Thể lại bị phản hồi bởi thuyết Cấu Trúc nhấn mạnh vào Khách Thể nở rộ vào nhũng năm 60, 70 ( Mặc dù thuyết Cấu Trúc đã xuất hiện vào đầu thế kỷ 20 với Saussure , nhưng đã được hâm nóng lại và phát triển thêm với Lacan, Barthes v.v...)
Khi nào rỗi sẽ triển khai cho thêm phần rôm rả .... ;D sp_ike.gif
Phó Thường Nhân
Cảm ơn Bác yuyu sp_ike.gif
Tôi luôn viết vội, cho nên nhiều khi dùng thuật ngữ hoặc diễn đạt không được chính xác theo ý muốn. Khi tôi nói tới "Duy vật duy tâm" đúng là tôi muốn đề cập tới vấn đề mà triết học phương Tây đề ra "Vật chất quyết định tinh thần, hay tinh thần quyết định vật chất". Đáng nhẽ tôi sẽ phải sửa lại bài viết trên của tôi cho nó sáng sủa hơn, nhưng có lẽ cũng không cần thiết, vì Bác đã bổ sung rồi, cũng vì đây là diễn đàn. Viết bài theo hứng từng lúc, ý kiến hoàn toàn chủ quan, bài viết hoàn toàn không sửa, cứ như là thư hoạ vậy :P
Chủ nghĩa hiện sinh là một trường phái triết học phương Tây, nên cách đặt vấn đề của nó cũng kiểu Tây. Theo tôi cũng chưa có triết học nói chung cho toàn nhân loại. Đông và Tây vẫn là hai ngả. Mặc dù xu hướng của triết học phương Tây hiện đại bắt đầu có ảnh hưởng của phương Đông. Ngược lại không ít nước phương Đông cứng cựa, lại lấy triết Tây làm hệ tư tưởng.
Triết phương Đông dù là Phật, Lão, hay Nho đều không đặt vấn đề như phương Tây, cho nên nó thoát ra khỏi cái mâu thuẫn ấy. Nó tránh được, chứ không trả lời được. Nhưng hiện tại thì hình như không có nước phương Đông nào phát triển triết học cổ điển của mình để dựng thành hệ thống hiện đại. Trong tam giáo, Phật giáo là có sức nhất, vì có cả giáo đoàn khá mạnh, có thể coi là có đội ngũ chuyên môn, nhưng phần "ôn cổ" khá nhiều. Còn tạo ra cái mới có lẽ còn ít, phần nhiều là trong thiền, lại chủ yếu là các học giả Nhật.
Tôi không muốn xem xét thuyết hiện sinh vô thần từ triết học phương Tây, vì đấy không phải là nguồn gốc của tôi. Mà tôi lại muốn nhìn nó từ phương Đông. Còn đến được thế nào thì không biết.
Phó Thường Nhân
(tiếp)
Từ nhận thức con người sinh ra cũng như cây cỏ, không có mục đích gì, có khi còn là một "sự thừa" (une personne en trop), và quan niệm con người phải tự tạo cho mình ý nghĩa cuộc sống đã dẫn đến những hệ quả khá thú vị.
1. Hành động của Con người không thể hoàn toàn giải thích bằng duy lý, bằng lô gíc. Không thể lúc nào cũng suy diễn được. Ở đây phần cảm nhận khá lớn. Sartre còn đi tới kết luận là phần nhận thức (conscience perceptive), tức là phần cảm nhận từ ngoài vào còn đúng hơn phần ý thức (conscience imageant), tức là phần suy diễn, tạo dựng lô gíc của con người. Điều này không khỏi làm tôi nghĩ tới quan niệm "làm việc có lý có tình" ở Vn. Nói nôm na thì nhiều khi hành động của con người theo tình là chính, cho dù vô lý, nên không thể quy luật hoá được.
2. Một hệ quả nữa là Tự do, vì con người bắt buộc phải chọn lựa, tìm ý nghĩa cho cuộc sống. Nếu không thì chỉ tồn tại chứ không phải là sống. Cho nên Tự do gắn liền với số phận con người. Điều này được phương Tây coi như đỉnh điểm của thuyết hiện sinh.
3. Hẫng hụt, hoảng hốt. Đây là tôi dịch chữ la nausée (buồn nôn) ra. Tôi hiểu (không biết có chính xác không), thì Sartre dùng từ này chỉ thái độ khiếp sợ của con người trước sự Tự do, do bị "bắt buộc phải chọn lựa". Nó giống như kiểu người ta chóng mặt vì sợ độ cao, vì tự nhiên thấy mất tất cả chỗ dựa. Con người dù sao cũng có những thói quen do tập tục văn hoá, hệ tư tưởng tạo ra, nhưng khi không còn ở trong môi trường đó nữa sẽ có cảm giác bị "sụp đổ", "thế giới tiêu tan", "mất lòng tin", cũng chỉ do người ta tự nhiên nhận thấy sự tương đối của bao khái niệm mà trước đây tưởng là bất biến gây ra. Đây là hệ quả của sự Tự Do.

