Langven.com Forum

Giúp đỡ - Lục lọi - Dân l ng - Lịch
Full Version: Hồi Ký Của Các Cựu Chiến Binh Liên Xô
Quán nước đầu làng Ven > Sáng Tác - Thảo Luận - Phổ biến kiến thức > CLB Văn Hoá - Lịch sử
Pages: 1, 2, 3, 4, 5, 6
SyncMaster
Xin giới thiệu với các bạn những hồi ký của các cựu chiến binh Liên Xô trong cuộc chiến tranh Vệ quốc chống Phát xít Đức.

Các bài viết do một người bạn là bác Dangoc từ Box Kỹ thuật quân sự bên Thành thị cung cấp, hiện còn một số bản tiếng Anh cần dịch, nếu bác nào có thời gian có thể dịch những hồi ký này thì mời các bác ra tay nghĩa hiệp cheers.gif
SyncMaster
Phần I - Aleksandr Alekseevich Goncharov (17.12.1918 - 14.12.2000)

Lý lịch quân sự trích đoạn :

10.1938-9.1939 : Trung đoàn lựu pháo 330 - Học viên
9.1939-7.1941* : Trung đoàn lựu pháo 330 - Trung đội phó trung đội hiệu chỉnh
7.1941*-10.1941 : Lữ đoàn chống tăng số 1 - Bộ binh
9.1943-10.1943 : Trung đoàn bộ binh 188 - Bộ binh
10.1943-5.1945 : Trung đoàn xe tải số 12 - Trung đội trưởng trung đội huấn luyện
5.1945-6.1946 : Trung đoàn xe tải số 15 - Hạ sĩ nhất đại đội xe tải

* Hồ sơ quân đội ghi tháng 6-1941, nhưng theo tư liệu phát hành năm 1964, phù hợp với hồi ức của A. A. Goncharov là vào tháng 6 đơn vị của ông được trang bị lựu pháo 203mm: hồ sơ quân đội đã có sai sót.

user posted image
Học viên Aleksandr Goncharov, vùng Zhitomir. 1939.


Uỷ ban quân sự Dzerzhinski thành phố Baku triệu tập tôi vào Hồng quân vào tháng 10-1938. Ban đầu tôi được bố trí làm học viên trường Pháo binh, và tháng 9-1939 tôi trở thành trung đội phó trung đội hiệu chỉnh (fire direction platoon). Vì nhiệm vụ của trung đội bao gồm cả sửa chữa và điều chỉnh cho pháo bắn, nên đôi khi chúng tôi được gọi là "trung đội trinh sát và hiệu chỉnh". Nhưng thực tế chúng tôi không tham gia trinh sát và không bao giờ tới gần khu giới tuyến (no mand's land). Chúng tôi tìm những vị trí quán sát tốt, ngụy trang cẩn thận và sử dụng thiết bị thông tin hướng dẫn, hiệu chỉnh cho pháo bắn. Đó là những gì người ta dạy chúng tôi ở trường Pháo binh. Thực thà mà nói, việc tính toán cũng tương đối phức tạp, bao gồm những công thức toán học và lượng giác.

Thậm chí trước chiến tranh tôi đã tham gia đóng giữ miền tây Ukraine [Cuộc xâm chiếm miền Đông Ba Lan - James F. Gebhardt]. Một lần tôi được chính trị viên (politruck) [sĩ quan chính trị trong Hồng quân, tương đương thượng uý- V. Potapov] gọi đến để cùng lao động với người dân địa phương. Hình như đã có mệnh lệnh yêu cầu phải quan tâm đến việc tái định cư cho một bộ phận đặc biệt dân chúng ra khỏi khu vực này. Chính trị viên, tôi và nhiều binh lính có lập trường kiên định ("ideologically hardened") được cử đến để thiết lập kiểm soát tại địa phương. Chính trị viên của chúng tôi là một người không hề dễ chịu, học vấn thấp và rất trơ tráo. Tôi không ưa lắm những người cộng sản và luôn giữ một khoảng cách đối với họ. Nhưng bởi tôi được đánh giá tốt nên tôi đã bị động viên ngoài ý muốn. Tôi nhớ lại một lần nhận được thư của anh trai tôi. Không giống tôi, anh ấy là một đoàn viên Komsomol tích cực và là thành viên uỷ ban Komsomol thành phố Baku. Trong thư anh ấy rất sôi nổi và nhiệt thành khuyên bảo, hướng dẫn tôi về sự trong sạch và tinh thần yêu nước. Khi tôi đang ngồi đọc bức thư thì bất ngờ chính trị viên, đứng sau và đã đọc được một vài đoạn, giật lấy lá thư khỏi tay tôi. Tập hợp đơn vị lại, anh ta đọc to lá thư cho tất cả cùng nghe. Đương nhiên là tôi không hề thích chuyện này vì nó là một lá thư riêng.

Về sau tôi có dịp phải xung đột với “cách thức” làm việc của anh ta và (do đó) tôi lại còn không ưa bọn họ hơn trước. Tôi nhớ lại một lần trong một ngôi nhà khi người ta đang trục xuất một người nông dân ba Lan khá giả. Do không biết chuyện gì đang xảy ra bên trong, tôi bước tới căn lều và ngay lập tức thấy chính trị viên, tay vung khẩu súng lục ổ quay Nagant Model-1895, đang chửi rủa và dí nó vào mặt người nông dân, đòi phải nộp vàng và tiền. Tôi lập tức dừng lại, quay đi và rời khỏi nơi đó, quên luôn cả việc chuyển bản báo cáo, lí do mà tôi phải đến đấy.

Tôi cũng nhớ có lần chúng tôi đi hộ tống một nhóm dân chúng phải chuyển đi (để tái định cư). Họ chở theo những tài sản đơn giản trên xe ngựa, đột nhiên một trong những phụ nữ Ba Lan cất tiếng hát. Bài hát bằng tiếng Ba Lan và rất hay, nghe tựa như Anna German [Anna German là một trong những ca sĩ Xôviết nổi tiếng nhất thời kì đó- V. Potapov]. Tôi không biết cô ấy đang hát điều gì, nhưng nó như được cất lên từ đáy lòng, và tôi trông thấy mắt nhiều người Ba Lan rơi lệ.

Tôi phải nếm mùi của thực tế chiến tranh ngay từ những ngày đầu, dưới tư cách là một quân nhân thường trực ở miền Tây Ukraine. Trung đoàn lựu pháo số 330 của chúng tôi đang bố trí ở Zhitomir và đang trong dịp đóng trại mùa hè. Vào đêm 22 tháng Sáu người ta đặt chúng tôi trong tình trạng báo động và nhanh chóng di tản chúng tôi ra khỏi doanh trại khi nó bị oanh tạc. Trinh sát Đức đã làm việc rất tốt, dường như họ có đầy đủ thông tin về vị trí của chúng tôi. Nhưng chúng tôi đã may mắn thu xếp di tản khẩn trương nên hầu như không bị thiệt hại. Chúng tôi được trang bị những khẩu lựu pháo 203mm trên giá đỡ tự hành, được kéo bởi một máy kéo rất khoẻ.

Chiến tranh bắt đầu với chúng tôi như thế đó.
SyncMaster
user posted image
Hạ sĩ nhất A.A.Goncharov, 1943


Trận đánh đầu tiên của chúng tôi diễn ra tương đối sớm ngay khi chiến tranh vừa bắt đầu. Chúng tôi đến một địa điểm đã được cấp trên lựa chọn, khẩn trương bố trí pháo, sau đó phát hiện một đơn vị xe tăng và bộ binh Đức đang hành quân. Chúng tôi bắn tập trung vào đó và làm tiêu tan cả một ngày của quân Đức. Lựu pháo 203mm là một vũ khí đầy uy lực! Đạn pháo của chúng tôi bắn tung những tháp pháo xe tăng, ta thấy rõ ánh mắt đám bộ binh Đức thấp thoáng cùng những tiếng nổ, xác chúng văng xa hàng mét trong không trung. Nhìn chung, trận đánh đầu tiên phần thắng nghiêng về chúng tôi. Nó chứng tỏ sự huấn luyện và chuẩn bị tốt của đơn vị.

Tuy nhiên, quân Đức tiến công rất hiệu quả nhờ những đơn vị cơ giới, chọc thủng những khu vực lớn. Tiếp tế đạn dược và nhiên liệu cho xe kéo của chúng tôi bị cắt đứt, và sau khi dự trữ trong tay đã cạn kiệt, chúng tôi phải nhanh chóng bỏ lại pháo và xe cộ, sau khi đã phá huỷ chúng.

Không quân Đức không hề bị ngăn trở trong giai đoạn đầu của chiến tranh. Những cuộc không kích của Đức phá huỷ những sân bay mà chúng ta bố trí tập trung gần biên giới, do đó chúng tôi không hề được không quân yểm trợ. Máy bay ném bom của ta có lẽ được bố trí sâu hơn trong hậu phương, vì trong thời kì đầu, tôi thường xuyên thấy máy bay ném bom của ta bay không có tiêm kích hộ tống. Điều đó khiến chúng trở thành những mục tiêu ngon lành cho quân Đức. Những chiếc "Ishachki" [biệt danh của tiêm kích I-16- V. Potapov] của ta, theo tôi, vô dụng trước không quân Đức và cháy bùng như gỗ dán. Thường là chúng tôi nghe thấy tiếng động cơ và máy bay ném bom của ta bay qua đầu trong đội hình chiến đấu như đang diễu binh, lên tới khoảng 50 chiếc, không hề có tiêm kích yểm trợ. Thường chỉ có 5 tới 7 chiếc quay về. Thật đáng thương và đau sót cho phi công của chúng ta. Nhưng thời kỳ đầu chiến tranh là như thế đó.

Chúng tôi rút lui và quân địch liên tục ném bom. Ban đầu, khi bị không kích, rất nhiều binh lính nấp vào dưới những chiếc xe. Nhưng về sau, sau khi đã chứng kiến những phương tiện và tất cả những ai nấp dưới đó bị tiêu diệt sau những cú oanh tạc chính xác như thế nào, họ đã biết cách chạy xa khỏi chúng. Mọi khe, hố trên mặt đất là những nơi trú ẩn rất tốt. Đôi khi có đến 5-7 binh sĩ nấp chung trong một đoạn hào. Những ai không kịp tìm chỗ trú hoặc đến chậm và phải nằm trên cùng là những người chịu thương vong nhiều nhất.

Có lần trong một cuộc không kích tôi bị mất phương hướng, nhưng rồi phát hiện ra một cái hố và nhảy vào đó. Bên trong đã có 2 hay 3 người đang nấp. Tôi ngã xuống đầu họ và quay người lại nên hướng mặt lên trên. Sau cùng ai đó cũng đã nhảy lên người tôi, mặt úp xuống. Chiếc máy bay ném bom bổ nhào lướt qua chậm đến mức tôi có thể thấy rõ ánh mắt của tên phi công Đức đang ngồi trong buồng lái!

Hoàn toàn có thể đoán được chỗ mà quả bom rơi xuống : nếu anh thấy đuôi của trái bom, điều đó có nghĩa là nó sẽ không rơi trúng anh; nếu anh thấy mũi của quả bom, rồi sau đó là đuôi bom, cũng có nghĩa là nó không rơi trúng anh. Trong trường hợp quả bom là một chấm tròn lớn dần-một cú trời giáng ! Tôi đã không có đủ thời gian phản ứng trước khi có một tiếng nổ inh tai và mặt đất rung chuyển. Sau đó mọi thứ trở nên im ắng và chỉ còn tiếng vo vo trong tai. Người lính nằm trên tôi bị thương. Khi cuộc không kích chấm dứt, mọi người bắt đầu ra khỏi nơi ẩn nấp. Nhưng người lính đó, tôi có thể hiểu qua những từ ngữ và cử chỉ của anh ta, đang đề nghị được băng bó. Anh ta cởi chiếc áo đưa cho tôi. Anh ta quay lưng lại nhưng tôi không biết làm sao để băng bó. Xương vai của anh bị vỡ, và tôi có thể thấy lá phổi giật giật. Tôi nói với anh ta, nhưng không thể nghe nổi giọng nói của chính mình, rằng anh cần một y sĩ và tôi bắt đầu tìm kiếm họ. Người lính vẫn bình tĩnh và nói không có gì đáng sợ. Làm sao anh ta lại không cảm thấy đau đớn ? Có lẽ anh ta vấn đang bị sốc. Mấy phút sau khi bác sĩ đến anh ta đã tái đi và bất tỉnh. Tất nhiên, anh ấy đã bị một vết thương khủng khiếp. Tôi chỉ bị giập nhẹ và khỏi sau đó một hay hai tuần.

Thông thường, chúng tôi thiệt hại nhiều vì không quân địch. Đôi khi máy bay Đức ném xuống cùng với những trái bom là những thùng rỗng được chọc thủng. Âm thanh do chúng phát ra khủng khiếp đến mức mạch máu của chúng tôi như đông cứng lại. Thật là một thứ vũ khí tâm lý đầy uy lực !

Những đơn vị quân Đức liên tục phá vỡ trận tuyến quân ta ở nhiều quân khu. Điều đó gây cho tôi cảm giác về sự lẫn lộn, không có tin tức gì chuẩn xác. Lúc đó quân Đức tiến nhanh hơn các đơn vị quân ta đang phải rút lui, và dễ dàng chọc thủng tuyến phòng ngự. Nhưng có thể hiểu một cách đơn giản cảm giác của tôi. Tôi không có cách nào để xác thực.
SyncMaster
Một lần người ta bố trí tôi ở một ngã ba để hỗ trợ việc điều hành đội hình giao thông ở đó. Họ nói khi tất cả đã qua hết một chiếc xe sẽ quay lại đón tôi. Nửa ngày trôi qua nhanh chóng và những gì đi qua chỗ tôi không phải những đội hình nghiêm chỉnh mà là những toán binh lính đông đúc. Sau cùng con đường trở nên vắng vẻ, và vài người lính trinh sát đến. Họ bảo tôi rút đi vì ngay sau lưng họ là quân Đức. Họ là những người cuối cùng, không còn ai rút qua đây. Tôi trả lời rằng tôi vẫn nhớ là sẽ có một chiếc xe quay lại đón tôi. Họ mau chóng biến khỏi tầm mắt nhưng vẫn không có chiếc xe nào chạy tới đón. Mặt trời đang lặn. Không xa đó là một ngôi làng. Tôi quyết định đến đó xem xét. Có thể có một bộ phận sở chỉ huy ở đó. Tôi hy vọng sẽ hỏi họ xem tôi có thể rút đi chưa. Hoặc tôi có thể nhìn thấy người của ta ở đó và sẽ quay về vị trí. Khi anh biết mình không cô độc, anh sẽ thấy bình tĩnh hơn.

Tôi nghĩ rằng tôi đã chạy tới ngôi làng. Khi đi qua một khu vườn, tôi nhìn về phía trước và thấy cách đó 100m, một tên lính Đức, tay áo xắn lên, lăm lăm khẩu tiểu liên đang tiến lại. Hắn vừa đi vừa nhìn quanh. Tôi vội nằm xuống, đưa đường ngắm vào hắn. Chờ giây lát khi hắn dừng lại, tôi nhẹ nhàng bóp cò. Hắn đổ gục xuống, tay vung lên. Tôi chạy vòng vèo như một con ong khỏi ngôi làng, phóng bừa qua những đám cây cối và bụi rậm !

