Langven.com Forum

Giúp đỡ - Lục lọi - Dân l ng - Lịch
Full Version: Sự Phát Triển Tâm Trí Của Trẻ Em
Quán nước đầu làng Ven > Sáng Tác - Thảo Luận - Phổ biến kiến thức > CLB Văn Hoá - Lịch sử
Milou
Sự Phát Triển Tâm Trí Của Trẻ Em


BS Lê Phương Thúy

Không ai có thể chối cãi việc học là điều mà các bậc phụ huynh quan tâm nhất đối với con em của mình. Nuôi dạy con nên người là ước muốn hàng đầu của các phụ huynh. Thành công trong việc học, đỗ đạt ra trường là thước đo thường dùng để cho biết phụ huynh đã thành công (hay thất bại) như thế nào trong việc giáo dục con trẻ. Câu hỏi bắt đầu câu chuyện về con trẻ thường là: “sao, con anh (hay chị) học tới đâu rồi?”. Chúng ta không thể dấu được niềm hãnh diện khi cho biết: “vâng, cháu nó sắp ra trường kỹ sư vào năm tới”. Hoặc “cháu nó vừa được nhận vào trường y khoa”, hoặc vẻ thất vọng “vâng, cháu nó còn lông bông lắm anh (hay chị) ạ, cứ thay đổi ý kiến hoài, không biết có ra trường nổi trong năm nay không hay lại phải học thêm một năm nữa”. Con trẻ bỏ học nửa chừng, không có nghề nghiệp vững chắc, là nỗi buồn lo cho phụ huynh. Con trẻ sa đà trụy lạc, nghiện ngập ma túy, gia nhập băng đảng, là mối lo cho gia đình và xã hội.
Bài viết này xin trình bày một cách chi tiết về những phương diện học hỏi cũng như cung cách học hỏi của các em, hầu giúp các bậc phụ huynh theo dõi và giúp đỡ việc học của các em một cách có hiệu quả.

THÔNG MINH
Thông minh là một khả năng bẩm sinh, được xác định bởi di truyền và phát triển do sự giáo dục, khuyến khích và hướng dẫn của cha mẹ hay thầy cô. Hoàn cảnh xã hội, môi trường xung quanh cũng đóng vai trò quan trọng trong việc phát triển này. Thí dụ như có những thiên tài hội họa và âm nhạc mà tài năng của họ mãi đến nhiều năm sau mới được thưởng thức và công nhận. Thời kỳ bác sĩ Pasteur tìm ra vi trùng bệnh chó dại, nhà ông đã bị ném đá chỉ vì xã hội thời đó chưa tiếp nhận được khám phá của ông mà họ cho là quá lạ thường, không thể tin nổi.
Một cách tổng quát, đa số các em có trí thông minh trung bình. Một số nhỏ các em thông minh hơn người (khoảng mười phần trăm), và một con số tương tự bị chậm khôn hay ngu đần. Một số rất nhỏ khác thuộc loại thiên tài hay thần đồng, trổi vượt về một hay hai lãnh vực nào đó, mà thỉnh thoảng chúng ta có thấy báo chí đăng tải hay truyền thanh hay truyền hình loan báo, như thần đồng toán học, thần đồng cờ tướng, thần đồng âm nhạc v.v... Ngay cả trong các em có trí thông minh trung bình, tức là trong số lớn các em, khả năng học hỏi, thâu nhập các kiến thức cũng mỗi em mỗi khác. Hiểu biết những sự khác biệt này giúp các phụ huynh biết cách tạo cơ hội cũng như phương tiện cho sự học hỏi của các em.
Có tám loại thông minh, theo sự mô tả của Tiến sĩ John Gray trong cuốn sách Children Are From Heaven.

THÔNG MINH TRONG TRƯỜNG HỌC
Ðây là loại thông minh mà chúng ta thường nghĩ tới nhiều nhất, và ai cũng mong mỏi cho mình và con em của mình có được. Một người học đâu hiểu đó, nhanh chóng thu nhập kiến thức nhà trường, thi đâu đậu đó, được coi là người thông minh, được mọi người thán phục. Trong lớp, thầy cô cũng có cảm tình với các em có loại thông minh này. Các khoa học gia, bác sĩ, tiến sĩ, kỹ sư nghiên cứu là những người có loại thông minh này. Họ rất dễ thu hút sự thán phục của người đối diện vì sự thông minh của họ. Tuy nhiên, nếu họ không có thêm những loại thông minh khác được liệt kê sau đây, họ sẽ là người khô khan, tính toán, thiếu tình tứ và...cù lần (tiếng Anh gọi là “nerdy”) Họ có thể cặm cụi làm việc, đem về một lợi tức khá để bảo đảm đời sống, nhưng suốt ngày chỉ biết chúi mũi vào máy điện toán, vào những cuốn sách dày cộm, và rất vụng về trong việc diễn tả tình yêu của mình đối với người yêu qua những lời nói ngọt ngào tình tứ hay những món quà tặng có ý nghĩa. Người Việt Nam chúng ta thường đồng hóa sự thành công khoa bảng với thành công trên đời và xem việc thành công khoa bảng là yếu tố đầu tiên nếu không muốn nói là yếu tố cần và đủ để có hạnh phúc, nhưng thật ra, hạnh phúc hay thành công trong đời tùy thuộc rất nhiều những yếu tố khác. Thông minh trong lãnh vực học vấn chỉ là một trong những yếu tố quan trọng cần thiết để thành công trên đường đời. Nói một cách khác, thông minh trên con đường học vấn đóng vai trò ít quan trọng nhất trong việc đạt được hạnh phúc trong đời.

THÔNG MINH TRONG TÌNH CẢM
Người này bén nhạy trong cách xử thế, “cảm” được ý muốn và tình cảm của người khác, có khả năng đặt mình trong hoàn cảnh của người khác để theo đó mà lựa chọn cách cư xử. Do đó, người này rất đông bạn bè thân thiết, dẫn đến thành công trong công việc. Người thông minh trong tình cảm tránh được cho mình những hệ lụy không cần thiết, nhận được đâu là bạn tốt, đâu là kẻ xấu để tránh trước khi tai họa xảy ra. Chắc quý độc giả đã từng gặp những người loại này: họ bước đi trên những con đường êm ả, kẻ xấu không tìm thấy họ, hoặc có thấy cũng không chú ý đến họ. Trong một nhóm bạn, tự nhiên họ được hưởng những phần êm ả may mắn nhất. Người có sự thông minh này thành công trong trường đời và dễ tìm thấy hạnh phúc. Trong tình yêu, người này cũng tìm được con đường yên bình nhất. Nếu người này có cả sự thông minh về học vấn nữa thì sự thành công càng rạng rỡ hơn nữa. Các em có loại thông minh này có tài lãnh đạo hoặc ngoại giao. Các phụ huynh có con em có sự thông minh về tình cảm sẽ nhận thấy em là người hưởng được nhiều phúc lợi nhất trong đám bạn của em. Trong khi các em khác cải vả, giận hờn, thù ghét nhau, em này tránh được những xung đột, sống thoải mái thanh bình. Trong lớp, em là người được các bạn và thầy cô mến, không bị các bạn khác trêu ghẹo, bắt nạt hay thầy cô chỉa mũi dùi. Các phụ huynh nếu để ý thấy được điều này nơi con em mình, có thể tạo cơ hội cho khả năng này phát triển, như cho các em sinh hoạt tập đoàn, khuyến khích các em chọn các ngành nghề có nhiều sự tiếp xúc với người khác. Nghề giáo sư, cố vấn, tâm lý trị liệu gia, ngoại giao, chính trị, là những ngành nghề thích hợp. Người có thông minh trong lãnh vực tình cảm có thể ít học, nhưng lại thành công và hạnh phúc. Chúng ta thấy không hiếm những người tuy ít học, nhưng lại dễ mến.
THÔNG MINH VỀ THỂ CHẤT
Người này biết cách ăn uống, giữ gìn sức khỏe, biết vận dụng và phối hợp các bắp thịt một cách khéo léo. Do đó, họ có thể rất giỏi thể thao vì cử chỉ, động tác chính xác và nhạy bén. Người này còn biết cách trang điểm, ăn mặc sao cho phô trương được nét đẹp của mình, giữ gìn được những nét đẹp trên thân thể. Các em có sự thông minh về thể chất có khả năng về nhảy múa, giỏi các môn thể thao đòi hỏi sự tinh vi trong việc điều khiển tay chân và các bắp thịt như nhảy ballet, trợt tuyết, ice skating v. v. . . Những người mẫu thời trang cũng là những người có thông minh về thể chất: biết trình bày những động tác đi đứng, nụ cười, ánh mắt sao cho đẹp và thu hút người đối diện.