Những hệ quả này, phần lớn người ta hay cảm nhận, phân tích nó từ truyền thống phương Tây, tức là thiên chúa giáo từ hai chiều thuận và nghịch. Nhưng tôi lại cảm nhận nó từ Thiền mà ra. Phải nói ngay rằng đây chỉ là một cảm nhận của một người A ma tơ. Tôi không phải là Thiền sư chuyên nghiệp, cũng như không phải là triết gia hiện sinh.
Nhưng thử quy nó ra phạm trù (catégorie) Thiền xem sao. Cái hệ quả đầu nói về quy luật xã hội có thể quy ra phép vô ngôn của Thiền. Chỉ khác là Thiền còn vượt lên trên cả cảm nhận(Tình) và duy lý(Lý).
Hệ quả thứ 2 có thể quy ra Vô chấp. Nếu hiểu theo hướng mọi lý thuyết chỉ có tính tương đối, cho nên tuỳ từng thời điểm mà người ta sẽ phải chọn lựa những tư tưởng khác nhau, phù hợp tại thời điểm đó. Chỉ có điều khác là dù nhà Thiền nói vô chấp, nhưng những cái hiện hữu, tồn tại được chỉ được coi là hiện tượng. Đằng sau nó còn có một cái gì đó bất biến, luôn không đổi, được coi là phật tính. Đối với hiện sinh thì nó là hư vô (Néant) hiểu theo nghĩa không có gì.
Cái hệ quả thứ 3 chính là sự Giác ngộ của Thiền tông. Tôi còn nhớ được đại khái một công án khá ngộ của nhà Thiền. Một học trò trong một buổi vấn đáp hỏi một Thiền Tổ rằng "Phật là gì". Anh này lập tức bị Thầy véo một cái vào mũi, khá đau. Liền bật khóc hu hu và Ngộ. Sau ông cũng là một thiền sư nổi tiếng. :-X
(còn tiếp)
Phó Thường Nhân
(Tiếp)
Một hệ quả nữa cũng thú vị không kém, là không tồn tại định mệnh. Vì muốn có định mệnh, tức là cuộc sống phải có một chủ đích được tạo hoá bắt buộc. Thế cho nên Thuyết hiện sinh nói, chỉ đến lúc cuối đời, trước khi chết, con người mới có thể biết được định mệnh của mình. Hiểu như thế này, thì định mệnh là kết quả cuối cùng để lại của hành động con người xuyên qua suốt cuộc đời. Nó để lại cho người khác, chứ không phải cho mình. Thuyết hiện sinh không phải là thuyết duy nhất nói điều này. Trong đạo Nho, từ lâu đã có câu "Ngũ thập tri thiên mệnh", tức là người ta đến 50 tuổi mới có thể biết được mệnh trời. Mà 50 tuổi là tuổi bắt đầu về già, không kể ngày xưa, tuổi thọ của con người còn thấp hơn bây giờ, nên 50 tuổi đã là già lắm. Chỉ có khác là đạo Nho vẫn tin có thiên mệnh, nhưng người ta không thể biết được. Còn thuyết hiện sinh thì phủ nhận hoàn toàn nó. Nhưng kết quả thực tế cũng tương tự như nhau.
Thuyết hiện sinh coi trọng nhận thức chủ quan, cho nên Sartre phân tích nhận thức làm 3 thành phần.
1. Nhận thức tự nhiên (conscience en-soi). Đây là nhận thức cảm tính, gắn liền với 5 giác quan của con người. Nó có tính chất thu nhận. Sinh ra đã có.
2. Nhận thức tự nhận thức (Conscience pour-soi). Đây là nhận thức duy lý, lô gíc. Ở mức độ này nhận thức đã tự phân biệt được cái tôi chủ quan so với các cái tôi khách quan khác. Nói gọn lại là sự phân biệt, ý thức được cá nhân con người trong cái bể nhân loại.
4. Tồn tại trong hoàn cảnh (être en-situation), đây là nhưng điều kiện môi trường, cũng như quá khứ, lịch sử (ví dụ như hoàn cảnh gia đình, học vấn, kỉ niệm tuổi thơ...). Tóm lại là tất cả dấu ấn của không gian (môi trường), thời gian(Lịch sử) góp phần nhào nặn cái nhận thức tự nhận thức ở trên.