Chạy khoảng 800m, tôi quay lại ngã ba mà tôi đã đứng cả ngày hôm đó. Tôi thấy cách đó một quãng là chiếc xe đã đến đón tôi trong khi tôi tới ngôi làng. Không tìm thấy tôi, chiếc xe đang quay lại. Tôi đuổi theo nó. Tôi không dám nổ súng, điều đó sẽ làm bọn Đức đang ở quanh đây chú ý. May mắn cho tôi, một người ngồi cuối xe đã nhìn thấy. Họ dừng lại và đón tôi.

Còn những gì mà tôi nhớ trong những tháng đầu tiên của chiến tranh? Rất nhiều xác chết của bộ đội và dân chúng nằm dọc những con đường rút lui... Những cánh đồng lúa bốc cháy... Khói đen hoàn toàn che kín bầu trời, mặt trời chỉ còn thấy được lấp ló. Người ta vẫn thường chiếu cảnh tương tự những phim chiến tranh và có người bảo rằng đó không đúng sự thực. Nhưng tôi xin khẳng định rằng đó chính là những gì đã xảy ra!

Tôi nhớ chuyện trên một cây cầu nhỏ, trong một chiếc xe bị phá huỷ, một người lính gần như bị cắt làm đôi và nửa thân còn sống của anh ta treo trên thành cầu nhờ bộ ruột. Tôi nhớ một người lính biên phòng nằm sấp trên vũng máu tuôn ra từ con ngựa chết gần đó. Qua những bọt khí trên vũng máu tôi có thể nói rằng anh ta còn sống. Tôi lật người anh lại để anh có thể thở dễ hơn. Sau đó bác sĩ có đến giúp anh ta không? Không ai biết.

user posted image
Thị trấn Galats, 1945.


Một lần tôi và người đồng đội suýt bị giết bởi một chiếc xe tăng nhẹ của Đức. Chúng tôi được cử đi trinh sát khu vực đóng quân của Đức. Chúng tôi chạy trốn chiếc xe tăng. Vì lí do nào đó nó đã không nổ súng, có thể vì bị che mắt hoặc do nó muốn dùng xích nghiền nát chúng tôi. Chúng tôi chạy trên cánh đồng một lúc lâu rồi lọt vào một cánh đồng hoa bia. Những chiếc cọc đỡ giàn trông rất giống cọc dây điện thoại. Sợi dây treo trên đó khá to so với dây leo. Chúng tôi đã may mắn vượt qua cánh đồng, và trong khi chiếc xe tăng bị vướng vào những giàn đỡ thì chúng tôi tiếp tục chạy xa. Đến giờ tôi vẫn ngạc nhiên tại sao khi ấy chân tôi đã không bị vấp vướng. Nếu điều đó xảy ra, chúng hẳn đã là màn liệm cho chúng tôi rồi! Bất kỳ ai từng trông thấy các giàn hoa bia hẳn đều hiểu điều tôi đang nói. Tôi cũng nhớ rằng những xe bọc thép của ta là những mục tiêu ngon lành cho quân Đức và bùng cháy tựa như những que diêm. Chúng bị bắn thủng dễ dàng bởi súng máy cỡ lớn của Đức.

Có ba lần tôi đã thoát khỏi bị bao vây. Trong hai lần mọi chuyện đều ổn, và trong lần thứ ba địch bao vây chúng tôi ở khu vực Kiev- trong khi chạy trốn tôi đã bị thương ở chân vì một mảnh mìn. Tôi bị thương vào chân trái. Mảnh mìn cắt đứt bàn chân ngay chỗ dưới các ngón chân, làm gãy tất cả các xương ngoại trừ ngón cái. Đó là tháng 10 và chúng tôi đã hành quân bộ về phòng tuyến của ta suốt 1 tháng. Đồng đội của tôi- những người lính trinh sát cắt rời chiếc ủng, lúc đó đã nhanh chóng đầy máu, băng bó vết thương và kéo tôi bằng chiếc áo choàng đến một gian nhà kho. Họ tìm ra một bác sĩ, anh ta khâu vết thương và nẹp lại xương. Anh ta cũng thay băng và cho tôi ít thức ăn, nước uống. Một thương binh khác có thể đi được ở lại cùng tôi.

Ngay khi quân Đức tiến vào làng, chúng đặt loa phóng thanh trên xe, thông báo rằng những binh sĩ Nga ẩn nấp ở đây không cần sợ hãi. Chúng hứa hẹn sẽ đảm bảo mạng sống cho họ. Người thương binh ở lại cùng tôi quyết định đầu hàng. Anh ta khuyên tôi cũng làm vậy nhưng tôi từ chối. Tôi bảo anh ta giúp tôi trốn vào một đống rơm để quân Đức không tìm thấy. Anh ta giúp tôi rồi đi. Tôi không bao giờ gặp lại anh ta. Quân Đức liếc nhìn vào bên trong nhà kho, bắn một loạt vào nhưng không có chuyện gì. Sau đó chúng tập trung tù binh và chuyển đi. Tôi nghỉ một lát cho lại sức rồi bắt đầu đi về hướng đông nam, tới Dnepropetrovsk, tạm thời bằng một cái nạn. May mắn, thành phố đó không xa và đó là quê hương của tôi. Tôi đã sinh ra ở làng Troitskoe, vùng Dnepropetrovsk, tỉnh Petropavlovsk.
Mìn
Dạng hồi ký , nhất là về chiến trường , lại có các số liệu kỹ thuật ,... bác nên cho nó vào box Văn hóa lịch sử chứ cho vô chổ Văn học e ko được hợp lý lắm
SyncMaster
Tôi có rất nhiều họ hàng ở đây, mặc dù sau cuộc Nội chiến gia đình tôi đã buộc phải rời đến Baku để khỏi bị trục xuất và tránh nạn đói. Họ đã tịch thu tài sản của ông ngoại tôi (nguyên văn : họ đã "trừ kulak" ông ngoại tôi) [Những người Bolsheviks gọi những phú nông là "kulak"; "trừ kulak" có nghĩa là tịch thu mọi tài sản, cả tiền, thực phẩm, nhà cửa, gia súc... - V.Potapov]. Ông có một nông trại xoàng xoàng và đã rất hổ thẹn khi bị tịch thu tài sản bởi chính những kẻ nát rượu trong làng mình. Hiện giờ ông chỉ còn là một người nghiện rượu bét nhè, nhưng vào thời đó ông từng là “một nhân vật có vai vế”!

Khung cảnh mà tôi đang đi qua rất quen thuộc, tôi hỏi thăm người ta về những người họ hàng của mình. Nói chung họ đã giúp tôi đến nơi, mặc dù ban đầu ông tôi thậm chí đã không nhận ra tôi ! Rất khó khăn để ông nhận ra người cháu trai trong bộ dạng trưởng thành và mái tóc rối bời. Sau đó thân phận của tôi trở nên thú vị vì không ai giao tôi cho quân Đức, kể cả cảnh sát địa phương, thậm chí họ đối xử tốt với tôi ! Không có quân Đức đóng trong làng, mặc dù thỉnh thoảng chúng hành quân qua. Mỗi khi đó tôi cố gắng để không phải nhìn chúng. Chân tôi đã dâng đỡ hơn.

Tháng 10-1943, sau khi vùng này được giải phóng, một lần nữa tôi gia nhập quân đội. Uỷ ban quân sự sau khi xem xét vết thương của tôi đã loại tôi khỏi quân chính quy, gửi tôi tới một khoá học lái xe và sau đó làm trung đội phó trung đội huấn luyện của trung đoàn xe tải số 12. Nhiệm vụ của tôi không chỉ là huấn luyện mà còn cả chở hàng ra mặt trận. chúng tôi được coi là một đơn vị phụ trợ, mặc dù với những thùng đạn dược và thuốc nổ thì cũng không gặp nguy hiểm ít hơn nếu người ta xem xét những lần chúng tôi phải chở chúng tới sát mặt trận dưới hoả lực pháo binh và không quân Đức.

Phi công Đức rất cẩn thận. Khi chúng phát hiện ra điều gì khả nghi, chúng lượn vòng bên trên và xem xét mục tiêu. chúng có thể bay qua đầu chúng tôi, biến mất vào khoảng không rồi sau đó trở lại. Tôi có thị giác rất tốt, có thể thấy chúng từ xe nên trung đoàn trưởng thường xuyên mang tôi đi cùng. Nếu tình hình không ổn, chúng tôi sẽ nhanh chóng dừng xe và bố trí sao cho trông chúng như là đã bị bỏ lại. Chúng tôi vứt vài thứ xung quanh đó rồi ẩn mình ở chỗ nào có thể... Dù thế nào, máy bay Đức cũng sẽ lượn vài vòng rồi trở lại, đôi khi chúng dùng pháo hoặc súng máy bắn một loạt.

Theo cách đó, khi chở hàng cho đơn vị tiền tiêu của phương diện quân Ukrainian số 2, tôi đã tham gia chiến dịch Kishenev và sau đó alf chiến dịch Budapest. Đặc biệt khó khăn là chiến dịch đánh chiếm Budapest. Ở đây phải vận chuyển đạn dược thẳng tới các đơn vị tiền tuyến, dưới làn hoả lực dữ dội. Người ta không tặng huân chương cho chúng tôi vì chúng tôi chỉ là một đơn vị phụ trợ. Nhưng Chúa phù hộ chúng tôi, và chúng tôi đã được nhận tấm huân chương quý giá nhất-mạng sống của mình !

Ở Romania, vì phải đi liên tục nên tôi đã tới nhiều thành phố và thị trấn. Thật ngạc nhiên là tôi đã nhanh chóng nắm bắt được ngôn ngữ Romania, và sau 3 hoặc 4 tuần tôi đã có thể nói chuyện được với người Romania. Tôi đã nói tốt đến mức khi đó người Romania coi tôi là một thành viên trong bọn họ. Thỉnh thoảng tôi còn xây dựng quan hệ “thương mại” với đám dân địa phương. Nếu tôi phải đi xe không tới chỗ nào đó, có thể chở giúp ít hàng và những người Romania trả ơn bằng những thùng rượu đầy.

Thỉnh thoảng chúng tôi tiến hành tìm thứ gì đó trong những đống đồ của quân Đức. Tôi nhớ là đã rất thích những chiếc áo choàng ngụy trang của quân Đức. Bên trong trắng và bên ngoài rằn ri. Người mặc nó sẽ khó bị phát hiện ngoài tuyết hoặc trong tình huống ngược lại. Người Đức rất giỏi trong lĩnh vực xe cộ và trang bị!

Về khía cạnh con người, dân Romania khá hiếu khách mặc dù binh lính của họ chiến đấu chống lại chúng ta. Còn hạnh kiểm của quân ta, những người đi giải phóng họ thế nào ? Cũng chỗ này chỗ khác. Nói chung, kỉ luật được giữ tốt. SMERSH [NKVD - James F. Gebhardt] đã không ngủ gật. Kỉ luật xuống đột ngột khi họ bắt đầu gửi cả những tội phạm ra mặt trận. Nhiều hành động trộm cắp từ cả những quân nhân và dân địa phương lập tức gia tăng và từ nhóm này hiện tượng dedovshina [cảnh binh sĩ này ức hiếp, bắt nạt những binh sĩ khác, dựa theo thâm niên phục vụ - James F. Gebhardt] đã mau chóng phát triển.

Nhiều kẻ tội phạm như vậy, những người được phép chuộc tội trước tổ quốc bằng máu mình, được bố trí vào trung đội tôi. Nhưng họ không chịu thừa nhận tội lỗi và trong thâm tâm họ không chịu thay đổi. Sau nhiều ví dụ về trộm cắp và bạo lực, gồm cả những trường hợp tồi tệ, chúng tôi phải "giáo dục lại" họ bằng cách mà họ hiểu rõ nhất. Sau khi được "giáo dục lại" tôi không còn nghe thấy trường hợp phạm tội nào trong trung đội (có lẽ là xử bắn-PTS).

Chúng tôi không hay va chạm với những đơn vị khác. Chỉ trong một lần kiểm tra tôi được thông báo là một người lính của tôi đã bị nện nhừ tử. Sau khi hỏi tôi biết rằng anh ta đứng về phía mấy người Romania bị quấy rầy bởi những thủy thủ của Hải đoàn Danube chúng ta. Đương nhiên, những thủy thủ đó say rượu. Tập trung một nhóm bạn bè, đồng đội cùng với người lính bị hành hung, chúng tôi đi tìm đám thủy thủ. Chúng tôi thấy họ trong một nhà hàng. Chúng tôi đã nói một cách nóng nảy. Dĩ nhiên, họ có cả một vốn từ vựng của thủy thủ để đáp lại. Bất ngờ một trong bọn họ rút ra một khẩu súng lục. Một đồng đội của tôi cố gắng tước vũ khí của tay thủy thủ đó, còn tôi và một đồng đội khác lao tới giúp anh ấy. Bạn tôi bị bắn vào tay còn tay thủy thủ bị thương vào chân. Cánh thủy thủ trở nên tỉnh táo hơn ngay lập tức, họ đưa người bị thương biến mất về chỗ của mình với sự đe doạ. Sau đó chúng tôi được biết họ đã đem sự đe doạ tới những người Romania ở vụ xung đột đầu tiên. Họ bắn vào cửa sổ trong đêm. May thay, cửa sổ rất chắc nên không ai trong nhà bị thương. Cả gia đình chạy xuống và thấy trần nhà bị đạn bắn thủng. Gia đình người Romania đã rời khỏi vùng để tránh những phiền phức khác. Chuyện như thế đó.
SyncMaster
Tôi còn nhớ có lần lái xe quanh Budapest và thấy những mảnh xác của một máy bay Đức bị bắn hạ nhô ra từ tầng trên một ngôi nhà.

user posted image
Chụp ảnh cùng những đồng đội (tôi thứ hai tính từ trái sang). Rumania, 1945.


Khi cuộc tấn công thành phố mở màn, tôi phải sơ tán con cái những nhà ngoại giao ở sứ quán Italia. Tôi đưa chúng ra khỏi khu vực chiến sự. Tôi đặt đứa nhỏ nhất lên cabin và những đứa còn lại trên thùng xe. Lúc đó là mùa đông và vì sợ chúng rét, tôi trải rơm lên sàn xe. Khi chúng tôi đang đi thì một chiếc "lapotnik" [biệt danh của Nga đặt cho máy bay FW-190 của Đức - V.Potapov] bay qua, bắn một loạt súng máy. Tôi vội lái xe vào bên đường, dừng lại và kéo lũ trẻ xuống. Sau đó tôi mở cửa thùng xe và bọn trẻ ngồi trong đó nhảy ra. Tôi nhỡ rõ một bé gái khoảng 4 tuổi đã bám chặt lấy cổ tôi ! Tôi bế nó trên tay. Chúng tôi nhanh chóng tung khỏ khô ra xung quanh, cố làm ra vẻ chiếc xe đã bị hỏng rồi chạy tới hàng cây với lũ trẻ. Tôi đang bế bé gái và những đứa khác vây quanh tôi giống như đàn gà con vây quanh mẹ. Chúng tôi có thể dễ dàng bị phát hiện trên mặt tuyết và là những mục tiêu ngon lành.

Thông thường mọi người phải chạy tản ra, nhưng trong tình huống này chúng là những đứa trẻ đang hoảng sợ, thậm chí không hiểu tiếng Nga. Thật tốt là viên phi công Đức lượn vòng rất rộng. Máy bay của hắn trở thành một chấm nhỏ trên bầu trời. Chúng tôi đã ở dưới hàng cây, nhưng tôi sợ rằng viên phi công Đức sẽ phát hiện và thương vong là khó tránh khỏi. Tôi nằm xuống và bọn trẻ túm tụm xung quanh. Tôi che cho bé gái vẫn đang bám chặt vào cổ tôi. Tên phi công bắn vài loạt đạn vào chiếc xe và rừng cây nhưng không kết quả gì. Hắn không phát hiện chúng tôi và không ai bị thương. Chúng tôi đi tiếp cuộc hành trình mà không gặp trở ngại gì, sau đó tôi lại quay lại sứ quán để đưa tiếp những đợt khác. Rất tốt là không đứa nào bị rét. Đó là một sự lo lắng lớn của tôi, với lũ trẻ, màu đông và chiếc xe. Đôi lúc tôi tự hỏi bây giờ lũ trẻ ở đâu và chuyện gì đã xảy ra với chúng.