THÔNG MINH TRONG LÃNH VỰC SÁNG T O
Người này có óc tưởng tượng phong phú, do đó có đầu óc sáng tạo, chế biến. Quý phụ huynh dễ dàng nhận thấy điều này qua con em của mình khi các em chơi các trò chơi với nhau. Với những dụng cụ đơn sơ, em có thể tưởng tượng ra được những chân trời mới lạ, những nhân vật lạ kỳ và những câu chuyện lý thú. Những trò chơi như kể chuyện hay đặt chuyện dựa trên những dữ kiện thật ít ỏi và đơn sơ, có thể giúp các phụ huynh hay thầy cô nhận diện được các em có đầu óc sáng tạo. Người này có khả năng sáng tác như nhạc sĩ, thi sĩ, văn sĩ, nếu ở trong ngành kỹ thuật thì có tài chế biến, phát minh. Còn nếu trong lãnh vực thương mại thì có những sáng kiến để phát triển cơ sở của mình.

THÔNG MINH TRONG LÃNH VỰC NGHỆ THUẬT
Có em cầm bút lên là vẽ một cách dễ dàng. Có em cất tiếng ca sau khi chỉ cần nghe qua người khác hát. Có em đóng kịch tài tình, hài hước duyên dáng, rõ ràng là thiên phú. Quý độc giả chắc hẳn không xa lạ với những người này: các ca sĩ nổi tiếng có tiếng hát làm rung động lòng người, các văn thi sĩ múa bút thành thơ, các họa sĩ phóng bút thành tranh.

THÔNG MINH TRONG NHỮNG VẤN ÐỀ THỰC TIỄN (COMMON SENSE)
Người có trí thông minh này biết cách giải quyết vấn đề một cách thực tế và cụ thể. Họ nhìn mọi việc bằng cặp mắt thực tế. Những chuyện lý thuyết xa vời không làm cho họ quan tâm. Họ nhạy bén trong những sinh hoạt hàng ngày, tự động hiểu biết và làm những việc cần làm mà không cần ai dạy bảo. Thí dụ như tự động lau dọn sau khi ăn, tự động xếp hàng chờ tới phiên mình, tôn trọng tôn ti trật tự của xã hội, hiểu biết cách cư xử và xã giao thông thường. Người này có thể không mồm mép, nhưng có những quyết định rất chính xác trong những sinh hoạt thường nhật. Một thí dụ của người thông minh thực tiễn là họ biết tránh những câu nói vô ý thức trong lúc tình cảm mọi người xao động về vụ khủng bố tại Trung Tâm Mậu Dịch Quốc Tế và Ngũ Giác Ðài: trong lúc đa số mọi người bày tỏ sự phẫn nộ đối với kẻ khủng bố và xót xa cho nạn nhân, cho nước Mỹ thì người có sự thông minh này sẽ tự động chia xẻ tâm trạng của đám đông mà không chọc đám đông nổi giận với câu nói “đàn ngang cung” của mình như “đáng đời” cho nước Mỹ v.v... Nhân vật Thằng Bờm trong bài hát Thằng Bờm Có Cái Quạt Mo là một người có thông minh thực tiễn: nắm xôi trước mắt, có ngay, chắc ăn hơn là ba bò chín trâu, hơn là những lời dịu ngọt lừa phĩnh.

THÔNG MINH TRỰC GIÁC
Người này hiểu biết chuyện một cách dễ dàng không cần phải học. Học ít hiểu nhiều. Bén nhạy, đón được ý người đối diện, đón ý được thầy cô, hiểu được những điều không nói. Ðọc hai trang sách đã biết cả cuốn sách nói gì. Bà Oprah Winfrey không phải là một tâm lý gia chuyên nghiệp, nhưng bà đón ý và hiểu ý những tâm lý gia mà bà phỏng vấn một cách dễ dàng qua một vài câu phát biểu của họ. Bà còn diễn tả lại ý họ một cách dễ hiểu hơn cho người nghe, hoặc cho những thí dụ cụ thể giúp cho ý của những tâm lý gia này gần gủi với người nghe hơn.

THÔNG MINH KIỂU THIÊN TÀI
Trẻ thiên tài khác với trẻ khác, là có một hay hai tài rất đặc biệt, xuất sắc hơn người, nhưng lại kém cỏi trên nhiều lãnh vực khác, như trẻ chỉ giỏi toán, chỉ giỏi âm nhạc, hay chỉ giỏi hội họa mà thôi, còn lại thì học chữ rất chậm (thiếu thông minh trường ốc), nhất là giao thiệp rất dở (thiếu thông minh trong tình cảm) để rồi thường bị đày đọa, bạc đãi. Các phụ huynh có con em thuộc loại thiên tài cần phải giúp các em rất nhiều trong những lãnh vực các em bị yếu kém để các em có một cuộc sống thăng bằng hơn. Ông Bill Gates có thể được xem như là một thiên tài điện toán. Công ty của ông thành công là nhờ những sáng chế của ông đã đành, nhưng chắc chắn, ngoài tài của ông ra, công ty còn có cả một ban quản trị thương mại với những người tài giỏi về mọi lãnh vực khác cần thiết cho sự thành công của một công ty như: ban kế toán, ban quảng cáo, ban giao dịch v. v ...
Ngoại trừ Thông Minh Thiên Tài là trường hợp tạo hóa cho em một tài năng vượt bực trong một lãnh vực, rồi lại lấy đi của em những tài năng thuộc các lãnh vực khác; một em có thể có nhiều loại thông minh khác nhau, ở nhiều mức độ khác nhau. Thí dụ, em A có thể có Thông Minh Trong Trường Học thuộc loại cao nhất, kế đó là Thông Minh Sáng Tạo thì em có thể học hành đỗ đạt cao và còn là một nhạc sĩ tài hoa. Nếu em kém cõi về loại Thông Minh Tình Cảm thì mặc dù em trở thành một vị bác sĩ, nhạc sĩ tài hoa, em vẫn thua thiệt trong tình trường, vẫn cô đơn trong đời sống lứa đôi, và còn có thể thất bại trong công việc mặc dù rất giỏi. Em Thông Minh Thiên Tài là người khổ nhất, vì tạo hóa cho em thiên tài hơn người thì lại lấy đi nhiều loại thông minh khác như Thông Minh Tình Cảm và Thông Minh Thực Tiễn để rồi em bị bạc đãi và hành hạ. Quý độc giả có thể hình dung nếu một người được nhiều loại thông minh khác nhau cùng một lúc như Thông Minh Trường Học, Thông Minh Sáng Tạo, Thông Minh Tình Cảm thì người này hẳn thành công và hạnh phúc biết bao nhiêu. Ngược lại, chúng ta cũng có thể hình dung một người chỉ có Thông Minh Tình Cảm mà thôi thì mặc dù chỉ là anh nông phu chân lấm tay bùn, anh vẫn sống một cuộc đời hạnh phúc bên cạnh gia đình và những người thân yêu.
Ðến đây, chắc quý độc giả dễ dàng nhận thấy con đường dẫn đến hạnh phúc không nhất thiết phải trải bằng bằng cấp hay học thức. Hơn thế nữa, bằng cấp hay học thức không thôi không đủ để đem lại thành công và hạnh phúc. Nếu con em mình không có loại thông minh này, hoặc có ở một mức độ trung bình nhưng mình cứ ép buộc em phải chạy theo con đường khoa bảng tức là mình bắt em lội dòng nước ngược, vô cùng vất vả và khó khăn mà kết quả chưa chắc đã đạt được. Trong khi đó, em lại có Thông Minh Sáng Tạo mà mình không tìm cách tạo cơ hội cho em phát triển, thì không những uổng phí tài năng mà em còn có thể cảm thấy đau khổ vì không có cơ hội phát triển nữa.
Tôi đã có dịp làm việc với nhiều em bị phát bệnh trầm cảm hay các bệnh tâm thần khác vì các em bị áp lực gia đình và xã hội phải tuân theo lề thói thông thường, như phải học chữ để trở thành một kỹ sư hay một bác sĩ, mà trong khi đó, các em chỉ thấy hứng thú nếu được chọn con đường nghệ thuật. Hệ thống giáo dục Hoa Kỳ đáng khen ở chỗ chương trình trung học chỉ vừa đủ khó cho một em có sức học trung bình có thể đạt được, sau đó, em đã có căn bản để theo đuổi những nghề nghiệp mà em yêu thích và thích hợp với năng khiếu của em. Khi một em được gởi đến tôi vì không chịu đi học hay không thích đi học, cha mẹ thường giải thích “tại nó lười, tại nó chỉ ham chơi”. Tôi không dừng câu hỏi lại ở đó, tôi hỏi thêm “tại sao em lười, tại sao em chỉ ham chơi”. Các em, hay người ta nói chung, thích học hỏi và làm việc không kém thích giải trí và vui chơi, nếu được học và làm những điều mình thích và thích hợp với khả năng của mình. Khi một em nhỏ biếng học, tôi nghĩ ngay đến việc em có những trở ngại nào đó mà cha mẹ đã không biết được để giúp em khắc phục.

