Langven.com Forum

Giúp đỡ - Lục lọi - Dân l ng - Lịch
Full Version: Mùa Xuân- Đặng Tiến
Quán nước đầu làng Ven > Sáng Tác - Thảo Luận - Phổ biến kiến thức > Văn Học & Ngôn Ngữ
Tuongcuop
Vài nét về nhà phê bình Đặng Tiến[COLOR=blue]

Đặng Tiến, người Quảng Nam (ông đọc chệch, đùa cợt bảo: Tớ dân Quảng Nôm), sinh năm 1940. Tốt nghiệp văn khoa sài gòn sau đó đi làm ngoại giao...

Sau khi lấy vợ, là con một người bạn cùng làm ở Đại sứ Sài Gòn tại Pháp khi ấy, Đặng Tiến ra ngoài dạy học, hành nghề làm giáo viên trung học, môn văn hóa Đông nam Á. Ông cũng là giáo viên thị giảng của một vài trường đại học tại Pháp cho tới năm 2002.

Đặng Tiến tuy ở Pháp, nhưng những năm trước chiến tranh, ông cộng tác chặt chẽ với nhiều tờ báo văn chương phía Nam. Tác phẩm đầu tiên gây tiếng vang dữ dội tại phía Nam khi ấy là cuốn Vũ Trụ Thơ- Nhà sách Giao Điểm -1972. Trong cuốn này, những trang viết về Kiều của ông làm giới học giả cho tới hôm nay còn kinh ngạc...

Ông là nhà lí luận hàng đầu và uyên bác nhất hải ngoại theo tôi biết.

Tại nhà Đặng, trên gác hai, gian nhà khoảng ba chục mét vuông, các giá cao chất ngất chất đầy sách. Sách cổ, sách miền Nam cũ, sách miền Bắc từ sau 54...cả những cuốn gần đây nhất cũng ngổn ngang, không thiếu trong nhà sách của ông. Có lần, hứng lên, ông còn cho không tôi hai bộ tự diển văn chương VN của miền Bắc in từ năm 1960 (mà nhà văn Ngô Tự Lập thẻm rỏ rãi...)

Ở Hải Ngoại mỗi khi bí từ nào, chưa rõ nghĩa vấn đề gì liên quan tới văn hóa, văn học, khi tôi hỏi, tôi đều có lời giải từ Đặng Tiến một cách rành mạch. Truyện ngắn có tên Vàng Xưa là từ gợi ý của ông, mà tên truyện ngắn gọn vậy.

Trông vẻ ngoài, Đặng tiên sinh đậm, thô như lão nông dân xứ eo, nhưng bên trong ông chứa chất một tâm hồn rộng mở, tha thiết với cái đẹp, với văn chương. Ông sống hưu trí ngôi nhà cũ, ba tầng, cách Paris khoảng bốn giờ ô tô, bên con sông nhỏ và quanh đó là những cánh đồng nho bao la của nông dân Pháp.

Ông từng là giảng viên thính giảng nhiều giờ ở vài trường Đại Học tại VN sau 75. Mỗi khi ông vể nước , ông là khách thân quý của nhiều nhà phê bình, các học giả trong nước...

Đặng Tiến bấy nay vẫn viết thường xuyên. Ông là tác giả làm các giai phẩm hải ngoại như Hợp Lưu, Văn, Văn Học, Diễn Đàn v.v...lên hương và ý vị thêm mỗi khi có bài của ông.

Văn Đặng tiên sinh thâm trầm, sâu sắc. Các vấn đề ông nhìn qua một nhà văn, nhà thơ, về một nhạc sĩ, đều có góc cạnh riêng, khó pha trộn với ai khác. Là người phê bình, ông nhìn mọi việc đều: "Xét người phải xét từng việc" ( Đặng Tiến). Theo tôi, ông có con mắt khách quan cần có của một nhà phê bình văn chương; không vì chính trị đơn giản, vì yêu, ghét riêng, mỗi khi đánh giá, phê bình bất kì một tác phẩm hay cá nhân nào khi đặt bút, kể cả những ai trái với quan điểm chính trị của ông. Đấy là một phẩm chất đáng trọng nơi ông mà tôi nhận ra và yêu mến.

Văn Đặng còn hay ở chỗ, ở bài viết nào ông cũng phát biểu được cái riêng của con mắt ông, trái tim ông, thể hiện về một quan niệm thẩm mĩ từ một vấn đề cụ thể... Lại nữa là ở nhiều bài, có nhiều câu chiêm nghiệm hoặc triết lí về quan niệm sống , nhân sinh quan hết sức cô đặc, rất dễ hiểu mà thâm hậu...

Đặng tiên sinh viết phê bình văn chương, hội hội, âm nhạc v.v... không phải khi nào cũng đúng, nhưng ông là người trung thật, ko bịa tạc, vu vạ và suy diễn vớ vẩn.

Ở Pháp, cũng như nhiều người sinh sống lâu ở đây, ông quảng giao, đối thoại với nhiều hạng người...chơi thân với những người bình dân như ông Đặng Văn Long ( nhà văn, lính công binh bị Pháp bắt đi phu binh thế chiến 2).

Vợ ông rất trẻ. Là một người đẹp và mến khách.

Nhân xuân vừa tàn, lại buồn, vài nét về ông và giới thiệu bài viết ông vừa gửi cho những ai quan tâm tới văn chương thực sự.
Tuongcuop
[COLOR=blue] Mùa Xuân đang nói về hạnh phúc[COLOR=blue]

Đặng Tiến


Đầu đề này mượn nguyên một câu thơ Nguyễn Đình Thi, hoàn toàn thích nghi cho một bài báo Xuân lấy hạnh phúc làm đối tượng.

Ngoài tính cách cơ hội, từ hạnh phúc ở đây mang nội dung sâu rộng, trong đoạn kết một bài thơ ngắn, 1977 :

Lá non đã xanh rờn mặt đất
Mùa Xuân đang nói về hạnh phúc
Cảnh chim bay trên sông núi lạ lùng
Giữa ngàn cây
Gội sương giá tình yêu đến

Hạnh phúc trên ba tọa độ : thiên nhiên – đất nước – tình yêu. Hạnh phúc muôn đời, trong lịch sử và trong khoảnh khắc lứa đôi.

Hạnh phúc, niềm vui riêng của từng người và có lẽ cũng tùy dân tộc. Người Việt Nam hôm nay, sau những gian truân, không thể nói hạnh phúc một cách chung chung, bình thường, như con người nơi khác. Hạnh phúc là một màu trời, không phải đâu cũng như đâu, lúc nào cũng như lúc nào. Nói hạnh phúc, giọng nói của mình phải có khả năng, hay ít nhất là tiềm năng mang hạnh phúc đến cho người khác.

*

Sau cuộc Cách mạng Pháp 1789, trên diễn đàn Quốc Dân Đại Hội, ngày 4.3.1784, Saint Just đã có câu tuyên bố để đời : hạnh phúc là một tư tưởng mới tại Âu châu. Không phải là trước đó, người Âu không biết hạnh phúc, nhưng phải đợi đến thế kỷ 18 thì khái niệm này mới được phổ biến, tranh luận rộng rãi, như một đối tượng trong đời sống của từng cá nhân hay công dân. Tuyên ngôn độc lập Hoa Kỳ ngày 4.7.1776 đã đòi hỏi hạnh phúc như một quyền cơ bản của con người, điều mà triết gia Locke đã khẳng định từ 1690. Tiêu ngữ độc lập – tự do – hạnh phúc xuất hiện từ 1945 cùng với nền cộng hòa Việt Nam, phần nào cũng bắt nguồn từ đấy, và chữ hạnh phúc, từ đây trở thành một lý tưởng chính trị, bên cạnh ý nghĩa thường tình mà nó vẫn có – nhưng chỉ vài ba mươi năm về trước.