Sứ quán Italia cấp cho tôi một chứng nhận để cảm ơn vì sự giúp đỡ. Tôi đã để tờ chứng nhận trên cây đàn piano và đi. Chắc chắn đó là một món quà lớn đáng nhớ, nhưng vào thời điểm đó SMERSH có thể bỏ tù bạn vì những lỗi lầm nhỏ, và tờ chứng nhận đó là từ một nước phát xít. Ngoài ra họ còn tặng tôi 2 cuốn sách dày viết về lịch sử văn hoá Italia. Nó chứa đựng những mô tả đẹp đẽ và tôi đã mang nó theo. Người ta có thể để ý ngay tức thì. Tôi không muốn xúc phạm tới họ và tôi đã nhận. Rời sứ quán, tôi lo rằng SMERSH sẽ gây khó khăn cho tôi, vì người Italia đã viết lời đề tặng trong quyển sách. Tôi mang quyển sách về doanh trại. Tôi đã phải xé trang sách có lời đề tặng và giấu cuốn sách dưới gầm giường. Sau đó đã có người tìm thấy và mọi người nhìn chúng với vẻ vui thích.

Tôi đã ở Bulgaria, Nam Tư, và Áo. Trong một chuyến đi tôi đã thấy họ chở rất nhiều sĩ quan và binh sĩ từ Nam Tư. Nhiều người mặc quân phục và đeo huân chương, nhưng không có huy hiệu và bị canh gác. Họ bị bắt vì khi ở Nam tư đã kết hôn với những cô gái bản xứ. Đó đã là vào năm 1946.

Ở Vienna tôi dừng lại ở một toà nhà, nơi ở của thị trưởng. Cửa sổ bị vỡ và mảnh kính kêu lạo xạo dưới chân tôi. Toà nhà bị hư hỏng vì chiến sự. Trên tường có nhiều tấm thảm trang trí và những bức tranh lớn. Từ nhỏ tôi đã thích vẽ vời và xem những điều thú vị. Tôi có cảm giác đang đi thăm một viện bảo tàng.

Một lần, ở Budapest, sau khi đã chiếm được hoàn toàn thành phố, tôi đang chở bộ binh thì bất thình lình một quả lựu đạn phát nổ ! Chiếc xe đi trước xe tôi dừng lại, những người lính nhảy ra, ai đó đã bị thương còn người lái xe bị chết vì mảnh đạn. Kẻ nào đó đã ném quả lựu đạn từ trên cao xuống, trên mái nhà. Quân ta nhanh chóng tìm ra hắn, một tên lính SS. Thành phố đã hoàn toàn nằm trong tay quân ta, và thay vì rút đi thì hắn tiếp tục chiến đấu. Khi hắn bắn hết đạn, họ đã bắt được hắn. Trong một phút tức giận, họ tống hắn vào một hầm phân. Chiến tranh là chiến tranh.

Dân Bulgaria và Nam Tư khá thân thiện với chúng tôi. Thời gian đó có thể đi qua những ngôi làng của họ. Họ chặn xe của chúng tôi ở bất cứ đâu và chiêu đãi chúng tôi. Rượu của họ rất tuyệt và người dân khá thân thiện. Chúng tôi là những người anh em của họ. Sự thật là sau đó Staline đã mâu thuẫn với Tito.

Thật thú vị là ở nước nào, tôi cũng nhanh chóng học được ngôn ngữ địa phương. Trong một hay hai tuần tôi đã có thể tán gẫu với dân địa phương. Dễ dàng nhất là học tiếng Romania, vì tôi đã ở đây phần lớn thời gian. Khi tôi trở về, những người Romania biết tôi đã khuyên tôi ở lại. Tôi biết tiếng của họ và họ hứa sẽ bù đắp lại cho tôi. Nhưng Romania không phải quê hương của tôi.
SyncMaster
user posted image
"Chiếc xe tải và là bạn chiến đấu của tôi". Thị trấn Silistra, Bulgaria, 1945.
[Đây là một chiếc Mercedes-Bentz L4500S với cabin bằng gỗ].


Tôi giải ngũ tháng 6-1946 với cấp bậc thượng sĩ của trung đoàn xe tải số 15. Tôi đã 28 tuổi. Tôi gia nhập quân đội năm 1938 khi tôi 20 tuổi. Tám ănm tuổi trẻ của tôi đã trôi qua trong quân ngũ, trong chiến tranh và đấu tranh để sống sót. Bất kể thế nào, nhiều người đã kém may mắn hơn tôi. Rất nhiều người đã chết trong chiến tranh !

Tôi có hai khẩu súng lục Đức, một khẩu Walther nhỏ lúc đó thỉnh thoảng được gọi là "của các quý bà" và một khẩu Parabellum. Đó là một khẩu súng rất mạnh, chế tạo tốt, chính xác, có thể bắn trúng một chiếc mũ sắt ở khoảng cách 100m ! Tôi cũng có một khẩu tiểu liên Đức nhưng tôi không thích nó lắm và đã đổi nó lấy một khẩu súng bắn tỉa. Tôi đã vứt cả 2 khẩu súng lục khi trở về nhà. Có lẽ nên giữ chúng lại làm kỉ niệm nhưng lúc đó tôi rất muốn về nhà và không muốn gặp thêm rắc rối nào. Vì thế tôi đã bỏ lại từng khẩu một. Tôi thậm chí không nhớ đã làm gì với khẩu súng bắn tỉa.

Người ta nói tàu chở bộ đội sẽ bị khám xét kĩ lưỡng nhưng điều đó đã không xảy ra. Tôi gần như không mang gì theo người. Có những ví dụ không hay về những sĩ quan đã kéo theo những vali to chiến lợi phẩm. Tất nhiên, tôi gửi hành lí về nhà cho những người bà con, áo choàng hoặc vải dù. Tôi hầu như không có tấm ảnh nào, tôi chỉ giữ được những tấm đã gửi về nhà cùng thư.

Có thời điểm tôi có rất nhiều ảnh, nhưng không lâu trước khi giải ngũ chúng đã bị lấy cắp hết. Tôi để chúng trong hộp đựng bản đồ và đặt trên cabin. Chuyện xảy ra khi tôi chuyển hàng tới một vùng có rất nhiều kẻ trộm cắp. Chúng gần như tự do ở đây. Khi dỡ hàng khỏi xe, kẻ nào đó đã làm tôi sao lãng. Tôi ra khỏi cabin và khi quay lại thì những gì còn lại trong hộp đựng bản đồ chỉ còn là dây buộc. Chúng đã cắt nó bằng dao cạo và chuồn. Tôi không trông thấy. Chúng lấy đi mọi thứ. Nhưng đối với tôi cuộc chiến vẫn in đậm trong kí ức trong suốt quãng đời còn lại. Nhiều đêm tôi nằm mơ thấy mình đang tham gia cuộc chiến.

Câu chuyện được ghi bởi Arkadiy Goncharov, dựa theo những hồi ức do cha của ông kể lại
Soạn thành bài viết: Valeriy Potapov
Dịch từ Nga sang Anh: James F. Gebhardt
Dịch từ Anh sang Việt: chiangshan Phan Trường Sơn
SyncMaster
Phần II - Hồi ức của lính xe tăng Aleksandr Bodnar

user posted image
Aleksandr Vasilevich Bondar. Trường Ulianovsk 1940


Giờ tôi đã gần 80 tuổi. Tôi mang quốc tịch Ukraina, sinh ra tại Hữu ngạn Ukraina (Bờ Tây sông Dnieper, ranh giới tự nhiên phân chia Ukraina) thuộc vùng Vinnitsa. Năm 1940, tôi tốt nghiệp lớp 10 và trong cùng năm đó tôi vào học Trường Huấn luyện Chiến xa Ulyanovsk. Tại sao tôi lại trở thành một chiến sĩ lái tăng? Tôi cần phải kể rằng trong những năm tháng khi tôi còn đang học, mọi công việc đều nhằm mục đích chuẩn bị tinh thần cho mọi người sẵn sàng với cuộc chiến hiển nhiên sẽ xảy ra với phát xít Đức. Vậy là tôi quyết định sẽ mình trở thành một chiến binh trong tương lai. Thêm vào đó, chú tôi cũng là một quân nhân, năm ‘39 ông bảo tôi: “Sasha, cháu sắp tốt nghiệp trung học. Chú khuyên cháu nên học tiếp trong một học viện quân sự. Chúng ta không thể tránh khỏi có chiến tranh, vậy tốt hơn hết là trở thành một chỉ huy trên chiến trường – cháu sẽ làm được nhiều việc hơn khi đã được huấn luyện cẩn thận.” Những lời nói đó tác động một phần tới quyết định của tôi, và tôi tham gia vào một trong những trường tốt nhất - Trường Huấn luyện Chiến xa Ulyanovsk. Nhưng tôi đã không kịp kết thúc toàn bộ khóa học – cần học hết hai năm trong khi tôi mới học được một năm rưỡi.

- A.D. Công việc huấn luyện tại trường này có định hướng chuẩn bị cho ông trở thành một xa trưởng không?

Không làm xa trưởng, ở đó người ta huấn luyện chúng tôi để thành những sĩ quan chỉ huy lực lượng xe tăng, và một sĩ quan như vậy có thể trở thành cả xa trưởng, trung đội trưởng, hay trong trường hợp khá nhất, làm đại đội trưởng. Không hơn không kém. Có thể nói người ta đã huấn luyện cho chúng tôi để trở thành trung đội trưởng trung đội xe tăng hạng nhẹ. Tới năm ‘39 tại Leningrad, khi xuất hiện loại xe tăng hạng nặng KV (Klim Voroshilov), họ bắt đầu bố trí không phải hạ sĩ, mà là thiếu uý làm các xa trưởng. Đó là tại sao tôi đã trở thành xa trưởng chỉ huy xe tăng hạng nặng trong trận Maskva. Và sau trận đánh đó tôi đã là trung đội trưởng. Vị trí cao nhất tôi được giữ trong chiến tranh là đại đội trưởng một đại đội xe tăng.

- A.D. Chương trình học trong trường gồm những gì? Loại xe nào được dùng để thực tập - T-26 hay BT-5?

Tôi xin báo cáo: khóa học bao gồm ba đại đội 100 học viên; mỗi đại đội có bốn lớp 25 người. Do đó, 600 người học tập luân phiên thành hai khóa. Mỗi năm trường có 300 học viên tốt nghiệp. Trường được bố trí thêm một tiểu đoàn đặc biệt, nó cung cấp tất cả các loại máy móc thiết bị chúng tôi cần phải học. Tiểu đoàn này đóng tại doanh trại cách sông Volga hai mươi kilômét. Chúng tôi tới đó vào mùa đông và mùa hè. Chúng tôi lái xe tăng và tác xạ, vận hành và sửa chữa chúng, v.v. Chúng tôi học cả loại T-26 lẫn BT-5. Nói chung trường này đào tạo ra sĩ quan cho xe tăng BT. Loại xe tăng này rất phổ biến vào thời gian đó.

- A.D. Ông có được huấn luyện lái loại xe gắn bánh hơi không (loại BT gắn bánh hơi để chạy nhanh hơn - LTD)?

Vâng, tất nhiên. Rất bất tiện bởi bánh lái phải được lắp ráp rất phức tạp. Một trục lái nối từ hộp số tới các bánh phụ phía sau (nó có bốn bánh phụ), một cần “ghita” đặc biệt được cài để had been set for a transmission of revolving motion not to the driving wheels, which drove a caterpillar track, mà tới những bánh hỗ trợ phía sau, nhưng chúng quá lớn nên việc giữ tay lái trở nên vô cùng khó khăn. Chiếc xe có thể chạy tới 90 km/h, nhưng người khỏe nhất cũng chỉ lái được tới 20-30 km/h, nếu không anh ta sẽ không thể giữ vững tay lái. Di chuyển trên bánh hơi được thiết kế chỉ cho chạy trên mặt đường nhựa hay lát đá, cho nên khả năng chạy mọi địa hình trên những chiếc bánh xe đó hầu như không tưởng.

- A.D. Ông đã từng bắn loại pháo 45 mm chưa?

Tất nhiên là rồi.

- A.D. Bắn vào loại mục tiêu nào? Di chuyển hay cố định?

Cả cố định và di động. Chúng tôi thực hiện nhiều loại bài tập khác nhau. “Bắn khi phòng thủ” – là khi xe tăng được chôn dưới đất, cự ly bắn đã được tính sẵn, điểm ngắm đã được cung cấp trước nhằm có được khả năng tác xạ tốt nhất, chiếc xe tăng được nấp kín. Khi mục tiêu xuất hiện trong khu vực đã đặt điểm ngắm, nó sẽ bị bắn trúng ngay từ phát đạn đầu tiên.

Trong khi tấn công, tác xạ được thực hiện cả trong lúc di chuyển lẫn khi dừng xe trong thời gian ngắn. Khi ta bắn khi dừng trong thời gian ngắn, xa trưởng sẽ ra lệnh cho người lái: “Dừng ngắn.” Người lái dừng xe lại, và người xa trưởng sẽ tự đếm: “hai mươi mốt, hai mươi hai, hai mươi ba.” Trong lúc đó anh ta phải ngắm được khẩu pháo vào mục tiêu, xác định tốc độ di chuyển của mục tiêu, nếu như nó đang di chuyển, điều chỉnh trong kính ngắm của khẩu pháo và nã đạn. Nếu anh dừng lại lâu hơn 3-4 giây tại cùng một điểm – chính anh sẽ bị trúng đạn của kẻ địch. Tác xạ khi đang di chuyển không hiệu quả chút nào và thường chỉ được ngắm vào xung quanh mục tiêu.

- A.D. Việc thực hành trên xe tăng kéo dài bao lâu?

Thực hành đủ để biết cách điều khiển một chiếc BT. Chúng tôi phải học kỹ tới từng chi tiết nhỏ. Động cơ M-17 (của xe BT) vô cùng phức tạp, nhưng chúng tôi đã thuộc lòng chúng tới con ốc cuối cùng. Khẩu pháo, súng máy - chúng tôi đã tháo rời chúng ra rồi lắp trở lại, tổ lái phải nắm vững chiếc xe tăng. Ngày nay tổ lái không cần thiết phải nghiên cứu kỹ xe tăng. Xe tăng hiện đại rất chính xác và hoàn hảo, điều duy nhất mà tổ lái phải làm là nhấn nút điều khiển. Ngày nay tổ lái chang phải động chân động tay gì hết. Nếu chiếc xe bị hỏng - thế là chẳng còn gì để nói nữa.

- A.D. Lái xe, tác xạ, điều khiển và chỉ huy – điều gì cần tập trung nhiều hơn?

Là hai mục – tác xạ và lái xe.

- A.D. Tại trường ông có chiếc T-34 hay KV nào không?