Người ta hay quan niệm rằng thuyết hiện sinh là học thuyết cá nhân chủ quan. Không hẳn là như vậy. Vì ngược lại với các học thuyết nhân vị của phương Tây khác, Sartre không coi cá nhân là Nguyên tử không thể chia cắt nhỏ hơn được của xã hội, và có thể tồn tại độc lập với xã hội. Ngược lại cá nhân tồn tại vì có đồng loại. Ông định nghĩa cá nhân là "hình ảnh của người khác nhìn mình". Nếu không có người khác (đồng loại), thì suy ra là không có cá nhân, vì không có cái nhận thức tự nhận thức. Định nghĩa này của Sartre so với "con người là tổng hợp các mối quan hệ" của Mác, hay định nghĩa con người của nhà Nho theo ràng buộc "Tam cương, ngũ thường", thực ra lại rất gần nhau. Tất cả đều phủ định sự tồn tại từ bản chất của cá nhân con người, mà chỉ coi nó là hệ quả của xã hội.

Cũng chính vì thế mà Sartre không có quan niệm chủ quan/khách quan. Ông nói muốn vượt lên trên nó. Nhưng do không công nhận một thực thể khách quan "cơ học", hoàn toàn thoát khỏi sự chi phối của con người mà ông đã coi khách quan là tổng hợp của những chủ quan riêng lẻ, được gọi là intersubjetivité, như tôi đã nói ở phần trên.

Chính do Sartre quan niệm rằng chủ quan/ khách quan chỉ là tương đối. Cũng như sự tự nhận thức (conscience en soi) có trước nhận thức tự nhận thức (conscience pour soi), mà ông cho là nhận thức tới từ cảm giác quan trọng hơn nhận thức lô gíc, ý chí, cũng như thực tế quan trọng hơn lý thuyết. Cho nên lý thuyết phải "xuống đường" đi vào thực tế. Những điều này đã khiến ông gần lại với chủ nghĩa Mác, do chủ trương của Mác dùng triết học thay đổi LS (Luận thuyết về Phơ bách).
(còn tiếp)
:-X
Hưng
Thật ra em cũng không thích cái bài viết này của bác Thuỵ Khuê cũng như cuốn sách của bác Trần Thái Đỉnh cho dù em chưa đọc cuốn sách đó. Căn bản là vì mấy nguyên nhân sau:
-Bài viết này rộng, lan man và có lẽ là sai sót nhiều (!), cũng như lan man vào vấn đề hiện tượng luận ảnh hưởng đến văn học ra sao ( mà cũng có vẻ không được ổn cho lắm ) .v.v.
- Em đã đọc một cuốn khác của ông Trần Thái Đỉnh và nói chung khá thất vọng.
- Em đã gặp ông Nguyễn Văn Trung ( mà trong bài trên có trích dẫn ) và cũng thất vọng nốt. Ông Trung giờ 73 tuổi, vẫn hồng hào minh mẫn nhưng có vẻ như đã lẫn và viết lách không được trôi chảy cho lắm, mặc dù, ông vẫn còn khá tinh ranh khi né tránh các câu hỏi có liên quan trực tiếp đến học thuật ;D chứ còn chưa nói gì đến chính trị. Điều này dẫn đến việc em nghi ngờ khả năng thực sự của các ông triết gia nổi tiếng miền Nam trước năm 75 như ông N.V. Trung, L.T. Nghiêm.. mà ông Thụy Khuê đã trích dẫn ra.
- Hồi trước đọc một cuốn về Freud của ông Phạm Minh Lăng em cũng thất vọng nốt.
- Heidegger, Kant, Husserl [1] là những triết gia mà sách của họ ( chính xác là ngôn ngữ viết của họ- thứ tiếng Đức pha latin và tự chế rất quái đản cũng như tư duy toán học, logic rất phức tạp ) rất khó tiếp cận, đặc biệt là với người nước ngoài cho nên việc đọc họ bằng tiếng Pháp, Anh có lẽ đã là một vấn đề chứ chưa nói đến việc lĩnh hội được bao nhiêu để có thể dịch, viết, phát biểu một cách khá hệ thống như ở miền Nam thời trước 1975.
Như vậy tóm lại là em không cảm thấy nên đọc sách triết Tây từ các tác giả VN. Duy chỉ có trường hợp ông Trần Đức Thảo-là người mà cả Bắc lẫn Nam đều công nhận là giỏi thì em chưa được đọc. Cũng mong là được đọc ông này và được một lần không thất vọng về triết gia VN. :P