Trước đó, ta có chữ hạnh, và chữ phúc, nhưng không có danh từ hạnh phúc trong các từ điển tiếng Việt cuối thế kỷ 19 như của Genibrel hay Huỳnh Tịnh Của. Cả hai khái niệm hạnh và phúc đều là những điều may mắn, tốt đẹp đến từ bên ngoài. Như chữ bonheur, happines hay Gluck trong các tiếng Âu Tây. Quyền họa phúc trời tranh mất cả, Cung Oán Ngâm Khúc ; còn từ kép hạnh phúc là một cảm nhận nội tâm và chủ quan, cho dù cần hoàn cảnh khách quan yểm trợ. Ví dụ ta nói : con hơn cha là nhà có phúc ; nhưng chưa chắc gì đã hạnh phúc.

Nội hàm hiện đại của từ hạnh phúc du nhập từ Âu Tây, qua Trung Quốc, đến Việt Nam đã thay màu đổi sắc. Ở phương Tây, nó thừa hưởng tư tưởng Hy Lạp và Thiên Chúa giáo ; đến Việt Nam nó chịu ảnh hưởng tư tưởng Lão Trang và Phật giáo, thêm phần hồn hậu dân gian. Ví dụ, trường hợp Huy Cận, chịu nặng nề ảnh hưởng cả thi sĩ Pháp thế kỷ 19. Nhưng tư tưởng hạnh phúc trong Lửa Thiêng lại gần với các triết gia phiếm thần Pháp ở thế kỷ 18, và phảng phất không khí LãoTrang .

*

Từ lâu đời, Đông phương có truyền thống đi tìm an tịnh cho tâm hồn, thậm chí, đây còn là điều cốt lõi trong hiền triết phương Đông, mà ta có thể xem như là hạnh phúc theo nghĩa cao xa và chính đáng nhất. Tư tưởng cổ Hy Lạp cũng vậy và còn cụ thể hơn.

Vào thời bình minh của văn học nước ta, thơ văn thời Lý của các thiền sư tỏa rạng ánh sáng hạnh phúc, là việc đương nhiên. Đến đời Trần, danh tướng Trần quang Khải trong hai bài thơ Xuân đã đạt tới hai câu kết : đè nghiêng ngọn giáo đọc thơ chơi – Vỗ thanh gươm cũ nhớ non xưa (bản dịch Ngô Tất Tố), chí khí hào hùng mà thần thái thanh tịnh, có thể xem như là hình ảnh hàm súc, uyên áo nhất của hạnh phúc, hiểu theo nghĩa cao siêu thời đó.

Quốc Âm Thi Tập của Nguyễn Trãi là những bài ca hạnh phúc : núi láng giềng, chim bậu bạn, mây khách khứa, nguyệt anh tam (em) ; đây là niềm vui của bậc cao nhân, chan hòa trong trời đất và xã hội. Thơ chữ Hán cũng có bài diễn tả niềm vui đó :

Trại đầu Xuân độ
Độ đầu xuân thảo lục như yên
Xuân vũ thiêm lai thủy phách thiên
Dã kính hoang lương hành khách thiểu
Cô châu trấn nhật các sa miên

Xuân Diệu dịch thần tình :
Cỏ xuân đầu bến xanh như khói
Thêm hạt mưa xuân nước vỗ trời
Đường nội vắng xa hành khách ít
Thuyền côi các bãi suốt ngày ngơi

Bài thơ tả cảnh ông lái đò ngày xuân, không hiện thực. Vắng khách là ông lái thất thu, phải làm việc khác để sinh nhai, chứ không thể gác thuyền ngủ suốt ngày. Nhưng thơ hay, sâu sắc vì dự phóng giấc mơ hạnh phúc của tác giả. Giấc mơ có thiết tha, sâu sắc mới đưa đến một nguyên tác hay như thế, hay từ hình ảnh đến nhip điệu, âm thanh. Và Xuân Diệu phải tâm đắc và hạnh phúc lắm mới dịch hay như thế, nhất là câu cuối, một chuỗi âm thanh quyện vào nhau, dịu dặt, dìu dắt nhau đến một chữ « ngơi » cuối câu, hiếm hoi, thảnh thơi, tuyệt cú. Đọc hằng trăm trang luận bàn hạnh phúc, không sướng bằng gặp một chữ « ngơi » nơi Xuân Diệu hạnh phùng Nguyễn Trãi.

Nhưng người xưa, bên cạnh niềm vui lớn chan hoà trong trời đất, có khái niệm gì về niềm vui riêng lẻ giữa đôi lứa trong gia đình, như ngày nay ta thường hiểu hai chữ hạnh phúc ? Nhất định là có, như khi Nguyễn Du đối lập tình vợ chồng với tình bè bạn « đem tình cầm sắt đổi ra cầm kỳ, hay kết hợp « chuyện đôi lứa cũng là duyên bạn bầy. Ông mô tả gia đình Kim Trọng :
« một nhà phúc lộc gồm hai (…) một cây cù mộc, một sân quế hòe ». Thời ấy, các cụ chưa sử dụng từ hạnh phúc va chưa mô tả niềm vui gia đình một cách cụ thể. Nhưng có một lần, người cung nữ sống lạnh lẽo trong vách quế đã mơ ước cảnh sống bình dị, nhưng đầm ấm với chồng con : lau nhau ríu rít còn con cũng tình (Cung Oán Ngâm Khúc, câu 296). Mỗi chữ, mỗi chữ nôm na, dân dã, đều gợi hình gợi cảm, líu ríu gọi về một cảnh sống cụ thể « cục kịch nhà quê » (câu 299), ngày nay ta gọi là hạnh phúc.
Tuongcuop
Thế hệ văn thơ được gọi là tiền chiến quan tâm nhiều đến hạnh phúc, tiêu biểu là Huy Cận, trong tập Lửa Thiêng :
Hạnh phúc rất đơn sơ
Nhịp đời đi chậm rãi
Mái nhà yên bóng trưa
Ong hút chum hoa cải.

Chỉ trong hai mươi chữ, Huy Cận đã nói rất nhiều, dường như trọn vẹn về hạnh phúc – trước tiên là quan hệ tốt với thời gian, Khổ nạn lớn nhất của người đời và đời người là niềm hoảng hốt trước thời gian, hăm he, giằng xé, cướp bóc, tàn phá, bôi xóa. Nguyên lý của cuộc sống, thời gian lại là thành tố của hạnh phúc, nảy mầm, sinh lộc, đơm hoa, kết trái. Về hành phúc, tiếng Việt tinh vi, cùng một tư, nói « ung dung », nghe không thong thả bằng « thong dong », chữ « tháng ngày » không khoan thai như « ngày tháng ». Ngày tiên tháng Phật. Hạnh phúc còn là quan hệ đẹp với không gian, tiêu biểu là mái nhà, yên và ấm dưới bóng trưa. Và hoa cải nữa chứ ! . Màu hoa tươi sáng, đơn sơ và hiền hậu trong vườn, vườn tôi, vườn nghèo, vào một ngày chớm đông se lạnh. Con ong, bằng không gian và thời gian, biến nhụy hoa thành mật ngọt, vừa là quy luật, vừa là phép lạ của thiên nhiên. Mật ngọt là tinh hoa hạnh phúc của trần gian.

Mấy câu thơ này nằm trong bài Hối Hận, không có trong Tuyển Tập thơ Huy Cận, 1986. Thơ tuyển, cho dù của Huy Cận, không phải bao giờ cũng hạnh phúc.

Nhà thơ Pháp Aragon có tập thơ mang tên Văn xuôi về hạnh phúc và Elsa. Gọi là văn xuôi, tác giả ý muốn nói thơ của đời thường, ngày thường với vợ, và có câu nổi tiếng qua giọng hát Ferrat : ai nói hạnh phúc, đôi mắt thường buồn, vì chữ hạnh phúc thường gợi lại nguồn thương đã qua, nguồn vui đã mất, rười rượi một âm hưởng u hoài.

Người Việt Nam, sau hai cuộc chiến tranh dài, lại trải qua những gian nan, xiêu lạc. Nói đến hạnh phúc , không khỏi cảm giác ngỡ ngàng. Trong chiến tranh, giữa muôn ngàn thất bát, hạnh phúc là gì ? Không đặt laị câu hỏi đó là bạc tình, bạc nghĩa.