Chúng cũng được chuyển tới trường của tôi. Ở đấy có loại T-34 và KV, nhưng chúng tôi đã chỉ nắm vững được chúng trong thời gian chiến tranh. Có ba chiếc KV được lái tới Ulianovsk, tại Quảng trường Lenin bên bờ sông Volga. Người ta cho chúng tôi chui vào trong chiếc xe tăng hạng nặng ấy và lái tới chỗ tượng đài Lenin, gài số lùi và chạy ngược lại, rồi lại chạy một lần nữa tới bên tượng đài Lenin, rồi chuyển từ số một sang số hai và quay về. Van’ka chui ra, Mishka lại chui vào. Với mức kinh nghiệm thực tiễn như vậy tôi đã được giao cho chiếc KV của mình và chuyển tới Lữ đoàn 20 chiến đấu trên Cánh đồng Borodino. Chiến tranh đã dạy tôi phần còn lại …
SyncMaster
- A.D. Chiến tranh xảy đến với ông như thế nào?

Chiến tranh bắt đầu khi tôi đang ở trường, tại trại huấn luyện dã chiến. Ông hiệu trưởng, một cựu lữ đoàn trưởng trong Chiến tranh Phần Lan, bị cụt một chân, bước lên bục diễn thuyết và nói, “Các cậu bé của ta, chiến tranh đã bắt đầu. Nó sẽ kéo dài và rất ác liệt. Hãy học chăm chỉ và đừng để ta đưa các anh đi trong khi kinh nghiệm hãy còn non nớt. Hãy cố gắng học với tất cả khả năng của mình. Tới khi cần thiết, chúng ta sẽ đưa các anh đi chiến đấu. Đừng lo, người nào cũng sẽ được chiến đấu đủ số.”

Tháng Mười năm ’41, tôi tốt nghiệp với hàm thiếu uý và có mặt tại thành phố Vladimir nơi Lữ đoàn tăng 20 đang được thành lập. Tôi được giao một chiếc KV và ngày 1 tháng Mười năm 1941 tôi đã tới Cánh đồng Borodino trong thành phần của lữ đoàn. Tại thời điểm này trên Cánh đồng Borodino có mặt Lữ đoàn xe tăng 18, 19, 20 và Sư đoàn Bộ binh 32 dưới sự chỉ huy của Đại tá Polosukhin, vừa chuyển tới từ mặt trận Viễn Đông. Nếu lúc ấy không có ba lữ đoàn tăng và sư đoàn bộ binh Polosukhin thì bọn Đức hẳn sẽ thẳng tiến tới tận Naro-Fominsk bởi sau khi quân ta bị bao vây gần Viazma, tất cả mọi nẻo đường tới Matxcơva đều đã bị bỏ ngỏ. Phía Bắc bọn Đức tập trung tấn công theo hướng Klin, phía Nam theo hướng Tula. Nhưng đó là một tính toán hết sức sai lầm vì thực tế cánh cửa mở toang lại nằm ở phía Đông.

- A.D. Lữ đoàn có được trang bị đầy đủ khi bắt đầu tham chiến tại Matxcơ va không?

Lữ đoàn chúng tôi tới Matxcơva với rất nhiều loại tăng. Nhưng tăng hạng nặng, loại KV, thì chỉ có 7 chiếc, ngoài ra toàn lữ đoàn có gần 20 chiếc T-34 và số còn lại là T-60. Với trang bị như thế có thể nói chúng tôi khá yếu. Điều này cũng dễ hiểu vì các lữ đoàn đã được hợp thành trong vội vã. Người ta vơ lấy mọi thứ có thể và lữ đoàn của chúng tôi ra đời trong vỏn vẹn có 1 tuần. Sau 9 ngày tập đội ngũ, chúng tôi được chất lên những chiếc xe tải. Chúng tôi đón Nguyên soái Fedorenko tới tặng cho lữ đoàn lá cờ danh dự, diễu một lượt quanh thị trấn nhỏ trong sự chào mừng của nhân dân rồi họ đẩy chúng tôi lên xe, cứ thế tiến thẳng tới Matxcơva. Những chiếc xe tăng đã tới trước, chúng nằm rải rác tại Golitsyno, Dorokhovo. Khi tới nơi chúng tôi được giao xe ngay và lập tức lên đường tới Borodino.

- A.D. Hãy kể về trận đánh đầu tiên của ông.

Trận đầu rất khó khăn. Lữ đoàn của chúng tôi được bố trí trên Cánh đồng Borodino thuộc thê đội hai của Tập đoàn quân số 5 dưới sự chỉ huy của tướng Leliusenko. Lữ đoàn xe tăng 18 và 19 cùng Sư đoàn bộ binh 32 bị rải dài trên thê đội một, còn chúng tôi là thê đội hai. Nhưng vào ngày 15/10, khi kẻ thù chọc thủng trận địa của Sư đoàn 32 ở làng Artemkino trên Cánh đồng Borodino, lữ đoàn của chúng tôi được triển khai ngay để chặn bước quân thù. Lính tăng được lệnh chôn xe xuống đất, chiếc KV của tôi chỉ nhô lên mỗi chiếc tháp pháo 76mm. Chẳng có gì phải lo ngại nữa, tôi đã dễ dàng diệt được 2 chiếc xe chở lính (APC) từ khoảng cách 500-600 m. Khi những tên Đức lố nhố nhảy ra khỏi các xác xe, tôi dùng súng máy quét nốt.

Trước đó 5 ngày, chúng tôi đã tới Cánh đồng Borodino Field, Lữ đoàn trưởng, Đại tá Orlenko, đi thị sát đường Old Smolensk để quyết định sẽ bố trí xe tăng ở nơi nào. Khi đó đang là ban đêm, trời tối đen như mực. Bất ngờ một chiếc xe quân sự với ánh đèn pha rọi sáng chạy nhanh tới chỗ chúng tôi từ hướng Gzhatsk. Tôi thấy Đại tá rút súng lục ra, chặn chiếc xe - phía bên trong là những anh lính Hồng quân- và hỏi người thiếu úy-sĩ quan cao nhất trên xe : "Sao các đồng chí dám vi phạm luật cấm bật đèn khi chạy xe ban đêm?" Liền đó một tiếng súng nổ vang, Lữ đoàn trưởng đổ vật xuống còn chiếc xe tăng ga chạy mất hút. Không ai biết điều gì đã xảy ra để chặn chiếc xe lại nên nó đã trốn được theo hướng Vereya. Đó là thất bại nghiêm trọng đầu tiên của chúng tôi. Lữ đoàn trưởng hy sinh, người phó của ông là Antonov lên thay. Và thế là chúng tôi tham gia trận đánh đầu tiên.

Trận đó Lữ đoàn tăng số 20 của chúng tôi đã bắn cháy 10 chiếc tăng Đức, 1 xe bọc thép, bắn hỏng 15 khẩu pháo và 7 súng máy ngay trong trận đầu ra quân. Ngôi làng an toàn nằm trong tay chúng tôi. Chiếc KV do tôi điều khiển bắn cháy hai chiếc xe chở lính và tiêu diệt sạch chỗ bộ binh còn sống sót. Tôi không biết các cánh khác làm ăn như thế nào, nhưng ngay khi mọi việc tưởng như đang đi theo chiều hướng tốt đẹp thì tôi nhận được lệnh rút lui, về hướng Akulovo.

user posted image
Tăng KV tấn công tại bặt trận Karelia năm 1944


Tăng KV gây thêm cho tôi rất nhiều ấn tượng, đặc biệt khi chúng tôi bắt đầu phản công. Lữ đoàn của tôi đang tìm cách đánh chiếm Ruza. Chúng tôi tới thị trấn này ngày 21/1. Cả thị trấn nằm trên một quả đồi, quả đồi này gối lên một quả đồi khác liền với bờ tây của con sông cũng tên là Ruza. Hỏa lực của địch khiến cánh bộ binh phải chui vào hầm trú ẩn suốt ngày và không thể nhích thêm một bước nào. Lúc này lữ đoàn chúng tôi đang có trong tay 4 chiếc KV, số còn lại toàn là tăng nhẹ T-26 cùng BT. Thật sự lúc đó tôi thấy mình như một trụ cột trong đội hình chiến đấu. Những chiếc tăng nhẹ chẳng làm được trò chống gì cả, chúng rất dễ bốc cháy như những bó đuốc mỗi khi trúng đạn của địch. Nhưng với KV thì khác, người Đức vẫn chưa biết cách làm sao để hạ tăng KV từ phía trước. Vì thế sư đoàn trưởng, Lữ đoàn tăng 20 của chúng tôi cũng nằm dưới sự quản lý của ông, đã ra lệnh "Đưa những chiếc KV lên phía trước để bảo vệ bộ binh, chúng ta sẽ vượt qua băng và tấn công Ruza." Và Lữ đoàn trưởng đã truyền lại mệnh lệnh cho tôi :
-"Này con trai, anh sẽ phải lái xe đi trên băng."

-"Vâng, nhưng thủ trưởng biết rằng chiếc KV nặng tới 48 tấn và bây giờ là ngày 21/1, nghĩa là băng chỉ còn dày có 40cm thôi, tôi sợ nó quá mỏng để giữ chiếc xe", tôi trả lời.

-"Con trai ạ, cứ tin một điều thế này này, đảm bảo anh sẽ không đi được xa đâu, nên khi xe bắt đầu chìm thì anh vẫn còn ối thời gian để nhảy ra ngoài."

Thế là chúng tôi phải thi hành mệnh lệnh, bằng không bộ binh sẽ không thể tiến lên và Ruza vẫn nằm yên trong tay quân thù. Tôi nói với tay lái xe Miroshnikov, vốn là một cựu diễn viên của nhà hát Voroshilovograd hơn tôi 4 tuổi (anh không bao giờ gọi tôi là "Đồng chí Thiếu úy" mà chỉ gọi lỏn: "Tới đây, thiếu úy, tới đây". Tôi cho chuyện đó là bình thường vì tôi là lính mới trong khi anh ấy đã chiến đấu ở biên giới phía Tây và đã được tặng thưởng Huân chương Cờ đỏ).

-"Miroshnikov, anh phải đảm bảo rằng sẽ đẩy số xe về "mo" nếu chúng ta chìm để khi người ta tìm cách kéo cái xe lên, nó sẽ không bị mắc kẹt lại dưới lòng sông.

-"Tôi biết rồi, Thiếu úy ạ, tôi biết rồi"

Tôi cũng nhắc nhở những người còn lại trên xe:

-"Đừng đóng nắp phía trên tháp pháo. Nếu xe chìm, chúng ta vẫn có thể thoát ra ngoài nhanh chóng.
SyncMaster
Và rồi mọi chuyện diễn ra đúng như dự tính. Chúng tôi chỉ tiến được độ 7-8 m thì chiếc xe chìm nghỉm xuống đáy sông. Khổ sở lắm chúng tôi mới lên bờ được. Bộ binh đã chiếm được bờ sông của quân địch, vì thế chẳng có loạt súng máy nào từ phía đó nhằm vào chúng tôi. Họ lột chúng tôi trần như nhộng ngay trên bờ sông, cuốn cho mỗi anh một cái áo khoác da cừu, nhét vào tay chúng tôi mỗi người một ly vodka và ra lệnh :"Ngủ đi!" Chúng tôi ngủ suốt đêm, tới sáng, chỉ huy trưởng Lữ đoàn sửa chữa đánh thức tôi dậy và nói : "Bondar'', hãy phóng tới Matxcơva, lấy về đây ít dây cáp để kéo cái xe lên nào. Họ cho chúng tôi một chiếc xe tải và chúng tôi về Matxcơva, kiếm được nhiều đoạn cáp nhỏ của người Mỹ-loại cáp này rất nhẹ và bền. Ngay chiều đó chúng tôi trở về Ruza, lòng hân hoan. Cánh sửa chữa lôi chiếc tăng lên bờ, lau khô nó, thay thế các bộ ắc quy (dùng cho khởi động xe) và chỉ trong 3 ngày, tôi lại có thể tiếp tục tham chiến."

- A.D. Ông còn nhớ trận đánh nào khác giữa khoảng tháng 10 và tháng Giêng không?

-Một trong những kỷ niệm buồn là việc chúng tôi phải rút lui vì quân Đức đã cài một lực lượng mạnh vào khu vực giữa Cánh đồng Borodino. Chúng tôi buộc phải bỏ vành đai phòng thủ đầu tiên để rút về vành đai thứ 2 ở Vereya. Trung đoàn chúng tôi băng qua đường cao tốc Old Minsk. Dọc đường rất nhiều binh lính đã hy sinh. Bây giờ vẫn còn nhiều ngôi mộ vô danh ở các nghĩa trang trong vùng Vereya và những khu khác nữa, nơi các chiến sĩ của chúng ta yên nghỉ. Trong trận ấy tôi không bị thương. Tuy nhiên cũng chẳng có gì đặc biệt để nhớ cả.

- A.D. Thế là họ cho ông nghỉ ngơi có 3 ngày và sau đó lại tiếp tục chiến đấu?

-Đúng, vấn đề chính là anh lính lái xe đã tin lời tôi, đẩy số xe về số "mo" trước khi chúng tôi nhảy ra ngoài. Khi chúng tôi dùng đoạn cáp Mỹ kéo chiếc xe lên, nó đã chuyển động một cách dễ dàng. Tuy nhiên quan trọng nhất là anh tài đã nhanh tay tắt động cơ xe. Nếu không làm như thế, động cơ sẽ hút nước vào thay vì không khí và sự giãn nở nhiệt sẽ phá vỡ những chiếc xi lanh xe.

- A.D. Rồi sao nữa?

-Chúng tôi tiến tới Gzhatsk, địa điểm ngày nay được gọi là Gagarin và tổ chức phòng ngự ở đây.

Khi đó đã là tháng Tư, nhiệm vụ của chúng tôi là chặn đứng đợt phản công mới của quân Đức. Tại Bộ Tổng tư lệnh, ở mặt trận phía Tây dưới quyền chỉ huy của Nguyên soái Zhukov, đã có những lo ngại cho rằng quân Đức sẽ trả đũa chúng tôi vì cắt đứt sợi dây liên hệ giữa cánh quân phía Nam và cánh quân phía Bắc của chúng sau khi chiếm Kalinin cùng Tula, không những thế còn đẩy quân Đức từ Naro-Fominsk tới tận Gzhatsk. Thông tin tình báo cho biết quân đội Hitle đang điều nhiều sư đoàn, lữ đoàn từ Pháp sang mặt trận phía Đông để chuẩn bị cho một đợt tấn công mới. Biết rằng chúng tôi đã thiệt hại nặng sau khi tổ chức phản công, chúng sẽ càng quyết tâm phản công, từ đó tiến thẳng tới đánh chiếm Matxcơva.

Tình hình đó buộc Lữ đoàn của chúng tôi cùng các sư, lữ đoàn khác cấp tốc tiến tới Gzhatsk. Khu vực Uvarovka nằm phía sau vùng này cũng được lệnh sẵn sàn phòng ngự, để khi kẻ thù chọc thủng phòng tuyến của chúng tôi sẽ vấp ngay phải sức kháng cự của Uvarovka. Chúng tôi được phân tới mặt trận Kalinin, tăng viện cho nhà ga Shakovskaia.

- A.D. Ông nói rằng ông từng bị thương nhẹ?

À, tôi bị thương trong một lần đi trinh sát để tìm chỗ bố trí xe tăng. Chúng tôi đang đi phía trước đội hình bộ binh thì tôi trúng một viên đạn vào tay phải. Họ đã băng bó cho tôi. Một tuần sau tôi được về với chiếc xe yêu quý của mình, mọi việc lại ổn thỏa. Thật sự tôi chỉ bị thương nặng khi đang tham chiến tại Rzhev.