--------
Giờ tán tiếp, theo em nghĩ, ở VN hay rõ hơn là miền Bắc Việt Nam trong vài chục năm qua Hiện sinh chủ nghĩa là thứ chủ nghĩa thời thượng của tầng lớp trí thức ( thôi thì cứ gọi là tầng lớp trí thức đi ). Hôm nọ về VN nói chuyện với anh bạn, anh ấy bảo là các ông được gọi là trí thức VN, ông nào mở mồm cũng "hiện sinh, hiện sinh" và kinh thánh gối đầu giường ( thật hay đùa nhỉ ?!?? ) của các ông ấy là một bản photocopy cuốn "Buồn nôn" của J.P. Sartre đã được dịch sang tiếng Việt từ trong thư viện quốc gia. Nếu đọc cuốn đó xong là thành trí thức VN thì mai em sẽ đi mua một cuốn. Các bạn khác muốn thành trí thức VN cũng nên vào thư viện quốc gia mượn cuốn đó đi photo một bản mà đọc. ;D ;D
Thêm một điểm nữa, là trí thức thế giới trong thế kỷ 20 theo hiện sinh rất nhiều, cũng nhiều đến mức mà người ta gọi trí thức là dân hiện sinh. Bác Phó nói đúng, trí thức thế giới thế kỷ 20- đa phần là có tư tưởng cộng sản cả, nên bảo Sartre với Marx gần nhau em thấy hợp lý.

--------
[1] Các tác phẩm chính của cả 3 ông này đều viết bằng tiếng Đức như "Kritik der reinen Vernunft" của Kant, "Sein und Zeit" của Heidegger và "Ideen I, II" của Hússerl đều là những cuốn cực kỳ khó đọc. Bản thân em dốt tiếng Đức nên ngó vào mấy cuốn này cái là.. chạy luôn một mạch không dám nhìn lại. ??? :P Chưa kể cả 3 ông này ( cũng như hầu hết các triết gia phương Tây ) đều là dân khoa học kỹ thuật- như Kant là học về chế tạo máy, Heidegger đồng thời học Thần học, Triết học và khoa học tự nhiên ( em không rõ ngành gì ) còn Husserl bản thân cũng là tiến sĩ toán học ( số học ) sau đó mới nghiên cứu tiếp triết học...
yuyu
[quote author=Ubu II link=board=9;threadid=1171;start=10#14265 date=1039826704]
Thật ra em cũng không thích cái bài viết này của ông Thuỵ Khuê cũng như cuốn sách của bác Trần Thái Đỉnh cho dù em chưa đọc cuốn sách đó. Căn bản là vì mấy nguyên nhân sau:
-Bài viết này rộng, lan man và có lẽ là sai sót nhiều (!), cũng như lan man vào vấn đề hiện tượng luận ảnh hưởng đến văn học ra sao ( mà cũng có vẻ không được ổn cho lắm ) .v.v.
- Em đã đọc một cuốn khác của ông Trần Thái Đỉnh và nói chung khá thất vọng.
- Em đã gặp ông Nguyễn Văn Trung ( mà trong bài trên có trích dẫn ) và cũng thất vọng nốt. Ông Trung giờ 73 tuổi, vẫn hồng hào minh mẫn nhưng có vẻ như đã lẫn và viết lách không được trôi chảy cho lắm, mặc dù, ông vẫn còn khá tinh ranh khi né tránh các câu hỏi có liên quan trực tiếp đến học thuật ;D chứ còn chưa nói gì đến chính trị. Điều này dẫn đến việc em nghi ngờ khả năng thực sự của các ông triết gia nổi tiếng miền Nam trước năm 75 như ông N.V. Trung, L.T. Nghiêm.. mà ông Thụy Khuê đã trích dẫn ra.
- Hồi trước đọc một cuốn về Freud của ông Phạm Minh Lăng em cũng thất vọng nốt.
- Heidegger, Kant, Husserl [1] là những triết gia mà sách của họ ( chính xác là ngôn ngữ viết của họ- thứ tiếng Đức pha latin và tự chế rất quái đản cũng như tư duy toán học, logic rất phức tạp ) rất khó tiếp cận, đặc biệt là với người nước ngoài cho nên việc đọc họ bằng tiếng Pháp, Anh có lẽ đã là một vấn đề chứ chưa nói đến việc lĩnh hội được bao nhiêu để có thể dịch, viết, phát biểu một cách khá hệ thống như ở miền Nam thời trước 1975.
Như vậy tóm lại là em không cảm thấy nên đọc sách triết Tây từ các tác giả VN. Duy chỉ có trường hợp ông Trần Đức Thảo-là người mà cả Bắc lẫn Nam đều công nhận là giỏi thì em chưa được đọc. Cũng mong là được đọc ông này và được một lần không thất vọng về triết gia VN. :P