VẬN TỐC HỌC
Vận tốc học là mức độ học nhanh hay chậm.
Trẻ không những thông minh khác nhau, mức độ học nhanh hay chậm cũng khác nhau. Có thể chia vận tốc học của trẻ thành các loại như sau:

HỌC KIỂU ÐI
Ðây là loại trẻ mà phụ huynh và các thầy cô mong mỏi và hài lòng nhất: trẻ được hướng dẫn, bày dạy, trẻ về nhà học hành, tập luyện. Sự thăng tiến của trẻ xảy ra tuần tự ở một mức độ có thể tiên đoán trước.
HỌC KIỂU CH Y
Trẻ này học ít hiểu nhiều, nhiều khi không học gì cả cũng biết. Các em có thể tự nhiên cất tiếng hát sau khi nghe người khác hát. Có trẻ cầm bút lên là vẽ. Có trẻ sát mặt vào màn ảnh máy điện toán, say sưa xử dụng hàng giờ sau khi được hướng dẫn vài điều căn bản.

HỌC KIỂU NHẢY VỌT
Trẻ này thường làm phụ huynh “rầu” nhất, vì có khi dạy mãi mà trẻ không thấy nhúc nhích cục cựa gì cả, bỗng một ngày đẹp trời nào đó, em ngồi vào bàn và làm bài toán một cách ngon lành. Em có thể học chậm chạp trong những năm tiểu học, bỗng “nở hoa” và học hành tấn tới một cách không ngờ trong những năm trung học. Trẻ có cách học loại này dễ bị thiệt thòi vì cha mẹ không biết đâu mà theo dõi. Có khi cha mẹ bỏ cuộc nửa chừng, trẻ mất luôn cơ hội phát triển. Viết đến đây tôi không khỏi không nhớ tới chuyện Phù Ðổng Thiên Vương, tức là Thánh Gióng của chúng ta, mãi đến năm ba tuổi, khi giặc đến nhà, bỗng biết đi biết nói, còn vươn mình lớn lên để đi dẹp giặc. Vẫn biết đây là huyền thoại mang một ý nghĩa triết lý sâu thẳm, nhưng đây cũng là một thí dụ về các trường hợp trẻ đột nhiên phát triển vào lúc cha mẹ không ngờ nhất. Nếu tôi nhớ không lầm, nhà bác học Albert Einstein có vận tốc học kiểu này. Ông chậm nói, chậm đọc, để rồi một ngày nào đó làm cho mọi người ngạc nhiên về bước tiến nhảy vọt của mình.

ÐỀ NGHỊ
• Nếu con em mình không có năng khiếu thông minh để theo đuổi con đường khoa bảng, cũng không phải là nhà. . . không có phước, như nhiều bậc phụ huynh quan niệm. Trong trường hợp này, hãy theo dõi để biết con em mình có loại thông minh nào hầu giúp em phát triển, để “nhất nghệ tinh, nhất thân vinh”. Ða số các em đều có đủ thông minh để hoàn tất bậc trung học, và một số đông các em có thể hoàn tất đại học. Bên cạnh đó, tìm hiểu những loại thông minh khác mà con em mình có thể có để chọn nghề thích hợp như Thông Minh Tình Cảm và Thông Minh Trực Giác giúp các em thích hợp với các nghề đòi hỏi giao tế như ngoại giao, tâm lý trị liệu gia, chuyên viên hướng dẫn du lịch v. v. . . Thông Minh Thể Chất giúp các em chọn con đường thể tháo gia, người mẫu, huấn luyện viên thể thao, thẩm mỹ gia v.v. . .Thông Minh Sáng Tạo có thể giúp các em dễ dàng theo đuổi ngành nghiên cứu và sáng chế và các lãnh vực nghệ thuật hay sáng tác.
• Hiểu biết về các loại vận tốc học cũng giúp các phụ huynh biết cách theo dõi việc học của con em để có những biện pháp thích hợp hoặc có những sự kiên nhẫn cần thiết.
• Không bao giờ so sánh con em mình với con em người khác. Nhiều phụ huynh hay làm điều này vì cho rằng đây là một phương pháp khuyến khích các em học hỏi. Trái lại, mỗi em là một con người với những đặc điểm cá biệt, với những loại thông minh khác nhau và vận tốc học khác nhau. Hiểu được những ưu khuyết điểm và những tài năng riêng biệt này hầu có những phương pháp dạy dỗ thích hợp, là điều tốt đẹp nhất và đầy thương yêu nhất mà một phụ huynh có thể làm cho con em của mình.
• Biết người biết ta trăm trận trăm thắng: biết mình hay chỗ nào, dở chỗ nào hầu tìm cách phát triển và bù đắp. Vừa học hỏi, vừa tìm người bổ túc cho mình trong công việc, đó là nguyên tắc của hợp quần gây sức mạnh (team work). Thế giới ngày nay thiên về sự hợp quần này: dùng thì giờ để phát triển sở trường của mình thay vì loay hoay khổ sở với sở đoản của mình. Làm điều mà mình làm giỏi nhất và cảm thấy vui thú trong khi làm, đó là triết lý sống hiện tại của nhiều người mà tôi hoàn toàn đồng ý. Có người còn đạt được mức độ “getting paid for having fun” : tức là họ thích thú việc làm của họ đến độ họ cảm thấy như họ được trả lương để vui thú vậy.
• Bước sang lãnh vực hạnh phúc lứa đôi, hiểu biết về các loại thông minh sẽ giúp chúng ta lựa chọn bạn đường bổ túc cho chúng ta, cũng như giúp ta biết thưởng thức và quý hóa người yêu của mình thay vì cứ dày vò họ về một khả năng mà họ không có. Như trên đã nói, người thông minh trường học sẽ thấy người thông minh sáng tạo rất hấp dẫn vì đem lại niềm vui cho họ (còn gì bằng những buổi tối cuối tuần được nghe người yêu của mình đàn hát cho mình nghe, hoặc ngược lại, được nghe người yêu của mình giảng về những phát minh mới, những khám phá mới). Người thông minh sáng tạo sẽ tìm thấy sự an ninh và vững chãi nơi người thông minh thực tiễn, và ngược lại, người thông minh thực tiễn có dịp đưa hồn mình bay bỗng trong cõi mộng mơ hay trong những thế giới mới lạ trong những áng văn chương thi phú trữ tình.


Bác sĩ Lê Phương Thúy tốt nghiệp chuyên khoa Thần Kinh Tâm Trí (Psychiatry) tại St. Mary’s Hospital and Medical Center, San Francisco năm 1990, ngoài giờ làm phòng mạch tư, Bác sĩ còn là Giám Ðốc Y Khoa Trung Tâm Adult and Child Guidance Center tại San Jose, California.
http://www.songmanh.org/view.php?ArtID=31
tanng
Ầy quyển sách này bán ở đâu thế các bác? Để tôi kiếm quyển đọc xem mình phát triển thế nào, có lệch lạc lắm không.
Milou
Sự Suy Nghĩ

______ Tiến sĩ Trần Hòa

Trong một cửa tiệm, anh ta nhìn quanh những món đồ, thỉnh thoảng đến xem giá, nhặt lấy chiếc áo để ngắm, đi qua khu quần áo khác, anh ta cũng lặp lại: xem giá, ngắm đồ, cuối cùng anh ta chọn được một chiếc áo và đến quầy để trả tiền. Anh ta đã thực hiện một sự suy nghĩ.