Nhà văn Dương thị Xuân Quý, phóng viên chiến trường, đã hy sinh tại mặt trận Quảng Nam ngày 8.3.1969, mấy ngày trước khi mất, bà con viết : may mắn tôi được có mặt, gặp nhiều nguy hiểm, nhưng vui kỳ lạ. Chồng bà, nhà thơ Bùi Minh Quốc, lấy họ vợ và tên con lam bút hiệu Dương Hy Ly, cùng chiến đấu trên một địa bàn, đã có Bài thơ về Hạnh Phúc làm ngay lúc đó :
Hạnh phúc là gì ?
Bao lần ta lúng túng
Hỏi nhau hoài mà nghĩ mãi chưa ra
Cho đến ngày cất bước đi xa
Miền Nam gọi, hai chúng mình có mặt

Hạnh phúc nơi đây là thực hiện một nhiệm vụ thiêng liêng, không quản ngại an nguy cho tính mệnh. Người cầm súng, người cầm bút :
Nơi ngọn bút nghe cuộc đời thôi thúc
Và em gọi đó là hạnh phúc

Một cảm xúc nhẹ thoáng
Trong một góc vườn cháy khét lửa na-pan
Em sửng sốt gặp một nhành hoa cúc
Và em gọi đó là hạnh phúc

Hạnh phúc bất ngờ, lung linh một đóa hoa vàng làm nhớ niềm vui của Quang Dũng, nơi một chiến trường khác

Nhớ một con đường biên giới
Nằm chờ giặc qua
Mũi súng kề bên cành cúc dại
(1954, không có trong các tuyển tập)

Và thơ Nguyễn đình Thi trên chiến trường Điện Biên Phủ, trên đồi A1 :

Ồ là khắp mặt đồi đen trụi
Hoa nghệ xôn xao nở tím hồng

Bất cứ ở đâu, hoàn cảnh nào, thì vẫn hạnh phúc rất đơn sơ, như ai đó một lần đã nói. Nhưng đơn sơ mỗi nơi, mỗi lần mỗi khác. Luận bàn từ đông sang tây, từ cổ chí kim, không khó. Nói về một chùm hoa cải, một cành cúc dại, một khóm hoa nghệ xôn xao khó hơn.

Trong định nghĩa nào đi nữa, hạnh phúc cũng tiềm tàng một cơ bản đạo đức, chữ hạnh, chữ phúc của người xưa đã vậy, ngày nay cũng vậy. Nói chung, hạnh phúc là đồng tình giữa con người và cuộc sống ; băt đầu từ cuộc sống của chính mình. Sau đó mới đến niềm vui trong một nhân gian không toàn thiện, một không gian không hoàn mỹ và một thời gian không vĩnh viễn.

Viết về hạnh phúc, mình phải hạnh phúc và làm cho người đọc hạnh phúc.

Đặng Tiến
Tết Dương lịch, 2007

Tuongcuop
Một bài nữa hay của Đặng Tiến về

Nguyễn bắc Sơn

Đọc lại thơ Miền Nam, ba mươi năm sau ngày chiến tranh kết liễu :


Mai ta đụng trận ta còn sống
Về ghé Sông Mao phá phách chơi
Chia sớt nỗi buồn cùng gái điếm
Đốt tiền mua vội một ngày vui


Đây là một đoạn thơ Nguyễn Bắc Sơn đã từng làm xao xuyến dư luận khi xuất hiện trên báo giới Sài Gòn khoảng 1970, như trên tuần báo Khởi Hành của hội Văn Nghệ Sĩ Quân Đội Việt Nam Cộng Hòa. Nhiều người đọc, nhất là giới thanh niên, ngạc nhiên và sảng khoái trước những lời thơ ngang tàng, bi tráng, ý thơ u uất, kiêu bạc, bất cần đời. Câu thơ phơi trải tâm trạng một lớp thanh niên Miền Nam, vào thời điểm quyết định của chiến tranh — và từ đó — làm chứng từ cho một khía cạnh của cuộc chiến kéo dài non hai mươi năm.

Tâm trạng kia và chứng từ nọ đã được ghi lại trong tập thơ Chiến Tranh Việt Nam và Tôi xuất bản năm 1972 1 thời đó đã ít người được đọc trực tiếp nguyên tác ; bây giờ dĩ nhiên là tuyệt bản. Năm nay nhiều cơ quan tổ chức kỷ niệm ba mươi năm chấm dứt chiến tranh (1975-2005), tưởng cũng nên đọc lại chứng từ Nguyễn Bắc Sơn. Thì may thay, các bạn ở nước ngoài đã sưu tầm và tái bản tập thơ để tặng biếu bạn bè. Đây là một việc làm cao đẹp, đi từ tình bằng hữu thủy chung và nồng nhiệt đến việc bảo tồn văn học lâu dài, bên ngoài mọi ý đồ chính trị. Thậm chí cái năm 2005 kỷ niệm này có lẽ cũng chỉ là tình cờ so với việc tái bản. Việc làm như thế đáng được giới thiệu rộng rãi và nhiệt thành cổ vũ.2

Nhiều người nhớ đoạn thơ nói trên vì tâm tư một thời đại, nhưng nó tồn tại lâu dài trong tâm thức người đọc là nhờ giá trị nghệ thuật — bên cạnh giá trị lịch sử mà không ai chối cãi. Điển hình cho thi pháp Nguyễn Bắc Sơn là từ vựng: câu đầu trên 7 chữ, đã có 5 từ diễn tả niềm hoang mang trước cuộc sống mỏng manh, bao quanh một chủ từ «ta» phù du hiu hắt ; «mai» là cuộc sống đếm từng ngày ; động từ «đụng» vừa chủ động: có đi mới đụng, vừa thụ động vì có tính cách tình cờ, tai hại ngoài ý muốn: «anh đi nhè nhẹ, đụng giường má hay». Người lính đụng trận như người thường đụng xe, đụng mưa; bình thường, chính xác hơn, người khác sẽ nói: đụng giặc, đụng địch. Nhưng trong thơ Nguyễn Bắc Sơn không thấy có đối phương. Trong câu sau Sông Mao là một thị trấn nổi danh vì chiến tranh: từ 1955 Sư Đoàn 5, người Nùng đóng ở đó, với khu gia binh di cư vào, và đời sống mang sắc thái riêng, về sau là các căn cứ quân sự Hoa Kỳ. Do đó địa danh Sông Mao, tự nó đã có âm hưởng chiến tranh, và quả thật nơi đấy «có nhiều nhà điếm và nhiều trại lính» (tr. 11) như lời thơ Nguyễn Bắc Sơn.

Nói phá phách chơi là phách lối chơi, nói cho hả, nói cho đã, chứ Nguyễn Bắc Sơn là binh nhì Địa phương Quân «hiền khô, lính cậu» thì sức vóc bao nhiêu mà phá phách, nhưng giọng thơ ngang tàng ở đây pha lẫn một ít Lương Sơn Bạc, Tiếu Ngạo Giang Hồ với tính cách lê dương mà tác giả, sinh năm 1944, còn ghi trong ký ức; «đốt tiền» cũng là lối nói ngông, như Nguyễn Bính «tiêu hoang cho đến hết», nhưng chữ «đốt» ngông cuồng, nóng nảy hơn, phục vụ đắc lực cho ý đồ «mua vội một ngày vui» với những âm môi m, v mấp máy và luyến láy, như hấp ta hấp tấp. Tâm tình tác giả buồn vui lẫn lộn, mâu thuẫn: chia sớt nỗi buồn nghĩa là nỗi buồn tràn bờ, nỗi buồn hiện hữu làm căn bản cho cuộc sống. Sau trận đánh còn sống, tự thân nó, chưa phải là niềm vui, cho nên phải đốt tiền để mua vui. Ở một bài thơ khác, tác giả nói rõ:



Một trẻ con mới sinh
Chắc gì là một điều đáng vui
Một người chết
Chắc gì đã là điều đáng tiếc (tr. 25)


Một câu thơ khác, hào sảng, bi tráng hơn:



Đời mình như ly rượu cạn,
Hắt toẹt đời đi chẳng nhíu mày (tr. 58)


Hắt toẹt là một hình ảnh khinh bạc chưa từng thấy trong thơ Việt Nam.