--------
Giờ tán tiếp, theo em nghĩ, ở VN hay rõ hơn là miền Bắc Việt Nam trong vài chục năm qua Hiện sinh chủ nghĩa là thứ chủ nghĩa thời thượng của tầng lớp trí thức ( thôi thì cứ gọi là tầng lớp trí thức đi ). Hôm nọ về VN nói chuyện với anh bạn, anh ấy bảo là các ông được gọi là trí thức VN, ông nào mở mồm cũng "hiện sinh, hiện sinh" và kinh thánh gối đầu giường ( thật hay đùa nhỉ ?!?? ) của các ông ấy là một bản photocopy cuốn "Buồn nôn" của J.P. Sartre đã được dịch sang tiếng Việt từ trong thư viện quốc gia. Nếu đọc cuốn đó xong là thành trí thức VN thì mai em sẽ đi mua một cuốn. Các bạn khác muốn thành trí thức VN cũng nên vào thư viện quốc gia mượn cuốn đó đi photo một bản mà đọc. ;D ;D
Thêm một điểm nữa, là trí thức thế giới trong thế kỷ 20 theo hiện sinh rất nhiều, cũng nhiều đến mức mà người ta gọi trí thức là dân hiện sinh. Bác Phó nói đúng, trí thức thế giới thế kỷ 20- đa phần là có tư tưởng cộng sản cả, nên bảo Sartre với Marx gần nhau em thấy hợp lý.

--------
[1] Các tác phẩm chính của cả 3 ông này đều viết bằng tiếng Đức như "Kritik der reinen Vernunft" của Kant, "Sein und Zeit" của Heidegger và "Ideen I, II" của Hússerl đều là những cuốn cực kỳ khó đọc. Bản thân em dốt tiếng Đức nên ngó vào mấy cuốn này cái là.. chạy luôn một mạch không dám nhìn lại. ??? :P Chưa kể cả 3 ông này ( cũng như hầu hết các triết gia phương Tây ) đều là dân khoa học kỹ thuật- như Kant là học về chế tạo máy, Heidegger đồng thời học Thần học, Triết học và khoa học tự nhiên ( em không rõ ngành gì ) còn Husserl bản thân cũng là tiến sĩ toán học ( số học ) sau đó mới nghiên cứu tiếp triết học...
[/quote]

Bà Thụy Khuê chứ không phải ông . Anh quen biết Thuỵ Khuê khá thân. Bà này người bắc di cư, trước học Văn Khoa Sài Gòn, chuyên viết bình luận văn chương cho đài RFI, viết cũng mùi mẽ, nhưng đại khái là lời đậm ý nhạt nên viết bình luận sách triết thì chẳng ra đâu vào đâu. Có hồi còn hay viết bình luận về hội hoạ cũng chẳng ra gì vì không hiểu gì cả, cứ mang một lối bình văn ra bình ráo cả mấy món kia thì trật lất hết cả , anh khuyên đừng nên bình hoạ như thế vì khó lắm, nên từ 2 năm nay thôi không dám bình nữa. Hồi mới sang , anh có gặp Trần Đức Thảo ở Paris, nhưng lúc đó cụ đã gần đất xa trời lắm rồi, ở trong cái nhà khách của sứ quán, trông rất thảm hại, chẳng thể nào nghĩ trước đó là người đã từng nghiêng ngửa với Sartre ...