Sự suy nghĩ bao gồm những diễn tiến, hoạt động phức tạp của đầu óc như buồn, vui, giận dữ, so sánh, tư tưởng... Trong sinh lý học, sự suy nghĩ được coi là những diễn tiến của hệ thần kinh, các tín hiệu được truyền từ các sợi thần kinh với nhau trong não bộ khi con người đang vận dụng suy nghĩ. Tạm gác qua phần hoạt động của sinh lý học, chúng ta sẽ đi sâu vào sự hình thành của suy nghĩ qua các hiện tượng của triết học và tâm lý.

Thực ra, sự suy nghĩ là sự kết hợp các chuỗi dài của nhiều trạng thái khác nhau, được kết hợp một cách chặt chẽ và lô-gic, thông thường nó hình thành rất thứ tự và liên hệ lẫn nhau, các hình ảnh cũng xuất hiện nhiều lần trong những lúc suy nghĩ, tuy nhiên các biên giới và xác định rõ ràng giữa các trạng thái và hình ảnh thường rất lờ mờ. Hãy thử xem quá trình suy nghĩ của anh học sinh trung học khi giải quyết một bài toán hình học phẳng đơn giản: trong một tam giác vuông, cho biết chiều dài của hai cạnh kề, tìm chiều dài của cạnh huyền? Bước đầu tiên của anh học sinh sẽ là tự đặt câu hỏi tam giác là gì? Còn tam giác vuông là gì? Tam giác vuông khác với tam giác như thế nào? Nếu anh ta đã được học về tam giác, trong đầu anh ta sẽ xuất hiện hình ảnh tam giác với sự tạo thành bởi ba đường thẳng không song song với nhau, cắt nhau tại ba điểm, tam giác là một hình với các đường thẳng nối ba điểm đó. Tam giác vuông là tam giác có một góc vuông, và góc vuông được định nghĩa về góc có độ đo của chín mươi độ, và một độ được định nghĩa bằng một cung nhỏ của vòng tròn được chia làm 360 phần bằng nhau từ tâm điểm. Sau khi rõ ràng về giả thiết của bài toán, anh học sinh trở lại với câu hỏi tìm chiều dài của cạnh huyền của tam giác vuông? Cho biết hai cạnh kề, làm thế nào để tìm chiều dài của cạnh huyền, trong đầu anh ta sẽ nẩy ra ý nghĩ cố gắng liên hệ giữa chiều dài của cạnh chưa biết và chiều dài của cạnh đã cho, với tam giác vuông sẽ có gì đặc biệt giữa những cạnh? Chắc chắn sẽ không bao lâu, nếu anh học sinh đã được học qua định lý Pythagore, anh ta sẽ phải nghĩ đến định lý này để xem xét sự liên hệ qua các cạnh. Ðịnh lý Pythagore nói rằng tổng bình phương của hai cạnh kề thì bằng bình phương chiều dài của cạnh huyền trong một tam giác vuông, đến đây thì bài toán được giải.

Quá trình suy nghĩ của anh học sinh được diễn tiến qua nhiều giai đoạn khá cầu kỳ, nhưng có thể được tóm lược ở những giai đoạn chính như: đặt vấn đề giả thiết, tạo dựng trong đầu hình ảnh của tam giác vuông, liên hệ câu hỏi và giả thiết, và cố gắng moi lại những kiến thức liên quan cho lời giải bài toán. Qua thí dụ trên, chúng ta có thể mường tượng phần nào rõ ràng hơn về sự hoạt động, diễn tiến của sự suy nghĩ. Quá trình suy nghĩ được thực hiện tuần tự các bước, tạo dựng những hình ảnh thích hợp trong một giai đoạn, với chiều hướng giải quyết vấn đề.

Kiến thức đóng vai trò quan trọng trong sự suy nghĩ, kiến thức có thể nói là bộ phận không thể tách rời quá trình suy nghĩ, không kiến thức các lập luận, vận dụng lô-gic sẽ không có nền tảng và có thể dẫn đến những kết luận vô nghĩa, không liên quan đến sự đặt vấn đề. Như vậy, kiến thức là gì? Kiến thức được coi như những hình ảnh, kinh nghiệm, hoạt động của xã hội trong đời sống như khoa học, văn chương, ngôn ngữ, chính trị, thương mại... nhưng một điều quan trọng là mọi kiến thức đều là những sự việc đã được xảy ra, hoặc tái diễn nhiều lần trong quá khứ, được ghi nhận bằng chữ viết hoặc truyền miệng. Chẳng hạn, nếu một cục đá sỏi được thảy vào một hồ nước thì nó sẽ bị chìm tới đáy, hầu hết mọi người đều biết chuyện này, đó là một kiến thức là vì nó chắc chắn xảy ra trong quá khứ và chúng ta có thể thí nghiệm một cách dễ dàng. Kiến thức có một tác động căn bản đến suy nghĩ là vì các trạng thái, giai đoạn của sự suy nghĩ sẽ dựa vào đó để chuyển tiếp lẫn nhau tạo thành những chuổi dài liên tục. Trở lại thí dụ của cục đá sỏi, nhờ vào kiến thức cục đá sỏi sẽ chìm, người ta sẽ nghĩ ra một cách làm cạn bớt hồ nước sâu bằng cách bỏ nhiều đá sỏi vào hồ nước. Một câu hỏi khác về kiến thức, nếu như kiến thức thường được cấu thành từ những sự việc xảy ra trong quá khứ, như vậy con người nên tạo thành, thu thập kiến thức như thế nào? Việc thu thập kiến thức tùy thuộc vào mỗi cá nhân, nhưng những yếu tố quan trọng có khả năng ảnh hưởng sâu rộng như trường học, sách báo, đàm thoại, công việc ở hãng xưởng và ngay cả những cuộc du ngoạn ở các nơi trên thế giới. Kiến thức thường không hoàn toàn tuyệt đối hoặc phải ở trong những qui định cho từng người, tùy theo sở thích và nhu cầu, mỗi người có thể thu thập được những số kiến thức khác nhau trong cuộc sống, sự so sánh giữa mức độ kiến thức trong cùng một lãnh vực có thể thực hiện, tuy nhiên cũng rất khó chính xác. Trong thí dụ của anh học sinh giải quyết bài hình học đơn giản, anh ta đã vận dụng những kiến thức như định nghĩa của tam giác vuông là gì và khác với tam giác như thế nào? Như thế nào là định lý Pythagore? Diễn biến của sự suy nghĩ là vận dụng uyển chuyển những kiến thức này trong một nhu cầu của sự liên hệ cho đáp số của bài toán. Rõ ràng nếu như anh học sinh không có những kiến thức đó, thì bài toán sẽ không được giải quyết, chẳng hạn ngay bước đầu tiên anh ta không biết, không có mường tượng hoặc hình ảnh về tam giác. Chắc chắn anh ta sẽ không bao giờ tiếp tục được sự suy nghĩ để giải quyết vấn đề.