Mùa xuân năm ''42, Mặt trận phía Tây đã tiến thêm gần 250 km. Lúc này Matxcơva đã được an toàn, nhưng Stalin và Bộ chỉ huy vẫn e ngại khả năng quân Đức sẽ tổ chức tiến công một lần nữa vào Matxcơva, vì thế họ vẫn đưa mặt trận này lên hàng quan tâm số 1. Họ tổ chức phòng ngự và ra lệnh toàn mặt trận chuyển sang phòng ngự. Mặc dù thế, mặt trận này vẫn thiếu thốn đạn dược, pháo nhỏ và vấn đề quan trọng là Bộ chỉ huy không hay biết gì về kế hoạch mùa hè của quân Đức. Stalin và Zhukov bị thuyết phục rằng trong mùa hè, quân Đức sẽ cố gắng đánh chiếm Matxcơva. Nhưng người Đức không phải những thằng ngốc, họ hiểu rằng khi âm mưu đánh choếm Matxcơva bị thất bại, người Nga sẽ phòng ngự cẩn thận. Quân Đức quyết định tấn công từ hướng Nam. Zhukov, khi đó đã đồng ý với Stalin bắt đầu cho phản công từ giới tuyến mà chúng tôi giành được trong đợt phản công mùa đông năm 1941. để ngăn cản quân Đức không chuyển thêm quân tới Stalingrad.

Họ chuyển chúng tôi tới mặt trận Kalinin. Chúng tôi hành quân mất 150 km. Khi đó tôi đã là chỉ huy một trung đội thuộc Lữ đoàn tăng của đại tá Medvedev. Lữ đoàn này trang bị chủ yếu là T-34. Trong một lần thiếu may mắn, chiếc KV của tôi vấp phải mìn chống tăng, bị nổ tung. Khi đó tôi không ở trên xe và cũng từ đó tôi không biết gì về số phận của những người còn lại nữa.

Chúng tôi bắt đầu đợt phản công tháng 8/1942 từ nhà ga Shakovskaia, ở Pogoreloe Gorodishe, theo hướng Rzhev. Zhukov đã tính toán rằng chúng tôi sẽ chiếm được Rzhev và cắt đứt cái gọi là "Ban công Rzhev " - một trong những điểm mấu chốt quan trọng để từ đó quân Đức làm bàn đạp đánh chiếm Matxcơva. Tuy nhiên dự định không thành- chúng tôi đã không thể chiếm "ban công" cho tới tận năm 1943. Nói thực, chúng tôi quá yếu để có thể làm một cuộc tấn công ra trò. Tôi nhớ khi đó Lữ đoàn trưởng Medvedev đã tập trung chúng tôi -các trung đội trưởng và đại đội trưởng - rồi truyền đạt : " Trong đợt tấn công này, người Đức chắc chắn sẽ tìm mọi cách tới Smolensk. (Đó sẽ là cái đích tới của chúng ta-ND). Hãy tiến lên. Hãy hoàn thành tốt nhiệm vụ của các anh”. Nhưng nhìn chung chúng tôi tiến công khá chậm. Dù vậy, trong 5 hay 6 ngày giao tranh đầu tiên kết quả tương đối khả quan, thậm chí có nơi chúng tôi đã đẩy lùi quân Đức tới 70km. Phải thừa nhận rằng đây là đợt phản công đầu tiên của Hồng quân trong mùa hè, nếu không tính tới chiến dịch El''na trong năm 1941. Cho đến tận lúc này chúng tôi vẫn không biết cách tấn công quân Đức trong mùa hè.Tôi nhận thấy khi phản công chúng tôi đã ở điểm xuất phát cách xa mặt trận tới 3km. Tất nhiên điều này là không đúng, lẽ ra bộ binh chỉ được ở cách mặt trận trên dưới 1km mà thôi. Tới mùa thu, sau khi tôi bị thương, lữ đoàn của tôi đã tới Karmanovo, nhưng những gì lữ đoàn trưởng nói đã không xảy ra, quân Đức không tới Smolensk.

Thời kỳ đầu, chúng ta yếu cả lực lượng và phương thức chiến đấu. Khi tấn công vào các tuyến phòng ngự của người Đức tôi nhận thấy họ không dải ra thành một hàng dài mà quy về các cụm phòng ngự. Chiến tranh dạy chúng ta khôn ra. Chúng ta đã học cách xây dựng phòng ngự từ phía họ, và ở Stalingrad người ta đã xây dựng phòng ngự theo tập đoàn quân. Trong quá khứ, cách phòng ngự của ta là dải ra trên một chiến hào dài 3km, trang bị nhiều súng máy, tiểu liên. Hồi đầu chiến tranh, chúng ta có 150 sư đoàn, dải ra thành một hàng nối tiền từ Murmansk tới Odessa, trong khi người Đức chia quân đội họ ra 3 cánh quân: Trung tâm, Nam và Bắc. Mỗi cánh quân đó cũng được trang bị hỏa lực cực mạnh và họ không hề rải quân ra như chúng ta. Tôi đã nhận thấy điều này rất rõ khi chúng tôi phản công Rzhev.
SyncMaster
- A.D. Sau trận Matxcơva, người ta có bổ sung xe tăng cho ông không?

- Vâng, tất nhiên. Có bổ sung loại T-34, không may đó lại là loại T-34 Stalingrad, không có vành trên các bánh phụ. Chúng gây ồn khủng khiếp. Tôi đã phải chiến đấu trong cái thứ máy móc thế đó. Cũng được bổ sung nhiều T-60, chế tạo tại Gorky. Lúc này vẫn còn rất ít tăng KV bởi Leningrad đã ngừng sản xuất KV, còn Chelyabinsk vẫn chưa bắt tay vào sản xuất chúng, cho nên xe KV chỉ được đơn giản là lắp lại từ các bộ phận của những chiếc đã bị hư hỏng. Có rất nhiều xe T-34, tiểu đoàn của tôi có đến 30 chiếc, do đó chúng tôi thành một tiểu đoàn toàn T-34.

Tôi nhận thấy nhiều điều sau đợt phản công của tháng 8/42. Tôi nhớ lại rằng khi đó tiểu đoàn chỉ huy có xe T-34 của lữ đoàn trưởng và hai tăng nhẹ loại T-60. Vì thế tiểu đoàn trưởng lấy một chiếc tăng nhẹ và giao cho tôi chiếc còn lại- "Anh sẽ theo sau tôi. Nhớ duy trì liên lạc với tôi. Khi tôi gọi, anh mới được tới." Tôi thực hiện đúng mệnh lệnh. Đó cũng là lần đầu tiên trong đời tôi biết sức mạnh khủng khiếp của các trận pháp dập mở màn. Rất ấn tượng. Sau đó chúng tôi tiến hành tấn công. Lúc này tôi đang ở cách đội hình tấn công khoảng 1km hay nửa km gì đó, đột nhiên tôi thấy một cánh đồng đầy binh lính chết và bị thương của chúng ta. Những chàng trai trẻ đó là lính Cận vệ, hầu như toàn là lính mới. Và tôi thấy nguyên nhân: Người Đức đã đặt một công sự có súng máy ở trên cánh đồng, từ đó quét sạch lính của chúng ta. Binh lính thì luôn sẵn sàng cho cái chết, nhưng các sĩ quan chỉ huy đã uổng phí sinh mạng của họ. Lẽ ra phải mang pháo, súng cối tới để bắn át khẩu súng máy đó, họ chỉ ra lệnh : "Tiến lên, tiến lên". Đó là một ngày nóng nực. Tôi thấy một y tá chạy quanh cánh đồng và khóc : "Ôi những con người tốt bụng, hãy giúp tôi! Giúp tôi với! Giúp tôi đưa họ tới bóng râm." Tôi giúp cô y tá cáng những người bị thương đi. Phần lớn số họ đều bất tỉnh nên không thể biết được ai đang bị thương hoặc ai đã chết. Khi đó tôi thấy chiến tranh thật khốc liệt. Quá nhiều chàng trai trẻ đã chết và chiến tranh còn khiến bao nhiêu người ngã xuống nữa. Và thật đáng tiếc khi những con người trẻ tuổi phải hy sinh vì những mệnh lệnh ngớ ngẩn. Có nhiều vấn đề trong những ngày đầu của chiến tranh, khi chúng ta không biết cách tiến hành chiến tranh hợp lý. Nhưng chúng tôi đã học cách chiến đấu, như Peter Đại đế I học từ người Thụy Điển, và chúng tôi đã học người Đức cho tới tận trận Stalingrad. Sau trận Stalingrad chúng tôi chẳng còn gì để học từ họ nữa vì tự chúng tôi đã biết cách để chiến đấu.

Tôi nhớ rằng mình đã chạy 15km liền trong xe - quân Đức bỏ lại bao nhiêu trang thiết bị: xe hậu cần, xe sửa chữa. Tôi dừng lại tại một trong số những chiếc xe như thế và nhìn thấy những chiếc khăn tắm to màu trắng. Tôi có thể dùng chúng để lau mũi, nhưng có ai đó đã dùng trước, đem toàn bộ số khăn trắng còn nguyên trong hộp ra lau phụ tùng. Tôi nghĩ bụng: "Ừ, các người chắc là sống quá khỏe rồi" Rồi tôi bước ra ngoài và nhìn thấy một chiếc xe máy hiệu BMW. Chưa bao giời nhìn thấy loại xe tương tự nên tôi cũng chẳng biết lái. Khi tôi cưỡi lên xe cũng chẳng biết cách chuyển số vì tôi không biết khớp ly hợp nằm ở đâu. Phải khi sờ sang tay số tôi mới thấy khớp ly hợp chuyển vị trí, bèn tự nhủ : "Ổn rồi, ta chỉ cần điều chỉnh tốc độ bằng tay gas là xong.". Đồng đội lái chiếc T-60, còn tôi cưỡi xe máy chạy ngay đằng sau. Tôi lái xe như thế cho tới tận tối thì bị một sĩ quan phản gián thu xe vì “nhiệm vụ của anh là chiến đấu, chứ không phải cưỡi xe máy”, anh ta nói.

Và cứ thế tới ngày mùng 7, chúng tôi tới gần làng Krivtsy. Thời điểm này, tiểu đoàn chỉ còn lại có 3 chiếc tăng: hai T-34 và một T-60, tất cả những xe còn lại đều đã bị bắn cháy. Trong chiến tranh có một luật lệ ngầm thế này: Lữ đoàn nhận lệnh từ trên và chiến đấu cho tới chiếc tăng cuối cùng, nếu chiếc tăng cuối cùng bị bắn cháy, lữ đoàn sẽ bị xóa sổ khỏi trận chiến và bị chuyển về hậu phương để tái thành lập khi có xe mới về. Bây giờ tôi mới biết chuyện này nhưng khi đó thì không. Tiểu đoàn trưởng gọi tôi lại và nói rằng "Con trai, ta không còn gì để chỉ huy nữa. Anh sẽ chiến đấu độc lập từ đây. Có hai chiếc T-34 dưới quyền anh - xe của tôi và xe của thiếu úy Dolgushin, bạn học với tôi từ trường Ulianovsk và chiếc T-60. Hãy cố gắng tới Krivtsy vào đêm và giữ lấy cứ điểm này, đợi cho tới sáng chờ bộ binh tới."

Đó là toàn bộ nhiệm vụ. Trước mặt tôi lúc này là một dòng sông, và để qua sông chỉ có mỗi chiếc cầu. Theo quy ước trong chiến đấu, quân Đức có thể đã gài đầy mìn trên cái cầu đó và đi qua cầu sẽ rất nguy hiểm. Còn một hướng đi khác nhưng phải băng qua đầm lầy và anh có thể sẽ bị mắc kẹt lại trong đầm lầy, không thể thực hiện được nhiệm vụ. Vì thế tôi đã chọn cách nguy hiểm : "hy sinh" chiếc T-60, vì nếu chiếc T-60 đi qua an toàn có nghĩa cây cầu không bị gài mìn. Sự liều mạng đó đã được đền bù xứng đáng, chúng tôi đã đi qua sông an toàn trong niềm phấn khích cực độ.

Tiến qua sông là vào tới vào làng. Quân Đức nện chúng tôi bằng súng máy và chúng tôi bắn trả. Tôi muốn bắn đạn pháo, nhưng ngay lúc đó chiếc xe của Dolgushin bùng cháy. Tôi nhủ thầm : "Sao không nhảy ra? Nhảy ra đi!" Và họ nhảy ra thật, còn tôi thở phào "Cám ơn Chúa!" Tôi thậm chí chẳng còn quan tâm tới tình hình bi đát của mình lúc này nữa. Chúng tôi chỉ còn lại có một chiếc T-34 và một chiếc T-60 ở ngoài ngôi làng.
SyncMaster
Tới sáng sớm, trong khi trời còn rất lạnh, quân Đức tiến hành phản công . Khi đó là 6 giờ. Lần đầu tiên trong đời tôi thấy từng đám đông lính Đức tấn công, chúng mặc quần áo ban đêm, đeo áo khoác, mang súng máy và súng trường. Tôi thấy khuôn mặt của chúng đỏ lên vì rượu. Và tôi nhấn cò súng máy, chúng đổ sụm xuống từng cụm, áo choàng trùm kín lên thân. Tôi thấy mình giống một gã đao phủ, xử bắn hết lớp này đến lớp nọ. Dùng pháo chính, tôi đã bắn cháy 5 chiếc tăng chôn dưới đất. Chúng không thể làm gì nổi tôi vì đều là loại tăng Pz.III, Pz.IV, còn tôi lái xe T-34 với lớp vỏ giáp trước rất dày mà pháo của chúng không thể xuyên thủng.

- A.D. Nhưng chúng đã bắn trúng ông?

Tất nhiên là có chứ. Sau buổi trưa, có tiếng động vang lên từ đáy xe tăng và một người lính nói với tôi, "Thiếu úy Bondar'', có lệnh cho đồng chí từ Tiểu đoàn trưởng". Ông viết rằng "Con trai, tối nay người ta sẽ “trình diễn” Katyusha ở hướng 5 giờ. Ngay khi họ bắn, cố gắng cùng bộ binh tiến lên tới cuối làng". Đó là toàn bộ mệnh lệnh. Mọi thứ đều rõ ràng: không có thong tin chi tiết về phạm vi khu vực tấn công, điểm hội quân. Chỉ gọn lỏn mấy từ: "Con trai, cố gắng đi tới hết làng."

Tôi lệnh cho xe chuẩn bị, rồi cho xe chồm lên phía trước. Tôi nhìn thấy một khu rừng nằm yên bình dưới nắng ở phía bên kia làng và trong đầu hình thành một khao khát mãnh liệt, chạy tới khu rừng đó. Nếu khu rừng không có cụm phòng ngự nào, ngôi làng sẽ thuộc về chúng tôi và ngay khi chiếm được làng tôi sẽ không tiến thêm tí nào nữa. Tôi đã thực hiện xong mệnh lệnh và tôi muốn sống. Ngay khi nghĩ tới từ “sống”, tôi nhìn vào kính ngắm và thấy..một khẩu pháo xe tăng Đức. Rồi kế đó có tiếng anh lính lái xe khóc ầm lên: "Đồng chí chỉ huy! Chúng giết điện báo viên Tarasov rồi!" Tôi trườn tới bên Tarasov - người anh ấy đã đen lại quả đạn pháo xuyên qua người. Thêm một chấn động nữa, chiếc xe tắt máy và bắt lửa. Chúng tôi phải tự cứu mình vì xe đang cháy. Tôi nhảy ra cửa sau và hét với đồng đội : "Chạy ra ngoài ngay". Anh lính lái xe và người nạp đạn nhảy ra theo. Chúng tôi chạy vào một cánh đồng khoai tây, đạn rít bên tai. Bất ngờ tôi trúng đạn, máu túa ra từ chân trái. Anh lái xe bò tới bên tôi nói : "Thiếu úy, đưa tôi khẩu súng lục,tôi sẽ bảo vệ cả 2 chúng ta"."Thế khẩu của cậu đâu?" Tôi hỏi. "À, tôi đã làm rớt nó lại trong lúc nhảy ra ngoài xe rồi". Nhưng tôi biết anh ta luôn tháo khẩu súng ra, đặt nó trên ghế vì sợ vướng víu trong khi điều khiển xe. Cái tính đuểnh đoảng đó lần này đã hại anh ta. "Không", tôi trả lời, "Mình không thể làm thế vì đang bị thương. Với lại nếu có chuyện xấu xảy ra, mình không thể tự sát được bởi mình không muốn đầu hàng như một tên tù binh, để rồi bị tra tấn. Mà tại sao cái xe lại chết máy? " Anh ta liền kể với tôi rằng trước khi viên đạn pháo thứ 2 bắn vào xe, hộc pin dùng cho khởi động máy đã bị hỏng. "Thế sao cậu không khởi động nó bằng khí?"