Đời đáng sống hay không đáng sống là câu hỏi đã ngàn năm của loài người. Nhưng ở mỗi thời điểm nó dấy lên nét bi đát riêng. Vào khoảng 1970 hơi thơ Nguyễn Bắc Sơn tính phi lý và bi kịch đã được chiến tranh, vào giai đoạn cuối, nâng tầm lên cao điểm.

Có nhiều lối nhìn khác nhau về bản chất cuộc chiến, thịnh hành nhất vẫn là lối nhìn từ bên chiến thắng. Đây là cách nhìn của Nguyễn Bắc Sơn:



Chiến tranh này cũng chỉ một trò chơi
Suy nghĩ làm gì lao tâm khổ trí
Lũ chúng ta sống một đời vô vị
Nên chọn rừng sâu núi cả đánh nhau
Mượn trời đất làm nơi đốt hỏa châu
Những cột khói giả rồng thiêng uốn khúc.


Đây là trò chơi súng đạn, sống chết và hai đối thủ xem nhau như cừu thù:



Kẻ thù ta ơi những đứa xăm mình
Ăn muối đá mà điên say chiến đấu
Ta vốn hiền khô ta là lính cậu
Đi hành quân rượu đế vẫn mang theo
Mang trong đầu những ý nghĩ trong veo
Xem cuộc chiến như tai trời ách nước
Ta bắn trúng ngươi vì ngươi bạc phước
Vì căn phần ngươi xui khiến đó thôi..


Đây là kinh nghiệm đánh chác:



Dừng chân nơi đây nói chuyện tiếu lâm chơi
Hãy tựa gốc cây, hãy ngắm mây trời
Hãy tưởng tượng mình đang đi pic nic
& Lúc này đây ta không thèm đánh giặc
Thèm uống chai bia, thèm châm điếu thuốc
Thèm ngọt ngào giọng hát em chim xanh.
(Trích từ bài Chiến Tranh Việt Nam và Tôi, tr. 38)


Sau cuộc chiến, nhà thơ Cao Tần di tản sang Mỹ, hồi tưởng lại đời lính, cũng chẳng khác chi Nguyễn Bắc Sơn:



Hai mươi tuổi ta đi làm chiến sĩ
Bước giày đinh lạng quạng một đời trai
Vừa đánh giặc vừa lừng khừng triết lý
Nhưng thằng này yêu nước chẳng thua ai
(Cảm Khoái, 1977) 3


Nguyễn Bắc Sơn không lừng khừng triết lý, mà để hồn mình bay bổng ra khỏi nhân gian:



Đêm nằm ngủ võng trên đồi cát
Nghe súng rừng xa nổ cắc cù
Chợt thấy trong lòng mình bát ngát
Nỗi buồn sương khói của mùa thu


Khổ thơ này cũng như đoạn «mai ta đụng trận» trích ở đầu bài nằm trong một bài thơ mang tên Mật khu Lê Hồng Phong, một chiến trường ác liệt, chạy dài khoảng 40 cây số dọc biển, từ Phan Thiết đến Phan Ri. Nơi đây, năm 1970 đã xảy ra nhiều cuộc ác chiến — phần nào để giải tỏa bớt sức ép của chiến trường Căm-Pu-Chia vừa mới mở ra. Trước trận Sông Mao này không lâu, thì Thiện Giáo, 1969, cũng là chiến trường ác liệt.



Chiều Thiện Giáo hồn mình đầy bóng núi
Con đường mìn ươm vết máu đơm khô


Nhưng nhà thơ «lao đao» vì bị lắc lư trong trực thăng nhiều hơn vì lo toan về chiến cuộc, vẫn thả hồn phiêu lãng:



Đêm ngủ đổ ngâm thơ cùng đại bác
Hồn lao đao trong chuyến trực thăng bay
Đâu có chắc mặt trời mai sẽ mọc
Trời rây mưa lành lạnh khiến thèm say


Và anh ngờ vực viễn tượng hòa bình — trước sau gì cũng phải đến với hòa hội Paris đang hứa hẹn:



Chiến tranh quá dài nên người quá khác
Không thể mừng vui khi tiếp rước hòa bình
Đêm đen quá dài nên người quá khác
Không thể nào tin sẽ có bình minh


Hai ông Sơn Trịnh và Sơn Nguyễn, cùng thế hệ, cùng tâm trạng nên có nhiều ý tưởng hao hao. Trịnh Công Sơn, 1968, cũng có hát: đêm nay hòa bình sao mắt mẹ chưa vui? Do đó, Nguyễn Bắc Sơn giữa chiến trận ngâm thơ cùng đại bác, đồng thời cũng lắng nghe:



Chảy trong lòng men nhạc Trịnh Công Sơn
Đêm không ngủ trong những ngày bão táp
Ôi những ngày máu ứa xác quê hương...
Tôi hởi tôi xin đừng chết nhé
Bóng hòa bình thấp thoáng ở miền Nam.
(tr. 45)


Thơ trích từ bài Nhắc đến Ma Lâm, một thị trấn gần Phan Thiết, địa danh nghe ma quái như con sông Ma Hý gần đó:



Buổi chiều uống nước đồng Ma Hý
Thằng Xuân bắn chết thằng Mang Khinh


Câu thơ nghe rờn rợn: Thằng Xuân, thằng Mang Khinh là ai? đồng đội hay đối phương? quan hệ thế nào với tác giả? Chữ “thằng” nghĩa là gì? bắn chết trong hoàn cảnh nào? Ở đây, sao cái chết dễ dàng quá, như trong một bài hát “chết chẳng hẹn hò, chết thật tình cờ, nằm chết như mơ”. Câu hát Sơn Trịnh là một hình ảnh văn học, ví von đúng quy cách, người nghe nắm bắt trọn vẹn ý nghĩa mà không thắc mắc. Trái với câu thơ Sơn Nguyễn trần trụi, bất ngờ. Bản thân tôi có kinh nghiệm đọc thơ, cảm nhận bi kịch trong câu thơ và nhận diện được câu thơ hay, mặc dù (hoặc bởi vì) không hiểu cặn kẽ ý nghĩa cụ thể của sự kiện được tường thuật. May mắn là được tác giả kể lại câu chuyện. Trong một cuộc hành quân cấp đại đội, anh đi làm thông dịch cho cố vấn Mỹ; đến một con suối thì dừng quân xuống tắm. Mang Khinh là một đồng đội gốc Chăm đứng chơi trên bờ. Xuân là trung đội trưởng, nghe thấy hay nhìn thấy động tĩnh gì đó, bèn lia một tràng đạn về phía khả nghi. Mang Khinh đứng chơi lớ ngớ bên bờ suối lãnh đủ băng đạn. Nhà thơ bơi nhởi trong lòng suối thì không việc gì, bàn luận về tử sinh, trong hai câu tiếp theo:



Hỡi ơi sống chết là mưa nắng
Gió tối mưa đêm chớ lạnh mình.
(tr.37)


Bài Thảo Khấu này, câu kết thật hay, bình thường nhưng thấm thía vì nhân đạo, nhưng cũng vì những cái chết phi lý mà Nguyễn Bắc Sơn đã kể ra tưng tửng:



Chiến chinh chinh chiến bao giờ dứt
Sắt đá ồ sao lại nhớ nhà
(tr. 37)


Nhạc Trịnh Công Sơn được người đời đặt tên là phản chiến. Nguyễn Bắc Sơn thẳng thừng tự xưng mình như vậy:



Trong thành phố này ta là người phản chiến
Ngày qua ngày ta chỉ thích đi câu (tr. 32)


Bài thơ mang một tiêu đề tiêu biểu: cười lên đi tiếng khóc bi hùng.

Lý do phản chiến thì nhiều: có khi vì lý tưởng hòa bình cao đẹp, có khi vì quan điểm chính trị, có khi vì sợ chết, sợ khổ. Nơi Nguyễn Bắc Sơn có thể còn lý do riêng: thân phụ anh đi kháng chiến chống Pháp, tập kết ra Bắc. Có thể ông lại vào Nam chiến đấu, và khách quan, có khả năng là đối tượng trước mũi súng Nguyễn Bắc Sơn, và anh khó bề dễ dàng, an nhiên “nhắm thẳng đầu thù mà bắn” như một khẩu hiệu có từ 1964.