Nếu như kiến thức gây một tác động then chốt đến sự suy nghĩ, thì sự tin tưởng cũng góp phần cốt yếu cho sự suy nghĩ. Một buổi sáng, trời thật mờ và nhiều mây xám, một người nhìn bầu trời, rồi quay vào trong nhà và lẩm bẩm "chiều nay trời sẽ đổ mưa". Ðó là một sự tin tưởng. Sự tin tưởng vào một vấn đề không nhất thiết rằng một người phải có kiến thức về vấn đề đó, tuy nhiên có thể có một số kiến thức liên quan đến vấn đề đó, tin tưởng vào một vấn đề có nghĩa là tin vào, tưởng tượng có một sự quyết định rằng vấn đề sẽ có thể xảy ra nhưng không phải chỉ phán đoán và căn cứ. Trở lại thí dụ về trời mưa, ta sẽ thấy lý do một người đưa đến kết luận trời mưa là vì trời nhiều mây xám, mà ai cũng biết mây xám lúc nào cũng biểu hiện cho trời sắp mưa, cho nên kết luận trời mưa là lô-gic nhưng cũng có lẽ trường hợp khó xử có thể xảy ra: trời có nhiều mây xám nhưng rồi cuối cùng cũng không mưa, như vậy có phải kết luận trên là sai lô-gic hay không có lô-gic không? Thực ra, trời mây xám có nghĩa thực sự là sẽ rất có thể hoặc có nhiều có nhiều xác suất trời sẽ mưa, chứ không phải hoàn toàn chắc chắn là trời mưa, như vậy cái lô-gic ở đây không có nghĩa hoàn toàn tuyệt đối nhưng được dựa trên đa số trường hợp. Tới đây, ta cũng có thể nhận định là sự tin tưởng có một sự liên hệ chặt chẽ với lý thuyết xác suất - một lý thuyết toán học có thể đánh giá được khả năng xảy ra của một sự việc, hành động bằng những con số cụ thể. Trong đời sống, tin tưởng vào một số vấn đề, sự việc, sau khi đã lý luận phân tích, là tin vào xác suất cao của vấn đề, có nghĩa là khả năng xảy ra của sự việc là rất cao. Nếu lấy một thí dụ phức tạp hơn về thị trường chứng khoán, giá cả cổ phần của các công ty sẽ lên xuống tùy theo hoạt động của các công ty, tình hình chính trị trong nước, ngoài nước, đã lấy được phần lời nhiều về mình khi đầu tư vào cổ phần. Các thương gia này tin tưởng và phán đoán như thế nào về giá cả của các cổ phần. Thông thường các thương gia tin tưởng vào các hoạt động của các công ty, giá cổ phần lên xuống tùy theo hoạt động này. Hoạt động của các công ty mạnh hay yếu được dựa vào số tiền thu nhập cuối năm, và sự thu nhập này lại dựa trên số sản phẩm được bán ra cuối năm. Sự cạnh tranh của các sản phẩm trên thị trường tùy thuộc vào chất lượng của sản phẩm, và khả năng điều khiển của các quản lý sẽ đóng một vai trò quan trọng cho chất lượng của sản phẩm. Ngoài ra còn nhiều khả năng khác ảnh hưởng đến sự hoạt động của các công ty, nhưng sự quản lý và giá thành vẫn là cốt yếu cho sự cạnh tranh. Do đó sự tin tưởng của các thương gia về giá cổ phần sẽ trọng tâm lên phần quản lý, điều hành của các công ty, và sự tin tưởng này được dựa trên nhiều kiến thức phức tạp học hỏi, phân tích từ các công ty.

Kiến thức và sự tin tưởng cũng có tương quan mật thiết. Sự tin tưởng được hình thành qua nhiều phân tích, lập luận trên kiến thức. Trở lại trời mưa, trời có nhiều mây xám tức sẽ sắp mưa, đó là một kiến thức vì nó đã được lặp đi lặp lại nhiều lần trong quá khứ. Tuy nhiên liên quan lẫn nhau, sự tin tưởng không phải là một kiến thức vì đó là một sự việc có thể xảy ra trong tương lai và không nhất thiết sẽ xảy ra. Trong suy nghĩ, sự tin tưởng choáng một phần lớn trong quá trình suy nghĩ, xảy ra song song với các trạng thái, giai đoạn hình thành nên sự suy nghĩ, nhưng đặc biệt gây nên một động lực, thúc đẩy sự suy nghĩ đến một sự hoàn hảo. Thí dụ, một thanh niên, sau khi tập thể dục, anh ta thật khát nước, anh bước vào căn phòng, anh biết rằng trong căn phòng này có một tủ lạnh và trong tủ lạnh có một chai sô-đa, anh ta cũng biết rằng anh ta có thể mở tủ lạnh và cầm lấy chai sô-đa, và anh tin tưởng rằng anh ta được phép uống nước từ chai sô-đa này, như vậy liệu anh thanh niên này có uống nước từ chai sô-đa đó không? Thực ra, theo lý thuyết về sự tin tưởng anh ta sẽ uống nước từ chai sô-đa, nhưng đứng về phương diện Tâm lý học, vẫn có một phần nhỏ khả năng mà anh thanh niên sẽ quyết định không uống, chẳng hạn như anh ta có thể nghĩ rằng trong chai sô-đa có độc, hoặc lý do tự ái rằng đã không được phép rõ ràng.

Khác với kiến thức, khái niệm chứa đựng những tin tức, sự việc đã xảy ra trong quá khứ nhưng mang theo một cấu trúc khá phức tạp, một sự trừu tượng, đòi hỏi một khả năng am hiểu về sự việc. Vào khoảng lớp 10, học sinh trung học được giới thiệu về vector, vector được định nghĩa nôm na là những chiều dài có gốc và định hướng như những mũi tên, nếu chúng ta chỉ dừng ở đây, đó sẽ là kiến thức về vector. Khái niệm về vector phải được diễn giải thật sâu rộng hơn như vậy. Ðể thấu hiểu tường tận, học sinh nên được giới thiệu lịch sử, xuất phát của vector, sự liên hệ của vector giữa hình học và hệ trục tọa độ của hình học giải tích, áp dụng của vector trong bài toán vật lý, đặc biệt trong cơ học. Có khái niệm về vector, có nghĩa là khi anh học sinh nhắc đến vector, anh đã có thể mường tượng rõ ràng đó là một đại lượng toán học dùng để biểu diễn các độ đo có hướng và áp dụng rộng rãi trong cơ học. Như vậy, khái niệm không đơn thuần là những tin tức, nó mang một tính chất sâu đậm, uyển chuyển, thâm uyên của vấn đề. Ðể thông hiểu một khái niệm, một người cần một sự tập trung, một khả năng phân tích, và một kiến thức rộng rãi liên quan đến vấn đề đó, sự giúp đỡ bằng cách hướng dẫn bàn luận của những người đã thật sự am hiểu về khái niệm đó đóng một vai trò quan trọng trong sự tạo dựng những khái niệm căn bản, do đó vai trò của giảng viên, giáo sư trong học đường coi là những trọng trách gây dựng những khả năng trong kỹ thuật hoặc văn chương, xã hội học cho thế hệ sau.

Sự liên quan giữa khái niệm và sự tin tưởng cũng là những diễn biến quan trọng trong sự suy nghĩ, sự tin tưởng vào vấn đề góp phần đẩy mạnh tốc độ, sự đào sâu của việc hấp thụ một khái niệm. Khi khái niệm được giới thiệu, thoạt tiên một người khó có thể thấy được các lô-gic chằn chịt, các ý nghĩ sâu sắc, cho nên anh ta cần có một sự tin tưởng vào vấn đề, tin tưởng rằng các kiến thức, lô-gic mà anh ta mới vừa được thấy là sự thật, nếu không anh ta sẽ có thể gặp nhiều khó khăn trong hấp thụ sâu xa các khái niệm đó. Thí dụ, khái niệm về máy tính được giới thiệu cho một người, và được định nghĩa như là một loại máy có thể thay người làm những phép tính, giải phương trình... Với tốc độ nhanh gấp trăm ngàn lần con người, có khả năng nhớ và giữ hàng triệu dữ kiện của kiến thức. Cho một người lần đầu tiên làm quen với máy tính, thật khó cho anh ta mường tượng rõ ràng trong đầu với định nghĩa trên, anh ta chỉ có thể có một nhận định lờ mờ máy tính thay thế người và có khả năng làm các phép tính cực nhanh hơn người. Ðể có thể tiến xa hơn trong việc thuần thục khái niệm này, anh ta nên tin tưởng vào kiến thức mới lờ mờ này; tin tưởng rằng máy tính có thể hiện những phép tính phức tạp như vậy với siêu tốc độ, có sự tin tưởng như vậy, anh ta mới có thể bắt đầu đi sâu vào các khái niệm như cấu trúc máy tính, lập trình, nguồn gốc của máy tính, cơ cấu của trung tâm điều khiển...Sau khi thấu hiểu được phần nào diễn biến của sự suy nghĩ, chúng ta có thể áp dụng những cơ chế ấy, để tăng cường khả năng suy nghĩ của con người. Dựa trên lý thuyết trên, để rèn luyện sự suy nghĩ ở mực độ cao, kiến thức nên được thâu thập một cách rộng rãi, các khái niệm nên được tiếp thu một cách vững chắc, sâu đậm, và sự tin tưởng nên được hướng dẫn một cách lô-gic. Tùy theo xã hội, văn hóa, sự áp dụng của lý thuyết nên linh động để gây được kết quả cao, ở đây tôi xin giới hạn trong khuôn khổ của xã hội vào văn hóa Việt Nam.

Ðể trọng tâm vấn đề rõ ràng, sự suy nghĩ, kiến thức, sự tin tưởng và khái niệm sẽ được bàn luận ở bậc phụ huynh sẽ gây một ảnh hưởng lớn đến thế hệ trẻ.