Sau đây là một đoạn trong cuốn Encyclopédie Hachette 2000

Tran Duc Thao
Philosophe vietnamien (Hanoi, 1917 — Paris, 1993). Après avoir étudié la phénoménologie de Husserl, il écrit des articles dans la revue les Temps modernes, où sont également publiés ses entretiens avec J?-P? Sartre sur les rapports entre l'existentialisme et le marxisme. Délégué général de la section vietnamienne des résistants de la Main-d?Œuvre immigrée (MOI) en 1945, puis arrêté, il est engagé dans les maquis indochinois et participe, en 1956, à la «révolution des cent fleurs». Doyen de la faculté d'histoire de Hanoi (1954), puis interdit d'enseignement et de publication, il ne put publier ses ouvrages, Phénoménologie et matérialisme dialectique et Recherches sur l'origine du langage et de la conscience, qu'en France. Auteur de nombreux articles dans la revue la Pensée, il écrit, lors de son retour en France en 1991, un essai intitulé la Formation de l'homme.


Tạm dịch :
Trần Đức Thảo .
Triết gia Việt Nam ( Hà Nội 1917 - Paris 1993 ). Sau khi nghiên cứu Hiện Tượng Luân của Hussel, ông đã viết nhiều bài báo trên tờ tạp chí Thời Hiện Đại vốn cũng là nơi ông đã công bố những đối thoại với J.P.Sartre về những tương quan giữa chủ nghĩa Hiện Sinh và chủ nghĩa Mác. Năm 1945 ông làm tổng đại diện cho Uỷ Ban nhũng người kháng chiến lính thợ Việt Nam nhập cư ( Mọi ) rồi bị bắt, sau đó ông tham gia phong trào kháng chiến du kích Đông Dưong. Năm 1956 dính vào vụ “ Trăm Hoa đua nở ” ( Nhân Văn Giai Phẩm –yuyu). Vốn là Chủ nhiệm khoa Sử Đại Học Tổng Hợp Hà Nội ( 1954 ) nhưng bị cấm giảng dạy và xuất bản nên ông đã chỉ có thể xuất bản các tác phẩm của mình như Hiện Tượng Học và Chủ Nghĩa Duy Vật Biện Chứng và Nghiên Cứu Nguồn Gốc của Ngôn Ngữ và Ý Thức ở Pháp mà thôi .
Ông là tác giả của nhiều bài báo đăng trên tạp chí Tư Tưởng. Năm 1991, khi quay trở lại Pháp, ông đã viết một thử nghiệm nhan đề Đào tạo Con Người .
Khi Trần Đức Thảo mất ( tháng 6.1993 ) Báo Le Monde đã có một bài bình luận tưởng nhớ ông, lời nói rất trân trọng, chứng tỏ ông được đánh giá cao ở Pháp. Ông là người Việt Nam duy nhất được gọi là triết gia và có tên trong các Từ Điển Danh Nhân của Pháp.
Hưng
Kể một truyền thuyết về ông Trần Đức Thảo cho bà con nào chưa biết nghe nhé.
Thời ở VN, ông Thảo hầu như không được xuất bản sách ( tất nhiên ) nhưng hầu như không lúc nào ông không đọc và viết. Có hôm trời mưa to quá, mà nhà ông ở vùng gần đê nên nước dâng cao, ngập đến tận ngang mặt giường mà ông vẫn không biết, vẫn ngồi quần đùi áo may ô hí hoáy viết mặc cho nước ngập đến bụng. ;D ;D ;D
Ông T.Đ.Thảo có lấy vợ và có người bạn thân là một giáo sư. Ông giáo sư này thường xuyên chăm sóc giúp đỡ ông T.Đ.Thảo vì biết ông T.Đ. Thảo hầu như không quan tâm đến việc đời. Rồi về sau ông T.Đ.Thảo nói với vợ: "Em sống với anh khổ quá.." thế rồi ông ghép đôi cho vợ ông và ông giáo sư bạn kia lấy nhau. Hai người đó về sau vẫn chăm sóc ông để ông tập trung hoàn toàn vào nghiên cứu. ;D ;D ;D
Hồi ông N.V. Trung ở đây. Ông Trung cũng nói là ngay cả bọn triết gia lớn của DDR cũ ( Cộng sản Đức ở Đông Đức cũ ) cũng nể phục ông T.Đ.Thảo. Khi mấy tay chuyên gia VN được cử sang đây nghiên cứu triết Marx hỏi về hiện sinh/Marx thì mấy tay triết gia kia bảo với họ: "Ở VN có một người mà ngay cả chúng tôi cũng phải gọi bằng thầy đấy (T.Đ.Thảo). Các ông nên về gặp ông ấy mà hỏi". ;D ;D ;D
------
Có một điều rất đáng buồn là cái viện triết VN trong mấy chục năm qua có lẽ là viện dốt nhất trong các viện khoa học VN ( không phải em phát biểu ). Các tác phẩm của ông T.Đ.Thảo-mặc dù đứng dưới góc độ khoa học thuần tuý-cũng không được xuất bản. Có một số bài viết được xuất bản, thì hoặc là do ông Thảo cần phải viết như thế hoặc là người khác viết rồi ghi tên ông Thảo (?!?) ;D ;D ;D.
Em cũng mong lúc nào đó tìm được mấy cuốn sách thật sự tâm huyết của ông. Có lẽ sau này người ta sẽ coi đó là những tinh hoa dân tộc thế kỷ 20.
Phó Thường Nhân
To Ubu, Koi, yuyu sp_ike.gif
Bàn loạn một tí trước khi tiếp tục khai triển Hiện sinh. Về Triết học Vn hiện đại ngoài Trần Đức Thảo (triết học phương Tây hiện đại) còn có thể kể Cao Xuân Huy (Triết học Lão giáo), Bác sỹ Lê Đình Thám (Triết học Phật giáo), Học giả Trần Văn Giầu (Triết học Mác xít), Giáo sư Nguyễn Đăng Thục (Triết phương Đông so sánh với phương Tây). Ông Nguyễn Đăng Thục cũng có tên trong danh sách triết gia thế giới.
Ngoài ra còn có thể những học giả về văn hoá nhưng tác phẩm cũng có tác dụng phổ cập triết học phương đông như Trần Trọng Kim (Nho giáo), Nguyễn Hiến Lê, Giản Chi (Bách gia chư tử Trung Hoa), Đào duy Anh (văn hoá phương Đông), Thiền sư Nhất Hạnh ,tên ngoài đời Nguyễn Lang (Phật giáo). Thiền sư Thanh Từ (Thiền tông Phật giáo). Giáo sư Từ Chi (văn hoá người Mường, Việt cổ)