Trong thực tế, ông cụ đã vào Nam chiến đấu “phía bên kia”, cùng trong một địa bàn với con, ở cương vị phó chủ nhiệm cục chính trị quân khu 6. Trung ương Tình Báo Việt Nam Cộng Hòa có lẽ cũng biết được nên đã đưa Nguyễn Bắc Sơn ra đơn vị chiến đấu. Sau ngày kết thúc chiến tranh, người cha đã trở về đoàn tụ với gia đình, trên cấp bực đại tá quân đội nhân dân. Ông có bao che cho con cái và bạn bè của con, trong cùng cảnh ngộ, như Lê Mai Lĩnh bị tù cải tạo đến cuối 1983, gần đây còn chân thành kể lại.4

Ông cụ qua đời trong một tai nạn xe hơi đã gây nhiều nghi vấn. Nguyễn Bắc Sơn có làm bài thơ nhớ bố:



Bố tôi qua đời đúng năm năm
Tôi viết thơ này
Để tâm sự cùng người khuất núi
Bố tôi ước mơ làm cho loài người sung sướng
Và thế là ông từ tuổi thanh xuân
Cùng bạn bè đi làm cách mạng
Ông càng làm cách mạng chừng nào
Thì loài người càng thêm sặc máu

Tôi ước mơ cõi đời tốt đẹp
Và thế là tôi làm thơ ca tụng loài người
Tôi càng ca tụng chừng nào
Thì loài người càng xấu xa chừng nấy.

Bố ơi bố đã ra về
Con ở lại làm thơ và chữa bịnh
Chúng ta đến nơi này để phát huy một tấm lòng son
Thành hay bại chỉ là chuyện vặt.
(Trích theo Lê Mai Lĩnh, số báo đã dẫn)
Tuongcuop

Cái chết của Mang Khinh và hoàn cảnh bố con Nguyễn Bắc Sơn nhắc lại một câu chuyện Võ Phiến kể, cũng trong năm 1972, trong đó anh tóm tắt số phận người dân Việt Nam trong ba mươi năm chiến tranh, qua cái chết của hai anh em nhà kia, trong một câu súc tích, ngắn gọn đến tàn nhẫn “kể chết do cối, người chết do câu”5. Câu chuyện như sau: có hai anh em nhà kia, người anh đi dân vệ ở trong đồn, chết vì đạn súng cối bên ngoài nả vào, gọi là “mọt thụt” ; đứa em nhỏ lui cui trong vườn trúng đạn trọng pháo trong đồn “câu” ra. Rồi Võ Phiến thắc mắc: kẻ chết do cối người chết do câu, đố ai biết được giữa địch ấy và ta ấy, có cái gì khác nhau trong “tư tưởng”. Nhưng không phải vì lẽ không tìm được sự khác nhau mà bà con trong làng không giết nhau. (bài đã dẫn).

Võ Phiến là nhà văn chững chạc, lập trường kiên định, không giống Nguyễn Bắc Sơn, kẻ làm thơ đôi khi biến thành du đãng ; nhưng cái nhìn về cuộc chiến, trên cơ bản, không khác nhà thơ. Vì vậy, từ 1970, Võ Phiến đã có bài giới thiệu thơ Nguyễn Bắc Sơn trên báo Bách Khoa, số Xuân Canh Tuất, 1970, in lại trong Chúng Ta Qua Cách Viết, 1972. Năm 1994, ở Mỹ, anh còn viết bài ca ngợi thơ mới làm sau này của Nguyễn Bắc Sơn mà dường như anh không quen biết.6

*

Chiến tranh, sau này ta mới biết, để lại những vết thương nan y, trên cơ thể và trong tâm hồn. Không cứ gì ở Việt Nam mà còn hoành hành nhiều nơi khác trên thế giới. Nguyễn Bắc Sơn đã tiên cảm được điều này:



Ta mắc bệnh ung thư thời chiến
Thoi thóp còn một trái tim khô
Sợ hãi con người hơn thú dữ
Nhìn nơi nào cũng thấy hư vô

Mai kia trong những ngày ngưng chiến
Ta chắc rằng không thể yêu ai
Nhà thương điên nếu còn chỗ trống
Xin chiếc giường cho xác tàn phai.
(tr. 52)


Nhưng rồi chiến tranh kết thúc, nhà thơ vẫn sống bình thường, bên cạnh vợ con, trong ngôi nhà xưa, thành phố cũ là Phan Thiết:



Ta may mắn tay chân lành lặn
Nhưng tâm hồn trống rỗng bơ vơ
Mỗi ngày chữa bệnh bằng ly rượu
Tối nằm đánh vật với cơn mơ. (tr. 51)


Thỉnh thoảng trong đêm mù thác loạn, Nguyễn Bắc Sơn có những cơn khủng hoảng, nghe đâu có nhảy lầu tự tử hụt đôi ba phen. Nhưng thơ anh, như bài Tâm Hồn Trẻ Thơ kể chuyên đi hớt tóc, làm khoảng 1990, vẫn còn hào khí sung mãn, đoạn cuối thanh thản:



Dường như đứa trẻ nghìn năm trước
Bây giờ đây vẫn trẻ trong ta
Khi về râu tóc còn nguyên vẹn
Một ngày loáng thoáng một ngày qua.


Một đứa trẻ con, một Lão Ngoan Đồng nào đó, hay sao Thiên Đồng đã cứu mạng Nguyễn Bắc Sơn, và giải thoát nhiều người trong mỗi chúng ta.

*

Thơ có tuổi và chiêm bao có tích, Hàn Mạc Tử nói thế, chắc cũng là cao hứng, nhưng câu thơ gợi lên một chân lý thâm hậu. Thơ Nguyễn Bắc Sơn cũng như bất cứ dòng thi ca nào đều có cội nguồn, đều đón nhận những mạch nước gần xa. Nguyễn Bắc Sơn suốt đời quanh quẩn trong quê nhà Bình Thuận, hành quân, đánh chác loanh quanh những Sông Lũy, Ma Lâm. Về mặt địa dư nguồn thơ hào sảng, ngang tàng, gần anh nhất là bài thơ Tống Biệt do Phan Khôi trích dẫn của một thi nhân Bình Thuận:



Trái mù u trên núi
Chạy xuống cửa Phan Rang
Ông đi về ngoài nớ
Trong lòng tôi chẳng an.
Bao giờ ông trở vô
Gặp tôi ở giữa đàng
Nắm tay nói chuyện chơi
Uống rượu cười nghênh ngang 7


Phan Khôi không tiết lộ tên tác giả, đời sau cứ xem như là thơ Phan Khôi, vì giọng thơ ngang tàng giống ông.

Bài thơ tân kỳ, hào hứng ; từ vựng hồn nhiên, mới mẻ, nhịp thơ phóng túng, nhanh nhẹn, khí thơ đi liền một mạch ; thơ làm vào những năm 1930 mà ngày nay ta vẫn thấy mới lạ. Và cái hào khí ở đây không khỏi nhắc ta nhà thơ Bình Thuận Nguyễn Bắc Sơn.

Lần lên xa hơn nữa, theo lịch sử thì thơ cổ Trung Quốc đã có truyền thống trầm hùng, nhiều trước tác về chiến tranh như bài Văn điếu Chiến Trường Cũ của Lý Hoa, đầu đời Đường, nhưng được truyền tụng nhiều nhất là thi phẩm của Phái Biên Tái như Sầm Tham, Cao Thích. Gần Nguyễn Bắc Sơn nhất là bài Lương Châu Từ của Vương Hàn:



Bồ đào mỹ tửu dạ quang bôi
Dục ẩm tỳ bà mã thượng thôi
Túy ngọa sa trường quân mạc tiếu
Cổ lai chinh chiến kỷ nhân hồi

Phỏng dịch:
Rượu hồng đêm ngọc chén lưu ly
Men bốc tỳ bà ngựa dục đi,
Dặm cát say khoèo ai chớ riễu
Những bao chinh chiến những ai về.