Ở bậc Tiểu học, các hoạt động của suy nghĩ thường mới bắt đầu, nhưng các phương pháp giáo dục, giới thiệu kiến thức sẽ là ảnh hưởng sâu đậm đến đời sống tinh thần của các em trong nhiều năm sau. ở giai đoạn này, các lô-gic cầu kỳ nên được tránh, với đầu óc thoải mái các em sẽ có thể phát huy khả năng sáng tạo. Kiến thức và khái niệm nên được giới thiệu đồng thời, không nên đi quá sâu về khái niệm của vấn đề vì các em cần được phát triển tự nhiên ở trong thời kỳ này. Kiến thức nên được chọn lựa rộng rãi với nhu cầu gieo rắc vào các em những khái niệm mới trong kỹ thuật và xã hội, như vậy các em sẽ bắt đầu làm quen với những khái niệm đương thời, sẽ giúp các em dễ dàng tiếp thu trong những năm kế tiếp. Thí dụ, máy tính nên được giới thiệu một cách sơ khai bằng cách đưa những tranh vẽ giữa người và máy, các hoạt động trong văn phòng và hãng xưởng. Các thầy cô giáo nên chú ý đến việc theo sát tình cảm của các em, ngoài việc hấp thụ kiến thức, đời sống tinh thần ở tuổi nhỏ cũng đóng vai trò then chốt trong sự phát triển về sự suy nghĩ đến mức tối đa.

Khi bước chân vào Trung học, các học sinh đã bắt đầu làm quen với học đường, đã có một kiến thức căn bản về viết, đọc, toán học và khoa học tự nhiên. Ðây là lúc khá quan trọng cho học sinh trong quá trình phát triển về khả năng suy nghĩ, việc dìu dắt của giáo viên chiếm vị trí cốt yếu cho sự phát triển này. ở lúc này, sự suy nghĩ của học sinh tuy chưa hoàn toàn trưởng thành, nhưng cũng đã bắt đầu sẵn sàng cho những kiến thức, khái niệm khá phức tạp. Nếu được kích thích đúng lúc, các chuổi dài của suy nghĩ sẽ được hình thành trong chiều hướng giải quyết vấn đề. Trong lúc giảng dạy, các giáo viên nên đưa ra các câu hỏi đặt vấn đề nhằm kích thích và rèn luyện lối suy nghĩ phân tích cho học sinh. Thí dụ, khi giới thiệu về đa thức trong giờ đại số, câu hỏi nên được đặt ra như "Ða thức là gì ?", "Ða thức từ đâu đến ?", "Liên hệ giữa đa thức và số học ra sao ?", "áp dụng của đa thức như thế nào ?". Sau khi câu hỏi được đặt ra, các giáo viên nên khuyến khích học sinh tham gia trả lời câu hỏi, trong một sự thoải mái và sôi nổi. Làm như vậy, sự suy nghĩ của học sinh sẽ được kích thích tối đa, các lô-gic chặt chẽ sẽ được hình thành, ở những tuổi này sẽ là nền tảng thật vững chắc.

Ngoài việc kích thích các suy nghĩ ở Trung học, các kiến thức tổng quát nên được giới thiệu càng nhiều càng tốt cho học sinh, nhưng lúc nào cũng trong thoải mái và am hiểu tường tận, không nên nhồi nhét hoặc ép học sinh chỉ thuộc lòng những kiến thức. Các kiến thức nên được chọn lựa kỹ càng, nên cập nhật, để giúp học sinh quen thuộc nhiều lãnh vực khác nhau trong kỹ thuật, xã hội, văn chương, để có thể đào sâu, chuyên môn hóa ở những năm ở đại học hoặc nghề nghiệp. Ðây là những tuổi tốt nhất để thu thập dễ dàng nhiều kiến thức liên quan khác nhau trong đời sống, vì trong lúc này các suy nghĩ đang trong thời gian nẩy nở và học sinh đang lúc tràn đầy năng lực của tuổi trẻ. Về các khái niệm, đây là khoảng thời gian tốt nhất để các giáo viên bắt đầu đào sâu, quan sát khả năng am tường các khái niệm, hơn là chỉ quen thuộc với những kiến thức. Từ lý thuyết trên, khái niệm là những hiểu biết căn bản, cặn kẽ của vấn đề, góp phần vào sự suy nghĩ, giải quyết vấn đề thật hiệu quả, cho nên các học sinh cần được thông suốt các khái niệm then chốt, làm nền tảng cho bước đường sau. Sự sáng tạo được định nghĩa đơn giản là một sự thay đổi theo chiều hướng cải tiến từ những khái niệm, định nghĩa căn bản, việc giúp đỡ học sinh nắm chặt, thấu hiểu các khái niệm cũng là tạo dựng những mầm mống sáng tạo, cống hiến cho việc cải tạo xã hội tương lai. Trong giảng dạy, các câu hỏi có tính chất kích thích, rèn luyện sự sáng tạo nên được đặt ra, các câu hỏi này thường có chiều hướng tổng quát hóa, đặc biệt hóa vấn đề hoặc cố gắng liên quan đến vấn đề khác. Trong giờ Hình Học Giải Tích, sau khi giải quyết bài toán tọa độ của các giao điểm giữa một Parabola và một đường thẳng, giáo viên nên đặt câu hỏi: "Nếu là một Hyperbola và một đường thẳng thì sao ?", : "Nếu là một Ellipe và một đường thẳng thì sao ?", "Chúng ta có thể mở rộng bài toán để tìm giao điểm giữa Parabola và Ellipe không ?... Thật vậy, nếu học sinh được làm quen, rồi trở thành thói quen với lối đặt vấn đề như vậy, anh ta sẽ có khả năng đạt được những sáng tạo trong lý thuyết hoặc kỹ thuật thực hành. ở Trung học, sự tin tưởng vào vấn đề cũng nên được hun đúc là vì tin tưởng vào một sự việc sẽ giúp con người ta tự tin để lao vào khám phá, chứng minh những công trình lợi ích. Sự tin tưởng thường được rèn luyện bằng cách hiểu rõ, tìm hiểu sự áp dụng của các giả thiết, định lý hoặc bổ đề trước khi đi sâu vào các chứng minh.

Ðại học là giai đoạn mà các suy nghĩ được hình thành khá trưởng thành, tuy vẫn còn một số giới hạn, hạn chế. Ðây là lúc sinh viên có thể suy nghĩ độc lập và tự đọc sách, tuy nhiên các giáo sư vẫn nên cố hướng dẫn họ để khỏi hao phí thời gian, chẳng hạn như giới thiệu rộng rãi các kiến thức đương thời, nhấn mạnh các kiến thức chủ yếu và có thể tìm kiếm những kiến thức này ở đâu. Am hiểu các khái niệm vẫn là nồng cốt trong thời gian này, mặc dù các sinh viên đã có thể thâm thúy các khái niệm một cách dễ dàng, các giáo sư vẫn nên đặt câu hỏi kích thích, đào sâu vấn đề, tạo điều kiện cho sinh viên tường tận chi tiết gốc rễ của vấn đề đến mức tối đa, vì đây là thời gian mà sự suy nghĩ hoạt động mạnh nhất. Một thí dụ tiêu biểu cho sinh viên năm thứ nhất trong giờ Vật Lý cơ bản, các câu hỏi nên được đặt ra như: "Ðiện Trường là gì ?", "Từ Trường là gì ?", "Ðiện Trường và Từ Trường liên quan ra sao ?", "Sự quan hệ mật thiết của công thức toán học và tính chất Vật Lý như thế nào ?", "Biot-Savart law có ý nghĩa như thế nào ? Tại sao ?...

Năm thứ nhất và năm thứ hai đại học, các khóa học có tính cách cơ bản và tổng quát, nhưng vẫn không kém phần quan trọng, nó là những kiến thức mà sinh viên bắt đầu làm quen để đi vào chi tiết những năm sau. ở những năm này, sinh viên nên bắt đầu lối tự đọc sách giáo khoa và cố gắng độc lập soạn thảo các thí nghiệm. Sách giáo khoa tự bản thân nó khá khó để đọc là vì người đọc thường chưa làm quen với các khái niệm chủ yếu, hơn nữa các chi tiết lô-gic và công thức toán phức tạp làm cho người đọc lạc mất ý chính, khái niệm căn bản. Ðể đọc sách giáo khoa ký hiệu quả, các sinh viên nên đọc một cách bình tĩnh, thoải mái sau mỗi trang nên tìm ra các ý chính quan trọng bằng cách tự đặt câu hỏi: "tại sao ?", "đó là nghĩa gì ?", "làm sao ta có được công thức này ?"... không ngần ngại cố gắng giải quyết các bài toán hoặc công thức mà tác giả cho là hiển nhiên, nên tham dự đều đặn các buổi học vì đó sẽ giúp cho những trang sách giáo khoa thêm sáng tỏ cho sinh viên. Nên tránh lối học nhồi nhét hoặc dùng trí nhớ quá nhiều, mỗi khái niệm phải được cẩn thận tham khảo, bàn luận cho đến khi sinh viên thật sự thuần thục, có nghĩa là khi nhắc đến một khái niệm sinh viên có thể mường tượng, tưởng tượng, diễn giải một cách sâu sắc vấn đề bằng cách có thể trả lời một cách tự nhiên các câu hỏi "tại sao ?", "như thế nào ?", "từ đâu đến ?", "áp dụng ra sao ?" ngoài ra, sinh viên nên cố gắng cân bằng giữa học và giải trí, sinh viên nên dành chút thời gian để giải trí, nó có thể giúp cho sự suy nghĩ trưởng thành nhanh chóng và hoàn mỹ.