Cái danh sách này, cũng như "chuyên môn" của họ đều theo ý chủ quan của tôi. Đây là những học giả Vn tôi yêu thích, kính trọng. Ngoại trừ Trần Đức Thảo, tôi chưa đọc bao giờ , chỉ biết tiếng. Sách của các học giả khác đều rất có giá trị. Có thể coi như "kinh điển" được. Kinh điển phải được hiểu theo ý nghĩ "hay, uyên bác,gợi mở tư duy", chứ không phải là "mù quáng, giáo điều" đâu nhé. :P

Ngoài ra còn có thể kể thêm Đinh Gia Khánh, Vũ Ngọc Khánh, về văn hoá dân gian. Rồi Phan Ngọc, ông này thì không biết đặt vào chỗ nào dịch thuật ? Nho giáo ?

Có hai loại sách triết mà tôi đọc luôn phải đấu tranh với "cơn buồn ngủ", 1. đó là Kinh phật Ấn độ, do lô gíc của nó quá chậm, luôn lập đi lập lại,cũng như hình ảnh của nó hơi khó cảm thụ, do được viết cách đây cả 2000 năm. Ở đây cần một sự chú giải.
2. Sách triết của Hê ghen, mặc dù đã được dịch ra tiếng Pháp. Lô gíc cũng như cách thể hiện, diễn đạt của nó phức tạp, rối rắm, nặng nề.
cho nên cực kỳ khó theo dõi được dòng suy nghĩ của tác giả. Không thể gậm nổi. :P
Pages: 1, 2
Quán nước đầu làng Ven > Sáng Tác - Thảo Luận - Phổ biến kiến thức > CLB Văn Hoá - Lịch sử
Bạn đang xem phiên bản gọn nhẹ của diễn đ n dưới dạng text, để xem các b i viết với đầy đủ mầu sắc v hình ảnh hãy nhấn v o đây !
Invision Power Board © 2001-2018 Invision Power Services, Inc.