Nguyễn Bắc Sơn cũng có tâm tình na ná:



Ngày vui đời lính vô cùng ngắn
Mặt trời thoáng đã ở phương Tây
Nếu ta lỡ chết vì say rượu
Linh Hồn chắc sẽ thành mây bay
(Mật khu Lê Hồng Phong)


Thơ chinh chiến của cổ nhân là thơ quan quyền; ra quân phải có nhạc tỳ bà trên lưng ngựa; rượu thì phải Bồ Đào. Thơ Nguyễn Bắc Sơn là thơ lính, ra quân không đua đòi Mỹ Tửu nhưng phải có “đế Nùng” đặc sản do người Nùng địa phương Sông Mao sản xuất từ các trại gia binh.



Khi tao đi lãnh khẩu phần
Mày đi mua rượu đế Nùng cho tao
Chúng mình nhậu để trừ hao
Bảy ngày sắp đến nghêu ngao trong rừng
Mùa này gió núi mưa bưng
Trong lòng thiếu rượu anh hùng nhát gan
Mùa này gió bụi mưa ngàn
Trong lòng thiếu rượu hoang mang nhớ nhà (Một Tiếng đồng hồ trước khi lên đường hành quân)


Ý thơ bình dị, lời dân dã, nhưng vẫn một giọng ngông nghênh, phúng thế và khắc họa một hình ảnh trong tâm lý thời chiến.

Trong dòng thơ Việt Nam, tác gia gần Nguyễn Bắc Sơn nhất có lẽ là Tú Xương, với lối thơ ông tớp rượu vào ông nói ngông. Tú Xương dùng thể tự sự, tự riễu mình để mô tả thời thế. Lời thơ chua cay, khinh mạn:



Hán tự chẳng biết Hán
Tây tự chảng biết Tây
Quốc ngữ cũng dốt đặc
Thôi thì về đi cày

Trồng khoai rồi trồng đậu
Cấy chiêm lại cấy mùa
Ăn không hết thì bán
Bán đã có Tây mua.

Được tiền thì mua rượu
Rượu say rồi cưỡi trâu
Cưỡi trâu thế mà vững
Có ngã cũng không đau.

Tuongcuop

Từ cách xử lý cuộc đời, lối nhìn vào xã hội, đến cách sử dụng ngôn ngữ, Tư Xương báo trước một Nguyễn Bắc Sơn, “thằng ta đây”:



Bạn mày nằm nhà thất nghiệp dài
Mẹ già không tính tiền cơm thuốc
Ngày xưa văn nghệ ta mê làm
Cách mệnh còn hăng say vượt bực
Giờ tối nằm mơ chỉ thấy tiền
Nhân nghĩa gì gì quên tuốt luốt
Thèm tiền song quả đứa vô tài
Nên thằng ta đây chỉ có nước
Mỗi tuần một vé số mười đồng
Thê thảm ôi làm sao tả được
Hai ta cùng quẩn như thế này
Nhắc làm chi nữa cho tủi nhục
Vậy xem như mình đã chết rồi
Chí lớn mộng to đều đã vứt
Quên trời quên đất quên luôn ta
Dăm đồng rượu trắng cùng say khướt
(Bài Hát Khổ Nhục, tr. 56)


Bạn ở đây là một người lính từ chiến trường về: thất thểu chỉ còn xương với cốt / chinh chiến sao mày không chết tốt.

Trong văn chương truyền thống, tình bạn thường là quan hệ trí thức: tri âm như Bá Nha, Tử Kỳ, tri kỷ như Montaigne, La Boetie, khoa giáp như Nguyễn Khuyến, Dương Khuê. Dù có phải bưng thúng theo đàn bà, thì Nguyễn Vỹ và Trương Tửu vẫn tự hào về nghề văn nghiệp bút. Gần Nguyễn Bắc Sơn hơn, Hoàng trúc Ly có viết Ngươi bên chân trời đánh giặc mướn / Ta theo cuộc đời đi viết thuê thì hành trạng, hành trang vẫn trí thức.

Trong thơ Nguyễn Bắc Sơn, tình bạn không có quy chế xã hội, bạn bè là một lớp bụi đời, bên lề xã hội, bên lề đường chinh chiến, như hạt bụi nằm con gió trớt. Họ là những mảnh vỡ mà cuộc đời vun lại bên nhau:



Có khi nghĩ trời sinh một mình ta là đủ
Vì đám đông quậy bẩn nước hồ đời
Nhưng lại nghĩ trời sinh thêm bè bạn
Để quàng vai ấm áp cuộc rong chơi
(Mai sau dù có bao giờ, tr. 30)

Thậm chí tình yêu cũng vậy, nó nằm ngoài quy chế văn học dù truyền thống hay lãng mạn, tân thời:
Ta vốn ghét đàn bà như ghét cứt
Nhưng vì sao ta lại yêu em ?
Ôi mắt em nhìn như là bẫy chuột
Ta quàng xiên nên đã sa chân


Chuyện tình yêu bẫy chuột này trích từ bài Trên đường tới nhà Xuân Hồng, tức là phu nhân tao khang của nhà thơ từ xưa đến nay.

Trong dòng thơ ngang tàng trước Nguyễn Bắc Sơn phải nhớ Độc Hành Ca của Trần Huyền Trân làm năm 1940:



Nhớ xưa cùng dỗ bụi giầy
Vỗ đùi ha hả thơ mày rượu tao
& Đưa nhau qua bữa cơm nghèo
Đứa sầu gào rượu đứa nheo mắt cười
Vung tay như vạch ngang trời
Bảo rằng đâu nữa cái thời ngất ngư


Trong trường phái khí phách giang hồ này Thâm Tâm có bài Tống Biệt Hành nhiều người biết, ông còn những bài Tráng Ca, Vọng Nhân Hành, và nhất là Can Trường Hành, báo hiệu Nguyễn Bắc Sơn



Phiếm du mấy chốc đời như mộng
Ném chén cười cho đã mắt ta
Thà với mãng phu ngoài bến nước
Uống dăm chén rượu, quăng tay thước
Cái sống ngang tàng quen bốc men


Vào thời điểm bài thơ này, 1944, Nguyễn Bính vốn thân thiết với Thâm Tâm, Trần Huyền Trân, đã sáng tác bài Hành Phương Nam nổi tiếng, trong cùng một nguồn thi hứng :



Ta đi nhưng biết về đâu chứ
Đã dấy phong yên khắp bốn trời
Thà cứ ở đây ngồi giữa chợ
Uống say mà gọi thế nhân ơi


Nhưng trong lối thơ chếnh choáng hơi men này, đặc biệt nhất — không phải hay nhất — là bài Gửi Trương Tửu mà Nguyễn Vỹ sáng tác trong cơn say, trộn lẫn văn chương với chả cá.

Chúng tôi nghĩ: đặt Nguyễn Bắc Sơn vào một dòng thi ca đã trường lưu, là một cách đánh giá nghiêm chỉnh và thông thoáng một tài thơ được khoanh vùng trong một hoàn cảnh chính trị và xã hội hạn hẹp. Và cũng giúp ích cho người đọc thưởng thức văn chương bên ngoài những chấn động của lịch sử.