Ðại học vào năm thứ ba và thứ tư là những năm sinh viên tận lực để trao dồi và hấp thụ sâu sắc những kiến thức, khái niệm sẽ trực tiếp liên quan đến nghành nghề của mình. Các khóa học trở nên có tính chất lý thuyết, các khái niệm, lô-gic trở nên khá chằn chịt, và ngôn ngữ toán học có vẻ rất phức tạp. Ðến lúc này, các sách giáo khoa càng phức tạp hơn, sinh viên vẫn nên trao dồi việc tự đọc sách giáo khoa, nếu các sinh viên đã chưa đạt được cách tự đọc sách thì lại càng cố gắng thêm vì đây là bước quan trọng cho sinh viên trong nghành nghề hoặc theo đuổi những bước xa hơn trong học vấn và lý thuyết. Một cách để đọc các sách giáo khoa này có hiệu quả là sinh viên nên cố gắng tự giải các bài tập được ra ở mỗi cuối chương, nếu cảm thấy bối rối hoặc không hiểu đầu đề, sinh viên nên trở đọc lại các chương của sách giáo khoa, hoặc cố gắng học nhóm khi cần thiết để bàn luận thêm. Trong giảng đường, lớp học các giáo sư nên cẩn thận khi đi sâu vào các chi tiết, hoặc dùng những công cụ toán học quá trừu tượng phức tạp, lúc này sinh viên được trao dồi những khái niệm và ngôn ngữ trừu tượng, nhưng cũng nên tránh tình trạng sinh viên không theo dõi được buổi giảng và đâm ra có thành kiến về môn học. Khi đi sâu vào các ngôn ngữ toán học phức tạp, trừu tượng, các giáo sư nên để thời gian cho sinh viên trả lời những câu hỏi, và trao đổi sống động, cố gắng vạch ra các ý chính mà công thức toán học có thể làm lạc hướng sinh viên. Trong lý thuyết về sự suy nghĩ, khái niệm là những phần quan trọng cấu thành sự suy nghĩ, cho nên ở giai đoạn này, sinh viên ra sức ngẫm nghĩ về những vấn đề mới được giới thiệu bằng cách nghĩ về, nhớ lại những kiến thức trong sách giáo khoa, giảng đường, bàn luận với các giáo sư và bạn bè khi có dịp. Ngoài lý thuyết, sinh viên cũng nên chú ý cẩn thận các thí nghiệm kỹ thuật, trong lúc làm thí nghiệm nên cố gắng dùng lý thuyết đã được học để giải thích các hiện tượng của thí nghiệm và nên cố gắng độc lập. Ngoài các sách giáo khoa, sinh viên nên tham khảo nhiều sách khác liên quan đến môn học của mình, dĩ nhiên với cách đọc cẩn thận như khi đọc những sách giáo khoa, việc này sẽ giúp cho sinh viên có một tầm nhìn rộng rãi, bén nhọn và nhiều góc cạnh trên những kiến thức thu thập. Sự tin tưởng lúc này cũng trở nên hệ trọng cho sinh viên khi đụng chạm với những lý thuyết hoặc thí nghiệm, sinh viên nên cố gắng tạo cho mình một sự tin tưởng, tự tin vào vấn đề, có như vậy sinh viên mới có thể dấn thân, say mê tìm tòi, khảo cứu cho cách giải quyết các bài toán, thí nghiệm. Sự tin tưởng này có thể nẩy sinh ra những sáng tạo, công trình bất ngờ và trong những lúc sinh viên sắp ra đời để chạm trán đời sống nghành nghề thực tế, nó thật là một công cụ hữu hiệu.

Các buổi thuyết trình là một hoạt động không thể thiếu sót ở những năm đại học của sinh viên. Sinh viên nên được khuyến khích tham gia các buổi thuyết trình, trong những lúc sinh viên bị áp lực để trình bày bài nói chuyện của mình trước đám đông, và phải trả lời những câu hỏi liên quan của lãnh vực kỹ thuật, sáng tạo sẽ được ra. Sáng tạo được đến từ những tư tưởng dồn dập và tự nhiên, và từ những câu hỏi của người tham gia. Buổi thuyết trình là khoảng thời gian mà sinh viên trình bày bài nói chuyện do tự chính anh ta soạn thảo, của các lãnh vực liên quan đến môn học, kỹ thuật. Thời gian của bài nói chuyện thông thường khoảng nửa tiếng, và sau đó sẽ có mười lăm phút để trả lời câu hỏi. Các buổi thuyết trình là lúc các suy nghĩ của sinh viên được kích thích cao độ, hơn nữa đó là lúc sinh viên có thể khám xét về số lượng kiến thức, khái niệm đã thu thập trong các năm. Ðể chuẩn bị cho buổi thuyết trình hữu hiệu, sinh viên nên chọn đề tài mà mình thích nhất, hoặc tường tận nhìn về mặt kỹ thuật, rồi cẩn thận tìm đọc những tài liệu và sách giáo khoa liên quan đến đề tài của mình, và cố gắng độc lập soạn thảo bài viết trong chiều hướng đặt vấn đề, bàn luận và giải quyết vấn đề. Trước khi tốt nghiệp, các sinh viên tham gia các Ðồ án và Tiểu luận. Ðồ án được coi như một công trình nhỏ nhưng cũng có một tính chất suy nghĩ cao độ, các đề tài về Ðồ án được coi như một công trình nhỏ nhưng cũng mang tính chất suy nghĩ cao độ, các đề tài về Ðồ án thường nên liên quan đến vấn đề thực nghiệm. Khi tham gia Ðồ án, sinh viên đã được khả năng tự đọc sách giáo khoa và tham khảo, có một trình độ am hiểu các khái niệm kỹ thuật một cách vững chắc, có khả năng xử dụng và thiết kế các loại máy móc hiện đại với kỹ thuật cao và phải có một giáo sư đỡ đầu cho đồ án đó. Thực hiện một Ðồ án là một quá trình diễn biến khá phức tạp của sự suy nghĩ, trong đó các kiến thức, khái niệm và sự tin tưởng đều được kích thích đến mức cao. Các Ðồ án thường phải tuân theo các bước đặt vấn đề hoặc mô hình của Ðồ án, đưa ra cách giải quyết, thiết kế và máy móc sử dụng cho thiết kế này, và cuối cùng là sự trưng bày hoạt động của máy móc theo thiết kế của Ðồ án. Ðể Ðồ án đạt được chất lượng cao, sinh viên nên đặt trọng tâm trên việc đặt vấn đề, mô hình và cách giải quyết thiết kế của đồ án. Ðể có một đặt vấn đề rõ ràng hoặc một mô hình hữu hiệu, sinh viên nên tìm đọc rõ ràng chi tiết của các tài liệu liên quan, hoặc thăm hỏi giáo sư đỡ đầu về các nguồn tin, cố gắng vận dụng suy nghĩ của mình sau khi tham khảo các tài liệu để đưa ra sự đặt vấn đề. Sinh viên cần đưa ra cách giải quyết, thiết kế hữu hiệu, để đạt chất lượng, sinh viên nên bình tĩnh suy nghĩ, ngẫm nghĩ những kiến thức, khái niệm, liên hệ chúng với nhau để tìm ra hướng giải quyết, thiết kế, đọc thêm sách khi cần thiết nhưng cố gắng dùng khả năng giải quyết của mình ở giai đoạn này. Giai đoạn cuối là thực hiện thiết kế, sinh viên có lẽ sẽ không gặp nhiều khó khăn ở giai đoạn này, nhưng cũng phải nên cẩn thận chọn lựa máy móc thích hợp và thử lại nhiều lần các hoạt động của Ðồ án trước khi kết thúc.