Tôi giận giữ. "Ồ, tôi quên béng mất”, anh ta trả lời gọn lỏn.

Trong khi chúng tôi núp ở đó, trao đổi với nhau, chiếc xe dần ngừng bốc cháy. Tôi nằm yên lẩm nhẩm "Sao không cháy đi, cháy đi?" Nếu lửa tắt, tôi sẽ phải ra tòa án binh của tiểu đoàn vì tôi chỉ có quyền bỏ xe trong hai trường hợp: thứ nhất, xe bốc lửa và thứ hai, hệ thống vũ khí bị hỏng. Nhưng giờ chiếc xe hầu như vẫn còn nguyên vẹn, khẩo pháo vẫn nhả đạn tốt trong khi lửa đã tắt hết. Té ra, chiếc xe không hề bốc cháy, cái chúng tôi tưởng là lửa chỉ là hơi nước và khói dầu đã bốc lên từ trong xe. Tôi nằm yên, nghĩ tới những trách nhiệm khi tự ý bỏ rơi chiếc xe, điều gì sẽ xảy đến với tôi nếu tôi còn sống, rồi nói với anh lính lái xe. "Cậu bò tới đó một mình đi, bọn Đức nghĩ rằng chúng ta đã chuồn rồi. Vì thế hãy bò lại phía chiếc xe và tìm cách khởi động nó. Rồi cho xe chạy qua chỗ bọn mình, bọn mình sẽ lên xe theo đường cửa dưới". Tôi nói như vậy khi trong người cảm giác thèm sống đang bùng lên dữ dội. Khi đó tôi nghĩ rằng việc lấy lại cái xe là hoàn toàn có thể vì tôi muốn được sống, giờ tôi thấy chuyện đó là không tưởng. Cứ thử xét ra thì thấy người lính lái tăng phải là loại nào mới đủ can đảm chạy xe về phía chúng tôi và dừng lại, trong khi đạn đang bắn xối xả về phía chiếc xe của anh, sau đó lại chạy xuống mở cửa dưới của xe, đón tôi, đang bị thương, và anh lính nạp đạn lên? Hoàn toàn không thể.

Người lính lái xe sau khi nhận lệnh đã chạy về phía chiếc. Một lát sau chiếc xe gầm lên, quay mình chuyển hướng như một chú chó nhỏ đang tìm cách gặm cái đuôi của nó, rồi chạy thẳng về phía giới tuyến quân ta. Giờ nghĩ lại tôi mới thấy anh ấy làm đúng. Nếu anh ấy quay lại đón chúng tôi, cả đội có thể đã bị bắn chết. Bằng cách đó người lính đã cứu được chiếc xe. Tình cờ sau đó tôi đọc được một bài báo trên tờ Sự thật Komsomolskaya viết về trận chiến này. Trong bài có đoạn : " 7 lần giặc Đức tìm cách đốt cháy chiếc xe và cả 7 lần chiến sĩ lái xe tăng đã dập tắt nó". Chà, tất nhiên toàn bộ điều này là dối trá. Không ai có thể làm như thế được. Người thư ký tiểu đoàn là đoàn viên Komsomol đã viết bài báo ấy, nên có thể tha thứ được cho anh ta.
SyncMaster
Xe chạy đi, anh lính nạp đạn Slepov và tôi nằm lại trên cánh đồng khoai tây. Trời bắt đầu tối, khi tiếng súng ngưng dần, chúng tôi bắt đầu bò đi. Chúng tôi tìm thấy một trong những chiến hào của quân mình được xây từ năm 1941 và may mắn là không có tên Đức nào trong đó bèn trườn vào trên trong. Lưng dựa vào tường, tôi nói với Slepov :"Băng bó cho tớ với, phần phía trên đầu gối ấy ". Anh liền tháo chiếc thắt lưng và buộc trên chân tôi, nhưng máuđã ngừng chảy từ trước đó rồi. Rồi chúng tôi nghe thấy tiếng bọn Đức. Chúng đã lần theo vết bò của bọn tôi, theo những vết khoai tây bị dầm nát. Hình như một tên trung sĩ chỉ huy đội này, và cả bọn đều không muốn xông vào bên trong công sự. Thế là những tên lính nhát gan thi nhau vãi đạn súng máy vào chiếc công sự tội nghiệp, đất đá rơi đầy đầu tôi, nhưng đạn thì không thể chạm tới người . Slepov ra hiệu cho tôi chuyển tới chỗ khác an toàn hơn, nhưng tôi xua tay - yên tâm đi, đạn súng máy không thể xuyên thủng được tường. Tôi cảm thấy buồn ngủ ghê gớm vì mất nhiều máu. Nhưng điều quan trọng là phải bắt mình tình táo để nếu bọn Đức xông vào chúng tôi có thể bắn trả. Bởi nếu chúng bắt được bọn tôi, chuyện tra tấn chắc chắn sẽ xẩy. Tôi nhặt lấy một cục đất lạnh, xát nó vào trán để giữ tỉnh táo .

- A.D. (Ông) Có thông tin gì về cách lính Đức tra tấn tù nhân không?

- Có chứ, tất nhiên rồi, có nhiều thông tin về cách bọn Đức tra tấn chúng ta. Tôi chưa bao giờ thấy cảnh ấy, nhưng đã đọc chúng trên báo chí.Tôi có 7 viên đạn trong khẩu súng ngắn kiểu côn xoay cỡ ''38 của mình. Nhưng cứ cách một viên đạn tốt lại có một viên tịt, nên thực sự chỉ có 4 viên dùng được. Nắm chặt khẩu súng trong tay tôi hình dung mình sẽ bắn 3 phát súng vào những tên Đức nào cả gan chui vào trong công sự và viên thứ 4 sẽ dành cho. Nằm im trong yên lặng, tôi tự nhủ : “Chúa ơi, hãy cứu con. Nếu người cứu con, con sẽ luôn tin người” Và mọi chuyện xảy ra đúng như lời thỉnh cầu của tôi. Tôi nghe thấy tiếng rít lên của pháo phản lực "Katyusha". Những tên Đức trúng đạn lập tức. Chúng hét lên kinh hoàng "Vai, Vai, Vai" và chạy thục mạng. Giờ thì chúng đã có mối lo khác ngoài việc truy bắt chúng tôi. Tôi nghe thấy tiếng chúng kéo một đồng đội bị thương đi.

Nhưng ngay lúc đó, một tên Đức loạng choạng đi vào trong công sự và lăn ra ngủ. Thật là kỳ lạ. Trong ngày thứ 8 của đợt phản công, đa phần lính Đức đã say khướt, mệt mỏi và họ không thể cưỡng lại được giấc ngủ. Tôi không thể nghĩ rằng một tên Đức có thể chui vào trong công sự - hắn đã chui vào vì nghĩ rằng không có ai ở bên trong. Tôi ra hiệu với Slepov - hãy đâm tên kia bằng dao. Và anh ra hiệu lại - Tôi không biết cách xài dao. Thế là tôi chỉ cho anh cách người ta vẫn dùng dao trong các thánh đường. Anh hiểu, bò đi mang theo con dao. Tôi nghe thấy tên Đức oé lên đúng một lần duy nhất, nhưng Slepov vẫn tiếp tục cắt cổ hắn thêm một lúc.

Chúng tôi bò ra ngoài. Đêm đã xuống, sao lấp lánh trên đầu và sương đêm đang rơi nhè nhẹ. Slepov không bị thương, còn tôi thì có. Chúng tôi phải bò về phía mình và một lần nữa tôi lại ra một mệnh lệnh hết sức vớ vẩn. "Bò đi", tôi nói, “một mình thôi về, bò về phía quân ta và anh chỉ chạy nếu bọn Đức bắn anh. Tới nơi hãy bảo người ta theo dấu anh tới cứu tôi”. Tôi không biết Slepov có đến được phía ta không. Anh ấy bò đi, tôi thì trườn tới một căn nhà, mang theo hy vọng rằng khi bình minh lên tôi sẽ tới được phía quân mình. Khi tới gần ngôi nhà, tôi nghe thấy tiếng bọn Đức xì xồ bên trong, một tên Đức say cất giọng gào thét. Bên cạnh nhà, một người đàn bà đang ngồi khóc. Tôi chĩa khẩu súng về phía cô ta, ra lệnh : "Bò về phía tôi". "Tại sao cô lại ở đây?!" "Bọn Đức đang ở trong nhà tôi, lũ con tôi trốn trong rừng, tôi phải làm gì với anh đây?". "Bò đi ", tôi nói, "nếu không tôi giết". Cô ta chạc tuổi mẹ tôi, tầm 37 hay 38. Cô ta bò, còn tôi ra lệnh "Hãy bò tới phía quân ta". Cô biết phía quân ta ở đâu và tới sáng thì chúng tôi chạm vị trí tiền tiêu, nghe lào xào tiếng Nga vang lên. "Nào, bây giờ cô muốn ở lại hay bò về?" Tôi hỏi. "Về thôi, con tôi đang ở phía đó." Tới giờ tôi cứ ân hận mãi vì không cám ơn cô ấy.

Còn lại mình, tôi hét về phía quân ta : "Các bạn ơi, tôi là một thiếu úy xe tăng bị thương và tôi đã chiến đấu với các bạn trong buổi sáng nay đây". Tôi nghe thấy một giọng nói của người đứng tôi già: "Tất nhiên rồi, tất cả những loại như mày đều bị thương vì trườn đi lung tung nghe ngóng. Đồ gián điệp Đức...". Tôi tiếp tục: "Tôi là một thiếu úy, tôi đã ở cùng anh trong một chiếc xe tăng"."Rồi tôi nghe thấy giọng trẻ hơn : " Các bạn bình tĩnh. Anh ấy là thiếu úy của ta thật đấy, anh ấy kia kìa". Và tôi nghe thấy mệnh lệnh: "Đứng dậy, giơ tay lên!". Tôi đáp "Tôi không đứng được, chân đang bị thương mà". Có tiếng họ trao đổi với người lính trẻ "thử bò tới chỗ hắn, nếu có chuyện gì xảy ra hãy bắn lên một loạt." Họ bò về phía tôi, nhấc tôi đứng dậy và tôi hỏi:"Còn chiếc tăng nào không?" "Còn một xe nhỏ đấy" "Hãy đưa tôi tới gặp chỉ huy".

Người chỉ huy chạy tới gọi "Đồng chí thiếu úy, đồng chí thiếu úy" - "Hãy đưa tôi tới địa điểm xuất phát." Anh lính lập tức tỏ ra vui vẻ vì nhờ việc này anh có thể tới vùng hậu phương và quan trọng hơn là đã cứu được một thiếu úy; nói chung việc này có lợi cho cả 2 chúng tôi. Họ đưa tôi tới điểm xuất phát, nơi hôm trước tôi đã từ đó tiến công. Người tiểu đoàn trưởng nhìn thấy tôi mừng rỡ: “Con trai ạ, ta biết mọi chuyện sẽ kết thúc như thế này, nhưng nó kết thúc tốt hơn ta nghĩ. Và giờ đây anh vẫn còn sống sót sau khi trải qua chiến trận, cám ơn Chúa” . Rồi họ đưa tôi vào trong công sự. Vợ Lữ đoàn trưởng ra lệnh cho họ : "Cắt cái ủng của anh ta ra" rồi thốt lên “Trông các anh tệ quá, vodka nhé”.

Họ cho tôi một ly vodka rồi tiến hành phẫu thuật. Ngày hôm sau tôi được đưa tới ga Shakhovskaia. Tôi không bao giờ gặp lại anh lính lái xe hoặc anh lính nạp đạn nữa. Họ chở tôi trên một cái cáng: một người lính nhỏ thó đi trước, một người cao, hơi già khiêng phía sau. Tôi nói với họ: “Hãy đổi vị trí cáng nhé, nếu có chuyện gì xảy ra” - "Yên tâm đi thiếu uý, chúng tôi sẽ đưa anh tới nơi. " Liền đó những chiếc máy bay ném bom Junkerbắt đầu tàn phá Pogoreloe Gorodishe và Shakhovskaia, họ liền thả tôi giữa đường, lượn ngay vào một chiếc hầm ở bên rìa đường. Tôi buộc phải nói với họ : “Sao các anh không đưa tôi vào hầm?Việc đó không cần thiết à?" - Lúc đó họ mới miễn cưỡng ra nhấc tôi lên, đặt vào bãi cỏ gần đó. Rồi từ đâu đó túa ra các cô gái trẻ tốt bụng. Họ giúp khiêng tôi lên một con tàu đi Matxcơva, không quên dặn với theo "Hãy nhanh chân lên trước khi máy bay Đức tới Matxcơva.” Khi tàu chuyển bánh, tôi nghe họ hát ở toa bên cạnh, bèn quay đầu hỏi một người lính già : “Cái gì vậy nhỉ?" "À, các cô gái đã đưa chúng ta lên tàu ấy mà." - "Sao họ lại về Matxcơva?" "Để sinh con." "Anh nói để sinh con?" "À, hồi tháng 10, khi họ động viên toàn dân, các bà mẹ đã nói rằng, ‘Đi đi, để rồi chửa hoang và vác cái bụng về nhà’” Và mọi việc diễn ra đúng như vậy. Đó là quy luật của cuộc sống, tôi không trách gì các cô gái cả.
SyncMaster
- A.D. Những ngày đó, tiểu đoàn đã thiệt hại những gì?

Nói thật, trong vòng 8 ngày chiến đấu tiểu đoàn chúng tôi chỉ còn lại có 4 chiếc tăng: xe của tiểu đoàn trưởng, thiếu uý Dolgushin và hai tăng nhẹ T-60. Tiểu đoàn trưởng khi đó đã phải nói với tôi rằng "Con trai, ta không thể tiếp tục chiến đấu được nữa. Từ giờ anh sẽ là chỉ huy.” Chúng tôi đã thiệt hại rất nặng,phần lớn là do pháo chống tăng. Quân địch cũng trong tình trạng tương tự. Khi trên đường đuổi theo lữ đoàn, ngồi trong chiếc T-60 tôi nhìn thấy 8 chiếc tăng địch bị bắn cháy, toàn loại Pz.II và Pz.III. Binh sĩ của chúng ta dùng súng chống tăng đã bắn hạ chúng. Điều ngạc nhiên là những chiếc xe sau không hề rút lui khi xe trước bị bắn cháy. Có vẻ không giống với quân Đức vì những tay lái đi khá ngốc - Chúng chạy theo một đường thẳng vào đội hình tấn công của bộ đội ta và khi bị bắn cháy vẫn nằm nguyên trên một đường thẳng.