*

Vào khoảng 1970, khi thơ Nguyễn Bắc Sơn xuất hiện và gây ngạc nhiên, nhiều người cho rằng có hơi hướm thơ Quang Dũng, có lẽ vì đề tài chiến tranh và lời thơ bi tráng. Nhưng xét kỹ thì không đúng: thơ Quang Dũng lãng mạn và lý tưởng, thơ Nguyễn Bắc Sơn ngược lại, phi lãng mạn và phi lý tưởng. So với các nhà thơ khác, mà chúng tôi vừa trích dẫn, thơ Nguyễn Bắc Sơn cũng có nét khu biệt, là chất bụi đời, mà nhà thơ tự cho là “du đãng”. Tống Biệt Hành là thơ để đời ; Nguyễn Bắc Sơn là thơ bụi đời. Độc Hành Ca là loại thơ “miếu đền”, Nguyễn Bắc Sơn là thơ lề đường, quán sá. Xã hội, hoàn cảnh Miền Nam thời đó đã tạo một nguồn cảm hứng như thế và chỗ đứng cho một thể loại bất cần đời như thế. Và dư luận thời đó, của những nhà văn tên tuổi có thế lực văn học, lập trường chính trị vững vàng, như Võ Phiến trên Bách Khoa, Chu Tử trên báo Sống, Doãn Quốc Sĩ trên báo Văn, đã đồng loạt hoanh nghênh.8

Sau 1975 Nguyễn Bắc Sơn có bài Một Ngày Nhàn Rỗi:



Buổi sáng mang tiền đi hớt tóc
Vô tình ngang một quán cà phê
Giang hồ hảo hán dăm thằng bạn
Mải mê tán dóc chẳng cho về

Về đâu, đâu cũng là đâu đó
Đâu cũng đìu hiu đất Hán Hồ
Hớt tóc cạo râu là chuyện nhỏ
Ba nghìn thế giới cũng chưa to


Vẫn một giọng thơ, một cốt cách, một phong thái. Võ Phiến, hai mươi năm sau cuộc chiến, có đủ bình tâm và khoảng cách để nhìn lại thơ văn và tâm tình một thời đại và thông hiểu thấu đáo hiện tượng Nguyễn Bắc Sơn, trước sau như nhất, “cũng cái ngông nghênh ấy” :

“Ngày trước trong chiến tranh, ông kể chuyện chơi trò nổ súng cắc cù rất độc đáo ; ngày nay hòa bình thiên hạ hớt hơ hớt hải lăn xả vào cuộc giành giật đồng tiền, thì ông nói chuyện hớt tóc cạo râu : lại rất độc đáo.

Thành thử giữa ông Nguyễn Bắc Sơn trong chiến tranh và ông Nguyễn Bắc Sơn sau chiến tranh vẫn có một chỗ nhất trí. Tuy hai mà một. Do hoàn cảnh khác nhau nên đề tài câu chuyện khác nhau; nhưng phong thái vẫn một thôi. Phong thái ấy khiến cho thời chiến ông là kẻ phản chiến, thời bình ông thành kẻ phản lao động. Thực ra thơ ông phát biểu về một thái độ sống, không phải chỉ là một thái độ đánh nhau hay một thái độ làm lụng. Sống là nhẹ, không phải chỉ riêng : đánh nhau là giỡn, là nhẹ. Đời không có nghĩa phải quấy. Một khi đời đã không có nghĩa, thì mọi hoạt động ở đời (kể cả chiến tranh) đều vô nghĩa. Hoặc giả nó có được trao cho ý nghĩa thì ông cũng không lý đến. Hớt tóc cạo râu là chuyện nhỏ; bắn nhau cắc cụp lỡ có trúng đạn chết tươi cũng là chuyện nhỏ thôi”.(1994) 9

Làm sao mà Võ Phiến có thể viết sành sõi ngon lành như thế về Nguyễn Bắc Sơn? Xin thưa: vì anh tự viết về mình đó thôi. “Đời không có nghĩa phải quấy” là tư tưởng của Võ Phiến, là sợi chỉ xuyên qua nhiều tác phẩm của anh. Nhưng áp dụng vào thơ Nguyễn Bắc Sơn thì đúng boong.

Nói vậy để thấy rằng tâm tình Nguyễn Bắc Sơn gửi gắm qua thơ là phổ biến, là niềm phân vân tự nhiên của nhiều người, của con người trước cuộc sống. Cơn bão lịch sử đã thổi tạt cái bình thường đến chỗ lạ thường, biến thành biệt lệ văn học: sắt đá ồ sao lại nhớ nhà...

Tâm tình ấy được Nguyễn Bắc Sơn diễn đạt bằng một phong cách nghệ thuật tài hoa, vừa hồn nhiên vừa bi tráng. Kinh nghiệm sống chết hằng ngày được thăng hoa qua một thi pháp tươi trẻ mà già dặn.

Tác phẩm Nguyễn Bắc Sơn, bên dưới những chứng từ lịch sử, là những bài thơ hay, trong lối văn “thốn tâm thiên cổ ”.

Tấc lòng lưu vọng ngàn năm.

ĐẶNG TIẾN

Orléans, ngày 11/9/2005
Tuongcuop

Lời bàn của Maotuongcuop:


Đã có hơn một lần, khi chạm phải thi sĩ N.B.S cũng như Du tử Lê ( chẳng hạn) cho tôi một thế giới chưa quen. Tôi chợt nhớ sau 75 tới thăm một bạn học của cha tôi, một kiến trúc sư thời tây, ngỗi quấn thuốc lá Ba Số giả, kiếm sống ở Sài Gòn, tôi bõng nghĩ, nếu ko có cha mình giới thiệu hôm nay, mình sẽ nghĩ gì trước ông già như vậy?

Ở Hải NGoại, nhiều người đã cầm bút viết về ông N.B.Sơn, song tôi cho là đoạn sau của Đặng Tiến là một nhận xét bao quát mà lại chấm phá, gây ấn tượng cho tôi nhất:


Vào khoảng 1970, khi thơ Nguyễn Bắc Sơn xuất hiện và gây ngạc nhiên, nhiều người cho rằng có hơi hướm thơ Quang Dũng, có lẽ vì đề tài chiến tranh và lời thơ bi tráng. Nhưng xét kỹ thì không đúng: thơ Quang Dũng lãng mạn và lý tưởng, thơ Nguyễn Bắc Sơn ngược lại, phi lãng mạn và phi lý tưởng. So với các nhà thơ khác, mà chúng tôi vừa trích dẫn, thơ Nguyễn Bắc Sơn cũng có nét khu biệt, là chất bụi đời, mà nhà thơ tự cho là “du đãng”. Tống Biệt Hành là thơ để đời ; Nguyễn Bắc Sơn là thơ bụi đời.[B]
Evil
Oh, bây giờ em mới nhận ra là em chưa bao giờ đọc thơ của 'phía bên kia'. Bài viết hay và thơ cũng hay. Bạn lớn ơi (vì hôm nọ bác gọi em là bạn nhỏ ohgirl.gif ), bạn lại cho tớ xin link của tập thơ Nguyễn Bắc Sơn nhé.
Tuongcuop
QUOTE(Evil @ Apr 25 2007, 04:25 PM)
Oh, bây giờ em mới nhận ra là em chưa bao giờ đọc thơ của 'phía bên kia'. Bài viết hay và thơ cũng hay. Bạn lớn ơi (vì hôm nọ bác gọi em là bạn nhỏ  ohgirl.gif ), bạn lại cho tớ xin link của tập thơ Nguyễn Bắc Sơn nhé.
*



laugh1.gif
Evit@
Rất tiếc, tôi ko có . Hãy vào trang Dactrung va vietnamthuquan...
Danh vao ten tac gia. Tim nua o google. ...Aen khế phải trèo... v.gif
Tuongcuop
Khi nhà thơ Tố Hữu mất, Đặng Tiến có viết thư cho nhiều người, hỏi sự ảnh hưởng của thơ Tố Hữu...

Cũng khi ấy và cả tới khi giỗ đầu nhà thơ Tố Hữu, nhiều người viết, cả trong ngoài nước viết bài về ông.

Đọc nhiều bài viết ở hải ngoại, nhiều người thiên về chính trị, tìm cách hạ thấp phần thi sĩ của Tố Hữu.

Tất nhiên trong nước đa phần các nhà phê bình đều đánh giá cao sự đóng góp của thơ Tố Hữu với một giai đoạn thơ cách mạng...Tôi nhớ không lầm khi đó, ông Đặng Tiến, với tư cách một nhà phê bình, tuy không đồng chinh kiến với nhiều người trong nước, bất chấp thị phi ở ngoài nước, đã viết bài viết sau đây. Tôi đánh giá bài viết này đúng với tuyên ngôn của ông: Xét người phải xét từng việc...

Ở một dị bản khác nữa, mà ông từng gửi cho tôi- đọc chơi như cách ông nói-ông viết đại ý:

- .....Ở Việt Nam có cụ Nguyễn Du với Truyện Kiều đã làm lay động bao tâm hồn, an ủi bao số phận..Thơ Tố Hữu, một thời làm thay đổi nhiều số phận.