Khác với Ðồ án, Tiểu luận án mang tính chất lý thuyết hơn. Tiểu luận cũng có thể bao gồm thực nghiệm và dữ kiện, nhưng Tiểu luận ít nhất phải đưa ra một hướng giải quyết về mặt lý thuyết hẳn hoi, hoặc ít nhất phải cải tiến chút ít một lý thuyết cũ. Thông thường, các sinh viên thường gặp khó khăn khi tham gia các Tiểu luận vì hiểu tường tận một lý thuyết khái niệm đã là khó, cải tiến một lý thuyết lại là việc khó hơn. Ðây là một trong những bước cao nhất của đầu óc, sự suy nghĩ. Tiểu luận cũng bao gồm các bước đặt vấn đề, giải quyết vấn đề và trình bày một số kết quả thí nghiệm nếu có. Ðặt vấn đề ở Tiểu luận thì phải là một vấn đề liên quan đến lý thuyết, ngay cả lý thuyết về thực hành, và vấn đề phải là một lý thuyết lớn, có nghĩa là sau khi giải quyết có thể đem đến nhiều áp dụng hơn giải quyết các bài toán khác nhau trong lãnh vực. Một cách để đạt được chất lượng cao trong đặt vấn đề lý thuyết, sinh viên bắt buộc phải lao vào tìm đọc sách tham khảo và tài liệu lý thuyết với những công thức, phương trình trừu tượng phức tạp. Trong những lúc đọc, cố gắng nắm lấy những ý chính và tập dợt những công thức, phương trình toán học bằng các qui tắc của tự đặt câu hỏi. Sau khi trở nên thuần thục với các lý thuyết, sinh viên bắt đầu vận dụng suy nghĩ của mình để đặt vấn đề, trong lúc này sinh viên nên tập trung cao độ, cố gắng đưa ra những chứng minh lý thuyết, giải quyết các bài toán nhỏ liên hệ đến vấn đề. Việc giải quyết vấn đề có phần khó khăn hơn, là vì đây là một vấn đề lý thuyết khá lớn đòi hỏi sự cố gắng, nhẫn nại nhiều ngày làm việc của sinh viên. Trong chiều hướng liên hệ các khái niệm với nhau, thực hiện cẩn thận các chuổi dài của sự suy nghĩ, sinh viên sẽ tìm ra hướng giải quyết.

Sau khi tốt nghiệp, các sinh viên sẽ lần lượt chạm trán với xã hội trong các nghề nghiệp khác nhau. Bấy giờ là lúc sinh viên đụng chạm với thử thách thực tế, như vậy sự suy nghĩ của họ sẽ được tiến triển như thế nào trong đoạn đường này? Thực ra trong học đường hay trong xã hội, quá trình suy nghĩ đều được kích thích, tuy ở các dạng mà mức độ khác nhau và nếu các sinh viên đã được hướng dẫn và rèn luyện lối suy nghĩ, họ sẽ tiếp tục phát triển các sự suy nghĩ đó. Trong các nghành nghề kỹ thuật, các sinh viên sẽ bắt đầu tham gia các Ðồ án thực tế, thường các đồ án được chia thành nhiều nhóm để làm việc, nhưng các cách vận dụng suy nghĩ và thi hành các thiết kế vẫn rất tương tự trong đại học. Sự khác biệt giữa Ðồ án thực tế và Ðồ án ở đại học là với Ðồ án thực tế, anh sinh viên phải học hỏi cách làm việc trong nhóm, có nghĩa là anh ta không thể tự động quyết định những ý định, suy nghĩ của mình, nhưng phải bàn luận với người khác trong nhóm. Tuy khả năng độc lập tư duy của anh sinh viên bị hạn chế trong kỹ nghệ, nhưng suy nghĩ của anh ta sẽ được kích thích thật nhiều từ ý kiến của những người khác và trong sự áp lực của hoàn thành công việc giao phó đúng thời hạn. Trong thời gian làm việc, anh sinh viên nên tận dụng cơ hội để học hỏi các kiến thức thực tế, từ các ý kiến kinh nghiệm của các đồng nghiệp đến các máy móc hiện đại, thiết kế, công trình và những tài liệu liên quan công việc, như vậy anh ta có thể rèn luyện sự suy nghĩ, tích lũy thêm nhiều kiến thức, khái niệm để thúc đẩy mạnh năng xuất làm việc của mình và có thể tiến triển hơn trong đời sống như trở thành một nghiên cứu gia hoặc quản lý một kỹ nghệ hiện đại do chính mình tạo dựng.

Ðời sống xã hội bên ngoài sau giờ làm việc cũng rất ảnh hưởng đến sự suy nghĩ của thanh niên. Sau giờ làm việc, học hỏi ở kỹ nghệ và việc làm, các hoạt động giải trí chung quanh cũng gây nên các tác động, các nam nữ thanh niên tuy đã trưởng thành, nhưng các suy nghĩ của họ vẫn còn dễ dàng bị thay đổi hoặc ảnh hưởng các khái niệm sống. Do đó, trọng trách của xã hội là có thể điều khiển, sắp xếp, ổn định các hoạt động giải trí, gây dựng những phong trào văn hóa lành mạnh hoặc các triển lãm có tính cách lịch sử để giúp thanh niên thu thập những khái niệm mới khác và phát huy tinh thần dân tộc. Thí dụ một xã hội được coi là không khá lành mạnh nếu các hoạt động giải trí toàn quán cà phê, quán nhậu, phòng trà, vũ trường... các nam nữ thanh niên la cà vào những quán sau giờ làm việc. Trong khoảng thời gian ngắn, các quán này không có một tai hại nghiêm trọng, nhưng nếu thời gian này kéo dài quá lâu, các thanh niên sẽ đâm ra nhàm chán mất các hướng đi về cuộc đời là vì họ không thấy được tương lai hứa hẹn. Hầu hết các thanh niên đều không nhận thức được, một tương lai hứa hẹn là một cuộc sống với nhiều mục đích tốt đẹp, một trách nhiệm sống đối với những người chung quanh.

Ðối với học sinh, sinh viên, đời sống gia đình góp phần vào việc rèn luyện các lối suy nghĩ của họ. Thông thường các bậc phụ huynh không theo sát đời sống tình cảm, học vấn của con cái mình, nhưng cho phán đoán trên những kết quả hiển nhiên mà thôi. Ngoài việc bắt đầu học tập những kiến thức, khái niệm mới trong học đường, học sinh, sinh viên cũng không ngừng tiếp thu đồng thời các khái niệm tình cảm khác nhau trong đời sống gia đình và xã hội. Các học sinh thường cảm thấy một sự bắt buộc trong tình cảm riêng tư và sở thích của mình trong học vấn, chẳng hạn như các bậc phụ huynh luôn khắt khe con cái mình trong quan hệ trai gái, có khi cấm đoán, nghi ngờ khi con mình quen với bạn khác phái dù chỉ là bạn. Trong việc chọn lựa các môn học và nghành nghề, các phụ huynh thường tỏ ra bắt buộc hoặc mong muốn con mình chọn lựa những nghành hái ra tiền hoặc danh vọng, bất kể sở thích và năng khiếu của con cái mình. Thực ra, giáo dục và dìu dắt thế hệ thanh thiếu niên là một việc làm tốt của bậc phụ huynh, các thanh thiếu niên thường rất tò mò, nóng nẩy trong tình cảm và thường không có kiến thức về các nghành nghề trong xã hội, và có khi không biết ngay cả sở thích của mình, nhưng chúng ta nên tìm hiểu cặn kẽ nguyên cơ, đặt mình trong những tuổi nhỏ, để hòa đồng và bàn luận cởi mở với các thanh thiếu niên, để rồi giải thích, phân tích và hướng dẫn họ ở mọi mặt tình cảm, học vấn và nghành nghề. Như vậy thế hệ trẻ mới có thể đạt được đỉnh cao của trí tuệ.

3/1996.
Quán nước đầu làng Ven > Sáng Tác - Thảo Luận - Phổ biến kiến thức > CLB Văn Hoá - Lịch sử
Bạn đang xem phiên bản gọn nhẹ của diễn đ n dưới dạng text, để xem các b i viết với đầy đủ mầu sắc v hình ảnh hãy nhấn v o đây !
Invision Power Board © 2001-2018 Invision Power Services, Inc.