- A.D. Rồi điều gì đã xảy ra?

Thì 9 tháng nằm liệt trong các bệnh viện. Vết thương khá nghiêm trọng và lành thì rõ lâu. Đầu tiên tôi nằm ở bệnh viện dã chiến Bobylskaia, rồi tới bệnh viện thành phố Zlatoust. Sau khi hồi phục tôi phải đi bằng nạng, không thể chiến đấu được nữa. Thế là người ta điều tôi về đội huấn luyện lái tăng vì tôi biết công việc của người lái là gì và biết cách đào tạo họ.

- A.D. Ông có được thưởng cho trận đó không?

Có chứ, trận đó tôi được Huân chương Cờ đỏ trong khi còn đang nằm viện. Bạn tôi cho tôi biết : "Sasha! Họ viết về cậu trên tờ Sự thật Komsomolskaia đấy!" Tôi đọc thấy có đoạn :" Chiếc tăng dưới quyền chỉ huy của Thiếu úy Bondar'' là chiếc xe đầu tiên phóng tới ngôi làng". Đó là một số báo giá trị, và mọi việc đã diễn ra như một định mệnh.


Ghi âm: Artem Drabkin
Hiệu đính: Artem Drabkin và Ekaterina Korbut
Dịch từ Nga sang Anh: Alyssa Nichols
Dịch từ Anh sang Việt: Võ Hoàng Long - Lý Thế Dân
SyncMaster
Phần III - Hồi ức của BRAIKO PETR

user posted image


Braiko Petr. Anh hùng Liên Xô. Tham gia bảy trận tập kích của binh đòan (brigade) du kích do S.A.Kovpak chỉ huy. Với mơ ước từ bé là trở thành phi công chiến đấu, ông tốt nghiệp Trường Thông tin Biên phòng Maskva và vào ngày 22 tháng Sáu đã tham gia đánh trả quân xâm lược Quốc xã trên tuyến biên giới Liên Xô-Rumani. Bắt đầu chiến đấu từ ngày 22 tháng Sáu năm 1941 với vai trò là chiến sĩ biên phòng Xôviết canh gác biên giới với Rumani. Đã chứng kiến bi kịch lực lượng Xôviết bị bao vây và đánh tan gần Kiev. Trải qua nhiều năm họat động sâu trong hậu phương địch. Được dẫn dắt bởi những chỉ huy du kích Xôviết nổi tiếng tại Ukraina là S.A.Kovpak, S.V.Rudnev và P.P.Vershigora.

Ông đang ở đâu khi chiến tranh nổ ra?

Tôi là một người lính biên phòng, vì thế tôi phục vụ tại vùng biên giới khi bọn Quốc xã xâm lược Liên Xô lúc 4 giờ sáng ngày 22 tháng Sáu. Tôi thuộc đơn vị biên phòng số 97 đóng tại chốt biên giới 13 thuộc thị trấn Chernovtsy. Lãnh thổ Tây Ukraina được sáp nhập vào Liên Xô năm 1939, do đó chúng tôi cần cải thiện tình hình an ninh tại chốt biên giới của mình. Đường biên giới đi ngang qua một vùng rừng núi phong cảnh rất đẹp. Khi được chuyển tới chốt năm 1940, tôi đóng lon thiếu úy. Điều đầu tiên tôi phát hiện là các bạn đồng đội biên phòng của mình đã có trong tay 9 tới 12 năm kinh nghiệm, trong khi thời gian nghĩa vụ yêu cầu chỉ là 3 năm! Lý‎ do là mỗi khi thời hạn nhập ngũ vừa hết thì họ lại nộp đơn xin tăng hạn. Họ không thể rời chốt, nó tựa như một gia đình đối với họ.

Lính biên phòng đi gác theo từng tổ hai người: một tổ đi theo lối mòn, một tổ khác vào vị trí phục kích, một tổ tới bãi trống quan sát, một tổ nữa – tới chốt thông tin liên lạc. Chỗ chúng tôi có trung sĩ Zưkin, anh ấy phục vụ đã được 11 năm. Đối với tôi, một thiếu úy, anh ấy là một chuyên gia, bởi anh biết tường tận mọi việc. Vì thế tôi bảo anh: “Cậu giúp tớ học hỏi kinh nghiệm nhé?” và anh đáp: “Được”. Tôi vẫn còn nhớ rất rõ về anh, anh hướng dẫn tôi mọi kỹ năng cơ bản trong suốt nửa năm trời, một số chuyện không thể hình dung nổi trong bất kỳ ngôi trường hay học viện nào.

Năm 1941 chứng kiến những vi phạm không ngớt vùng biên giới. Chúng tôi không được tiếp viện và đụng độ bùng lên đêm nào cũng có. Hàng đêm xuất hiện những kẻ xâm nhập và chúng tôi bắt được hầu hết. Những tên nào đã vượt qua không cho thấy có dấu hiệu gì nguy hiểm. Thời kỳ ác liệt nhất là vào tháng Năm 1941, khi bọn điệp viên đó bắt đầu quay ngược trở về (phía địch – LTD). Chúng tôi bắn hạ chúng ngay tại chỗ trong trường hợp không thể bắt sống được.

Ngày 22 tháng Sáu chúng tôi phải chịu đựng pháo bắn dữ dội, và rồi là bọn bộ binh cơ giới. Không có xe tăng, địa hình ở đây không cho phép chúng họat động. Một đồn biên phòng là một đơn vị nhỏ khỏang 50-75 người, phải bảo vệ một khu vực 20-25 kilômét biên giới. Nhưng việc bảo vệ biên giới lại rất khác với việc phòng thủ biên giới. Năm mươi lính biên phòng trang bị súng trường và lựu đạn chẳng có tác dụng gì. Chỉ những sĩ quan mới được trang bị tiểu liên. Và vũ khí cũng không được tốt. Lính biên phòng chưa bao giờ được huấn luyện để đánh xa. Họ thường để kẻ thù tới gần và ra đòn quyết định giết ngay đối phương. Đấy cũng là cách chúng tôi chiến đấu trong ngày đầu tiên của chiến tranh. Chúng tôi tản ra và mỗi tổ hai người tự độc lập chiến đấu. Cuối ngày đầu tiên chỉ còn có hai người sống sót. Tất cả đều bị giết. Tới chiều tôi về được ban chỉ huy đơn vị để báo cáo những gì đã chứng kiến. Sau chiến tranh tôi tự hỏi liệu có ích gì khi ta ra đi chiến đấu mà bụng biết chắc rằng mình sẽ bị giết. (Những ai có điều kiện đọc tiểu thuyết “Những người sống và những người chết” của Konstantine Simonov viết về thời kỳ đầu chiến tranh sẽ thấy rằng, trong những ngày đầu, lính Đức căm nhất lính biên phòng Xôviết và bắn hạ ngay tại chỗ mà không bắt làm tù binh. Cuốn này tại các tiệm sách cũ vẫn còn khá nhiều. – LTD)

Ông đã chứng kiến cuộc phong tỏa Kiev. Ông có thể kể thêm cho chúng tôi về sự kiện này được không?
‎‎
Tôi được cấp giấy thông hành và chuyển về Trung đòan bộ binh cơ giới số 4 thuộc Xôviết NKVD tại Kiev. Trung đòan gồm những lính biên phòng còn sống sót. Tôi được chỉ định làm đại đội trưởng đại đội liên lạc. Nhưng chẳng có gì là liên lạc cả. Có chỉ huy và trang bị kỹ thuật nhưng không có lính. Chỉ huy ra lệnh cho tôi tổ chức nhân sự cho đại đội cho phù hợp yêu cầu thời chiến trong thời hạn hai tuần. Tôi chọn mấy tay lính dự bị, những anh chàng trước kia từng làm sĩ quan liên lạc và giờ quay lại tham gia chiến đấu từ cuộc sống dân sự. Trung đòan tôi được yêu cầu phòng thủ trên sông Irpen chảy dọc đường quốc lộ Zhitomir về phía Tây Kiev. Bọn Đức đã đánh tan tuyến phòng thủ gần Zhitomir và lập ra một lực lượng cơ động gồm hai tiểu đòan xe tăng cùng lính pháo thủ và chọc thẳng vào khu Kreshchatik tại Kiev. Chúng tôi chặn chúng lại. Tại đó lần đầu tiên tôi thấy việc chiến đấu thú vị. Trong chiến hào được gia cố bằng bê tông chúng tôi hòan tòan an tòan. Chúng tôi không bị phát hiện và được trang bị đầy đủ. Vì thế chúng tôi chỉ ngồi chờ cho hai tiểu đòan kia tới gần chiếc cầu băng qua sông Irpen. Con sông vốn hẹp nhưng sâu đáy, và khi hai chiếc tăng đầu tiên trèo lên cây cầu, nó nổ tung lên không trung và đổ sập xuống sông cùng đám xe tăng. Đòan xe tăng đang chạy với tốc độ cao và chúng tôi nã đại liên và tiểu liên vào chúng (Theo tôi lời kể của Braiko Piotr vẫn đáng tin vì trong chiến tranh chuyện gì cũng có thể xảy ra. Hơn nữa có thể đây chỉ là tăng nhẹ và hầu hết ở đây là xe thiết giáp chở bộ binh – LTD). Mất khỏang chừng 15 phút để thiêu rụi tòan bộ đòan quân địch. Bọn Đức tổ chức một cuộc đột kích khác vào ngôi làng Belogorodki. Nhưng chúng tôi lặp lại tương tự và kẻ thù phải ngưng tấn công trên hướng chúng tôi. ‎

Kế đó bọn Đức quyết định đột phá tuyến phòng thủ tại nhà ga Boayrka nằm phía nam Kiev. Đòn tấn công thật dữ dội như vẫn thường xảy ra. Nhưng Binh đòan (brigade – LTD) dù số 5 của đại tá Rodimtsev là một trong những đơn vị tinh nhuệ nhất. Đại tá Radimtsev (phiên theo ký‎ ‎tự từ Nga sang Anh thì là Rodimtsev, nhưng người Nga đọc là Radimtsev – LTD) sau này trở thành tướng và Hai lần Anh hùng Liên Xô. Binh đòan của ông thành lập từ những lính biên phòng ngay từ trước chiến tranh. Lính biên phòng quen với đánh cận chiến nhưng bọn Đức không biết điều này. Quân địch đưa tới đây ba sư đòan bộ binh môtô, nhiều trung đòan tăng và đưa khỏang 1000 bộ binh lập một hình bán nguyệt đi trước, tất cả tập trung trên một dải đất hẹp. Chúng muốn làm chúng tôi hỏang sợ. Khi đã tới gần, chúng bị cánh lính dù bắn hạ sạch – cả đám bộ binh, đám xe tăng và sư đòan môtô. Trận đánh kết thúc sau một tiếng rưỡi đồng hồ. Bọn Đức phải đưa xe ủi đất tới và mất suốt hai tuần liền dọn dẹp xác chết. Khi đó chúng tôi đã nghĩ rằng kẻ thù sẽ không bao giờ chiếm được Kiev.
SyncMaster
Trung đòan ông tụt lại trong hậu phương địch ra sao?

Bọn Đức chọc thủng phòng tuyến Xôviết ở hai nơi – phía bắc Kiev gần Gomel và phía nam Kiev gần Kremenchug. Chúng đưa tới đây các tập đoàn quân xe tăng và những tập đòan quân này tiến thẳng về phía đông vào cuối tháng Tám. Bọn Đức nhanh chóng tiến được 350 kilômét vào sâu trong nội địa và đồng tiến tới gần Konotop-Bakhmachi-Vorozhba phía đông Dnieper. Năm tập đòan quân ta bị lọt vào giữa vòng vây thép đó. Nhưng chúng tôi chỉ biết được chuyện đó khi đã là cuối tháng Chín.

Đột nhiên chúng tôi nhận được mệnh lệnh cho nổ tung các cứ điểm phòng thủ và rút về phía bờ đông của sông Dnieper. Nước mắt lưng tròng chúng tôi phá hủy tuyến phòng thủ của mình, rút lui về Kiev trong đêm tối mà không được nổ một phát súng, giật mìn nổ tung mọi cây cầu bắc qua sông Dnieper và tiến về bờ đông của sông Dnieper. Khi đó chúng tôi cho rằng mình thế là đã an tòan. Do đó, chúng tôi đi xa hơn về phía đông… và bọn Đức có mặt ở khắp nơi, chỗ nào chúng tôi tới cũng đều gặp bọn Đức. Chúng tôi tới được sông Trubezh, cũng tựa như sông Irpen, hai bên bờ lầy lội. Chúng tôi biết được rằng có một cây cầu cho đường sắt bắc ngang qua sông. Thế là chúng tôi tiến lên đó, lót ván lên để xe tải có thể chạy qua được và hai tiểu đòan chúng tôi tiến sang phía bờ đông. Ngay khi chiếc xe cuối cùng rời khỏi cầu, bọn Đức dội pháo, súng máy và tiểu liên lên đầu chúng tôi, và sau vài phút tòan bộ đòan xe chúng tôi đã cháy rụi.

Ngay từ phát đạn đầu tiên tôi đã lăn ra khỏi buồng lái và qua được bờ đối diện, nơi không có quân Đức. Tôi đứng thẳng trên hai chân và trông thấy bên cạnh có 11 người nữa còn sống sót. Tất cả đều là lính trơn, chỉ có tôi là sĩ quan duy nhất. Họ đeo khẩu carbine với 10 viên đạn còn tôi chỉ có mỗi khẩu súng lục “TT”.

Đột nhiên chúng tôi nghe thấy tiếng súng nổ từ hướng bờ sông. Và chúng vang tới ngày một gần hơn. Đằng sau chúng tôi là dòng sông và cây cầu thủng lỗ chỗ. Chúng tôi chẳng biết chạy đi đâu, chúng tôi đã bị hòan tòan bao vây. Do đó chúng tôi chỉ còn mỗi một cách – tìm lấy một chỗ trú kín đáo, để cho kẻ thù tới gần khỏang 5 mét, tiêu diệt chúng và đi tiếp.

Từ dưới đọan chiến hào cũ còn lại từ thời Nội chiến, tôi có thể nghe thấy tiếng chó sủa ngay cạnh. Điều này xác nhận điều tôi lo sợ nhất đã xuất hiện. Lũ chó sẽ không khi nào bỏ qua chúng tôi. Sau lưng chúng tôi, cách khỏang 20 mét, là dòng sông với bờ sông lầy lội. Tôi thì thào ra lệnh “Hãy đừng quay lưng lại, cứ thế bò trở lui”.

Tính tóan của tôi thật ngây thơ trẻ con. Tôi nghĩ rằng bọn chó sẽ không dám đi ra chỗ lầy và sẽ mất dấu chúng tôi, và bọn Đức đi sau sẽ bắn lên trời để cảnh cáo. Mọi chuyện xảy ra khác hẳn. Bọn Đức cắt cỏ đem tới, chỉnh khẩu súng máy và bắn xuống. Mỗi khi chúng nã ra một lọat đạn bắn đứt những tán lau sậy là một lần chúng tôi hụp đầu xuống nước. Đám sậy đã giúp chúng tôi rất nhiều. Lý‎ do là nếu ta ngậm nó trong miệng thì ta có thể ở dưới nước lâu tới nhiều phút. Cuộc bắn giết cuối cùng cũng chấm dứt. Chúng tôi kiên nhẫn chờ đợi. Chỉ còn bốn người sống sót.

Cho tới cuối đời tôi vẫn sẽ luôn ghi nhớ cái ngày đó. Đó là nỗi sợ hãi kinh khhủng không tài nào tả được, còn đáng sợ hơn chính bản thân chiến tranh. Không vũ khí, chúng tôi không thể tự lo liệu và không biết phải làm gì tiếp theo bởi cũng chẳng có bản đồ bên người. Lúc đó là vào ngày 30 tháng Chín năm 1941.

Thế là tôi tụt lại trong vùng địch kiểm sóat. Bọn Đức có ở khắp nơi. Trong ngôi làng đầu tiên gặp được, chúng tôi đã thay lấy quần áo dân thường và dân làng cho chúng tôi một ít đồ ăn.

Từ vùng Kiev chúng tôi đi tới vùng Chernigov. Tại làng Voronki chúng tôi bị một chiếc xe tải chặn lại. Hai tên Đức ngồi trong buồng lái, ngòai ra có bốn tên nữa ngồi sau xe. “Partisanen? (Du kích – LTD)”- chúng hỏi. Và không chờ trả lời chúng ra lệnh cho chúng tôi leo lên xe tải. Tôi có một khẩu súng lục và 30 viên đạn. Nếu chúng tìm thấy thì câu chuyện sẽ kết thúc tại đây. Trong khi tôi còn đang tính xem mình sẽ làm gì với khẩu súng thì chúng tôi được đưa tới một trại tù binh rộng lớn trứơc đây là một khu nhà kho kỹ thuật nằm tại Darnitsa, Kiev.
SyncMaster
Tình thế lúc đó như thế nào?

Những người lính chúng tôi lúc đó trông không còn giống lính tráng nữa. Quấn trong tấm áo khóac lính rách nát, mũ lưỡi trai và mũ sắt lúc nhúc những rận, trông họ thật lôi thôi. Vây quanh khu trại là những người vợ và mẹ đang đi tìm người thân của mình. Lý‎ do là họ biết có cả một tập đòan quân đã bị bao vây. Bọn Đức tỏ ra khá hào hiệp. Nếu một người vợ tìm thấy chồng mình thì anh ta sẽ được thả. Đám phụ nữ đứng ngòai hàng rào suốt nhiều giờ liền và đem theo thực phẩm, họ ném chúng qua hàng rào. Tôi tận mất trông thấy có nửa ổ bánh mì nhà làm rơi xuống ngay sát chỗ chúng tôi ngồi. Khỏang 10 tù nhân nhào tới và họ bắt đầu đánh lẫn nhau. Năm tên sĩ quan Đức xuất hiện tại chỗ có tiếng la hét và khi đã biết chuyện gì xảy ra, chúng liền lăn ra cười. Rồi chúng rút súng ra và bắn thẳng vào đám đông đang tranh nhau. Đám tù binh tản vội theo mọi hướng và trên mặt đất chỉ còn lại nửa ổ bánh mì và năm xác chết. Cảnh ấy là tóc gáy tôi dựng cả lên. Tôi chợt nhận thấy rằng nơi đây chúng tôi không phải là con người, chúng tôi là sâu bọ và chúng tôi được đối xử như lòai sâu bọ. Khu trại được vây quanh bởi những hàng rào bê tông cao bốn mét có chằng dây thép gai xung quanh. Làm sao thóat ra ngòai được?

Thật tình cờ tôi được gặp Sergei, một cậu người Kavkaz mặc chiếc áo khóac đen còn tốt. Anh ấy cho tôi biết về các quy luật trong trại tù. Mỗi thứ bảy bọn chúng đem chôn 200 người bị chết đói. Vào buổi sáng chúng phân phát súp lõang nấu với thứ củ cải không thèm rửa sạch. Tới 8 giờ sáng tù nhân được tập hợp lên một xe tải và chở đi xây lại những cây cầu bắc qua Kiev. Những ai không nằm trong danh sách lao động thì làm người phục vụ cho bọn sĩ quan sống trong khu trại đối diện. Sergei kể rằng mỗi ngày anh ta đều được đưa đi làm việc cho thiếu tá Lutke. Tên thiếu tá cho anh ta một giấy thông hành để anh ta có thể tự do đi lại. Trong thời gian cuộc nói chuyện của chúng tôi xảy ra thì anh ấy đang phục vụ cho một viên sĩ quan khác. Vì thế tôi hỏi xem anh ấy có thể cho tôi tờ thông hành của Lutke được không. Sergei chìa ra một mảnh giấy có ghi “Giấy phép cho ba người. Thiếu tá Lutke”. Tôi mau chóng cầm lấy và chợt cảm thấy có một thóang hy vọng. Tôi nhận ra rằng mình sẽ được an tòan.

Sáng hôm sau, khi thức dậy, tôi và hai người nữa cùng trung đòan trèo xuống dưới tấm ván làm giường ngủ. Chúng tôi nằm đó thêm một giờ nữa cho tới khi sự ồn ào buổi sáng giảm bớt. Chúng tôi đi ra ngòai. Điều quan trọng nhất là cư xử sao cho tự nhiên và không tỏ ra sợ hãi. Chúng tôi phải vượt qua được bốn trạm gác và một chiếc cổng. Tại mỗi trạm gác tôi đều bảo với lính canh rằng mình đang đi phục vụ cho một sĩ quan. Trời đầy sương giá và tại mỗi trạm gác đám lính canh đều trông tựa những cột băng lạnh lẽo. Chúng không nói gì, chỉ tránh sang cho chúng tôi đi qua. Chúng tôi rời trại và hướng tới khu nhà sĩ quan. Dọc khu sĩ quan có một con đường người dân Kiev hay dùng để tới chợ đổi chác hàng hóa cần thiết. Cả gia đình cùng đi với nhau. Khi chúng tôi đã tới được con đường tưởng chừng vô tận ấy, tôi hỏi một người đàn bà rằng mình có thể xách giúp được không. Bà ấy lập tức hiểu ngay chúng tôi từ đâu tới và bảo: “Hãy đi theo chúng tôi”. Chúng tôi qua được chiếc cổng. Giữa đám đông chúng tôi không thể bị phát hiện. Đấy là chuyện chúng tôi đã trốn khỏi trại ra sao, lặng lẽ và khôn khéo.
SyncMaster
Làm cách nào ông tìm thấy đơn vị du kích của mình?

Dân làng cho chúng tôi hay có một đơn vị du kích Xôviết rất đông trong vùng Sumy. Tìm được đơn vị này thật khó khăn: hai sư đòan quân Đức đang truy tìm nó nhưng đều thất bại. Tại làng Victorovo, tôi gặp một đám con gái đang khóc lóc. Họ bảo rằng họ khóc vì các bạn trai họ đã bị gọi vào tham gia một đơn vị du kích địa phương. Họ cũng bảo tôi rằng tóan du kích đã động viên các chàng trai của họ đã chuyển sang làng Uzlitsa cách đây 5 kilômét. Tới được đó theo cách thức một vận động viên maratông, tôi gặp được một lính gác mang vũ khí, mặc chiếc áo chòang kiểu Hungary và đội chiếc calô lính Đức (Nguyên văn: German field cap – LTD) trên đầu. Sự trung thành của anh ta thật khó đóan. Anh ta kiểm tra tôi và rồi áp giải tôi tới một ngôi nhà gần đó. Ở ngay cửa vào có một tay gác khác, một cậu bé đeo khẩu súng trường Mosin 1891. Vào trong, tôi bị cật vấn bởi một người đàn ông mặc bộ đồ da sĩ quan Đức cùng một khẩu súng lục Parabellum của Đức bên sườn. Tôi nhẩm lại câu chuyện bịa của mình là đóng vai một học sinh Konotop trên đường tới nhà ông mình.

- 'Tại sao anh tham gia polizei (Cảnh binh người Ukraina, phục vụ chính quyền tay sai cho Đức – LTD)?’

- 'Không. Tôi là dân thường và không biết sử dụng súng.’

- 'Tại sao anh gia nhập đơn vị Côdắc ?’ (Đây là đơn vị lê dương Côdắc trong quân đội Đức, đặc biệt tinh nhuệ. Theo một số nhà nghiên cứu phương Tây, có khỏang 200.000 lính Côdắc trong quân đội Đức. Người Côdắc là một dân tộc luôn dao động giữa hai cực: theo Nga hay thân Đức-Ba Lan. Một phần lớn họ muốn đòi độc lập. Tất nhiên, điều kiện kinh tế, văn hóa và chính trị không cho họ khả năng này. – LTD)

- 'Không.'

- 'Thế còn đám du kích chống đối?’ (Ngòai các đơn vị du kích Xôviết, còn có các tổ chức du kích khác được gọi là phỉ xanh, Haidamark hay du kích dân tộc chủ nghĩa Ukraina, chủ chương đòi độc lập cho Ukraina. Đại tướng Liên Xô, Anh hùng Liên Xô Vatutin bị đám này giết hại trong chiến dịch giải phóng Ukraina. Khi chiến tranh kết thúc, tất cả những người được gọi là phỉ xanh đều bị giết chết hay đi đày. – LTD)

- 'Không.' Trả lời khác đi có nghĩa là cầm chắc cái chết.

- 'Mẹ mày. Xéo khỏi đây mà về với ông mày đi.'

'Anh ta là ai vậy?’ – tôi hỏi tay lính gác thiếu niên đứng ngòai thềm nhà. ‘Có phải là sếp cảnh sát địa phương (polizei) này không?’ Cậu bé chửi thề và cho tôi hay rằng người đàn ông kia là đại đội trưởng du kích, thiếu úy Lưsenko. Tôi quay vội lại và thừa nhận mình là người có cảm tình với du kích. Họ không tin tôi là nhốt tôi lại để thẩm vấn. Tôi phải nằm ba ngày trong một phòng giam của quân du kích tại làng Zazirki.

Đó có phải là đơn vị của Kovpak không?

Đúng. Thực ra ông ấy đã điều khiển quá trình thẩn vấn từ căn nhà chỉ huy của mình. Bốn người ngồi đối diện tôi trên một chiếc bàn dài, trông có vẻ là cựu sĩ quan quân đội Xôviết. Người ngồi ngay đối diện – một ông khá lớn tuổi với bộ râu cằm nhỏ vuốt nhọn – đó là Kovpak. Tay đẹp trai trông khá ngầu ngồi bên trái ông ta – có bộ ria đen và cặp mắt sắc sảo thấu tâm can – là Rudnev. Anh ta là người thẩn vấn chính. Họ ghi lại tỉ mỉ những câu trả lời của tôi về hàng ngàn câu hỏi rất thông thường. Trong những quãng nghỉ giữa những cuộc thẩn vấn mỗi ngày, họ kiểm tra lại những câu trả lời của tôi với những người khác trong đơn vị của họ biết rõ về những địa điểm tôi đã nói tới. Tới ngày thứ ba, khi họ đang đặt câu hỏi về Konotop, một người bước ra từ một chỗ nấp đằng sau lò sưởi và nói với họ rằng anh ta đã nhận ra tôi. Trước chiến tranh, anh ta là Chủ tịch Hội đồng ở Konotop. Trong đơn vị Kovpak, anh ta chỉ huy đơn vị mà chúng tôi gọi là Trung đòan Konotop. Tôi trở thành một chiến sĩ của trung đòan này. Sáu tháng sau, Kovpak bảo tôi rằng trong ngày hành hạ đầu tiên, Rudnev đã tìm cách thuyết phục hội đồng thẩm vấn tạm hõan quyết định đem tôi ra xử bắn.
SyncMaster
Ông có thể kể lại tình hình và điều kiện trong đơn vị của Kovpak khi ấy được không?

Kovpak và Rudnev ban đầu họat động độc lập, mỗi người có trong tay khỏang ba chục người. Rồi Rudnev đề nghị một sự sáp nhập. 'Bố già' liền đồng ‎ý. Ông ấy trở thành Chỉ huy trưởng, cho Rudnev làm Chính ủy. Ngay sau khi tôi gia nhập lực lượng của họ, một tay chỉ huy nữa xuất hiện, Piotr Petrovich Vershigora đến từ Cục Tình báo Quân sự Hồng quân. Trong năm 1943, khi quân số của đơn vị là 1500 người, bọn Quốc xã đã ước tính lực lượng của họ tới 20 ngàn người. Đấy chính là môi trường đã hun đúc tôi trở thành một chiến binh thực thụ.

user posted image
Nghiên cứu kế họach trước chiến dịch phá hủy một khu khai thác dầu mỏ tại dãy Carpath.
Từ trái sang: S.A.KOVPAK, S.V.RUDNEV.


Ông giữ chức vụ gì trong đơn vị của Kovpak?

Trung đội trưởng, đại đội trưởng, tiểu đòan trưởng, trưởng ban tình báo chiến thuật, trung đòan trưởng.

Xin hãy kể lại cho chúng tôi về các chiến dịch của đơn vị du kích của ông.

Chúng tôi đã thực hiện được 7 cuộc tập kích quy mô lớn và vô số cuộc tập kích cỡ nhỏ. Tháng Tư năm 1942, một người trong bọn tôi tới được Kharkov thuộc miền đông Ukraina và vượt qua được vùng phụ cận do Xôviết kiểm sóat. Các cựu chiến binh từng trải qua vòng vây khổng lồ của bon phát xít bao vây lực lượng Xôviết tại Kiev năm 1941 đã xác nhận lý‎ ‎ lịch và câu chuyện do anh ta kể. Bộ chỉ huy Xôviết đã thả dù xuống một máy điện đài dã chiến cho chúng tôi và chúng tôi bắt đầu tiến hành các chiến dịch theo sự chỉ dẫn từ Maskva.

user posted image
Trở về sau cuộc tập kích Dãy Carpath, 1943.
Người đi đầu là P.Ye.BRAIKO


Chỉ dẫn đầu tiên là tổ chức vượt qua hữu ngạn sông Dniepr và thiết lập một vùng mới dứơi quyền điều hành của Xôviết trong vùng lòng chảo rậm rạp gần nơi nhánh sông Pripyat đổ vào sông cái Dniepr. Trong cuộc tập kích điển hình của chúng tôi vào dãy Carpath mùa hè năm 1943, chúng tôi đã làm tê liệt giao thông trên tuyến đường sắt chiến lược từ Kiev tới Kovel và từ Kiev tới Lvov. (Cái này tớ thua, lúc đầu cứ tưởng đây là vùng núi Carpath của Đông Âu. Nguyên văn: During our textbook raid to the Carpathians in the summer of 1943, we paralyzed traffic along the strategic rail roads from Kiev to Kovel and from Kiev to Lvov. Bác nào biết giúp tớ - LTD) Một cuộc tập kích khác vào miền đông nam Ba Lan đầu năm 1944 cũng là một thử thách thực sự. Không có ngày nào là không có hành quân và chiến đấu! Ban đêm thì không được nghỉ ngơi. Binh đòan (brigade – LTD) Kovpak đụng độ với năm sư đòan tinh nhuệ của Đức trong suốt cuộc tập kích ấy. Ngày nào chúng cũng tìm cách bao vây chúng tôi, cứ thế trong suốt hai tháng trời. Nhưng ngày nào chúng tôi cũng thóat được. Rừng rậm là địa bàn của chúng tôi. Chúng tôi coi đó là nhà, còn kẻ thù thì trở thành những khách trọ không được mời, xa lạ và vụng về.
Pages: 1, 2, 3, 4, 5, 6
Quán nước đầu làng Ven > Sáng Tác - Thảo Luận - Phổ biến kiến thức > CLB Văn Hoá - Lịch sử
Bạn đang xem phiên bản gọn nhẹ của diễn đ n dưới dạng text, để xem các b i viết với đầy đủ mầu sắc v hình ảnh hãy nhấn v o đây !
Invision Power Board © 2001-2010 Invision Power Services, Inc.