Tôi không hiểu vì sao ý kiến nói trên lại bị Đặng bỏ đi khi văn bản này vừa công bố lại...Tôi cho rằng, ý kiến được viết ở văn bản ông dành cho tôi, xác đáng bởi vì trong thực tế, thơ Tố Hữu cái thời đó, chống Pháp và cả chống mĩ... ảnh hưởng không ít tới nhiều tầng lớp, ko ít người đã từ bỏ làng, từ bỏ nhà đi kháng chiến, thậm chí có người từ bỏ cả nguồn gốc giai cấp của họ để theo cách mạng.

Nhưng dù lược bớt ý kiến ấy đi thì bài viết sau của Đặng Tiến về cố thi sĩ Tố Hữu vẫn là một bài viết sâu sắc và đáng trân trọng. Trong bài viết này, không những ông khắc họa gần đầy đủ chi tiết các giai đoạn thơ của Tố Hữu, ko chỉ đánh giá sự đóng góp của Tố Hữu có vai trò lớn lao với nền thi ca ở Việt Nam mà còn đưa ra nhiều góc chiếu mà người viết khác không nhìn thấy ở thi sĩ cách mạng này...

Cũng lại vẫn ông và chỉ ông, từ một bài phê bình, ông đưa ra những suy nghĩ riêng, có tính khái quat và đầy suy ngẫm về đời người, như ở câu kết của bài viết...

Đặng Tiến


Tố Hữu (1920-2002)
[SIZE=7]

Nhà thơ Tố Hữu, qua đời ngày 9 tháng 12 năm 2002, thọ 82 tuổi, là một tác gia chủ yếu trong nền văn học, thi ca Việt Nam thế kỷ XX.

Trước tác của ông cơ bản là thơ chính trị, đấu tranh cho độc lập, thống nhất đất nước, ngợi ca dân tộc, đề cao lý tưởng cộng sản và chủ nghĩa xã hội. Như vậy, dĩ nhiên là nhiều người thích hoặc không thích.

Kẻ thích trong giai đoạn đấu tranh, một khi mục tiêu đã hoàn tất thì bớt thích. Người chuộng những bài thơ ngợi ca lý tưởng – dù có khác chính kiến – cũng dè dặt với những câu sắt máu hay quá khích. Loại thơ ngợi ca dân tộc và đất nước trước kia, bây giờ đọc lại thấy nhàm chán, dễ dãi. Người yêu chuộng thi ca một thời cho thơ Tố Hữu là mới mẻ thiết thực, bây giờ thấy cũ kỹ thiếu sáng tạo và hiện đại. Xưa kia Tố Hữu làm thơ cách mạng, bây giờ ông được xem như là tác giả bảo thủ, từ hình thức đến nội dung.

Phía khác chính kiến, dĩ nhiên lắm kẻ không ưa, thậm chí còn thù oán. Họ thường cố công trích dẫn mấy câu vần vè tuyên truyền quá khích để bêu riếu.

Ở đời, những cái thời thượng, quá đáng thường chóng qua, bên nào cũng vậy. Văn học lâu dài công bình hơn.


*
Tuongcuop
Vấn đề đầu tiên là thơ chính trị.

Nhiều người không ưa, và không nhất thiết vì bất đồng chính kiến. Mà vì họ quan niệm thơ là cái gì đó, mơ mộng và thoát tục. Thơ chính trị hay chính luận là tuyên truyền, giống như quảng cáo. Thậm chí còn tệ hơn quảng cáo: thuận tai thì độc hại, nghịch nhĩ thì khiêu khích, chính luận mà chỉ gây dửng dưng là thơ dở. Đây là giá rất đắt mà người làm thơ phải trả.

Sự thật, chính trị là thành phần cuộc sống, nhất là của dân tộc Việt Nam trong nửa thế kỷ – thời gian sáng tác của Tố Hữu – phải thường xuyên tranh đấu cho sự sống còn của đất nước. Thơ cũng là thành phần của cuộc sống đó. Một bộ phận của cơ thể không thể không lay chuyển theo các bộ phận khác. Chính trị ở đây, không phải là chính quyền, hay kỹ thuật quản lý một đoàn thể hay quốc gia, mà hiểu theo nghĩa rộng, là tương quan giữa con người và xã hội, là ý thức cá nhân trong cộng đồng, dân tộc và đất nước. Nó phải biết đau nỗi đau trời đất, buồn nỗi buồn thiêng của núi sông như lời thơ Vũ Hoàng Chương. Thơ gắn liền với số phận con người – mà con người lại gắn bó thân phận mình với dân tộc. Điều đó hiển nhiên. Giản dị hơn nữa, thơ hay không phải nhờ vào chính trị, và dở không phải bởi vì chính luận. Loại trừ chính luận ra khỏi văn thơ thì sự nghiệp văn học của Nguyễn Trãi sẽ teo lại không còn là bao, và kẻ hụt hẫng nhất sẽ là... Lý Thường Kiệt.

Tố Hữu, xuất thân từ phong trào Thơ Mới 1932-1945, đã có công tạo một nội dung mới cho phong trào này, đã đưa phong trào Thơ Mới vào sự nghiệp giải phóng dân tộc – dĩ nhiên là với nhiều tác giả khác – nhưng ông là mũi tiên phong. Với thơ Tố Hữu, những Mẹ Tơm, Mẹ Suốt đã đi vào rừng sâu, ngục tối, và dáng dấp Nàng Thơ đã thay xiêm đổi áo. Thơ đã thật sự đến với quần chúng, theo những bước chân, đi không dấu, nấu không khói, nói không tiếng, đã biết với nhân dân “cùng đổ mồ hôi cùng sôi giọt máu”. Các nhà thơ thường ảo tưởng về “thiên chức” của mình, tự phong làm những ngọn “hải đăng” cho nhân loại. Nhưng ai đọc các Ngài? Có người còn ảo tưởng: dân tộc Việt Nam yêu thơ. Nhưng yêu thơ gì, ngoài những vần vè ê a ấp úng trong các dịp hiếu hỉ, tửu hậu trà dư? Hai nguồn ảo tưởng ấy đã kết duyên, thành đôi thành lứa, nương tựa vào nhau mà sống. Một hạnh phúc vần vè trên ngộ nhận. Thơ Tố Hữu với những thành tựu và hạn chế, đã thật sự đi vào quần chúng thuộc nhiều giai tầng xã hội khác nhau, trong một thời gian dài, trong gian truân và khói lửa. Nói rằng thơ Tố Hữu đã xẻ dọc Trường Sơn đi cứu nước thì quá đáng, nhưng đã cụ thể tham dự vào đời sống gian lao của dân tộc.

Tố Hữu sử dụng thơ trong mục đích chính trị, cái đó đã rõ; nhưng đồng thời và vô hình trung, ông đã sử dụng chính trị làm đòn bẩy cho thi ca. Còn về sau, thơ hay hoặc dở, không còn tùy thuộc ông ấy, cho dù ông có phần trách nhiệm chỉ đạo.

Trong đặc tính của nó, thơ không có chức năng thông tin, mà phục vụ chức năng thẩm mỹ của ngôn ngữ. Đúng. Nhưng đã mấy người hiểu? Người nghe, đọc thơ, trước hết là đón nhận thông tin, về sau, về lâu về dài, mới ý thức được phẩm chất thẩm mỹ của ngôn ngữ. Trăm năm trong cõi người ta là một câu thơ xoàng, chữ tài chữ mệnh khéo là ghét nhau là một thông tin lẩn thẩn, cuộc đời Thúy Kiều là chuyện vẩn vơ, nhưng tác phẩm Truyện Kiều đã làm giàu ngôn ngữ và tâm hồn Việt Nam; thơ cách mạng, thơ kháng chiến nhắm mục đích tuyên truyền và thực dụng, nhưng sau khi tuyên truyền, nó lưu lại một dư vị thẩm mỹ trong ngôn ngữ người dân – như vậy là đã đóng góp vào sự nghiệp thi ca nói chung. Hiểu theo tinh thần này, công bình mà nói thì thơ Tố Hữu – trong những hạn chế – đã có những đóng góp tích cực vào nền thi ca Việt Nam, trên ba mặt: củng cố, phổ biến và phát huy.

Thơ Tố Hữu không cách tân thi pháp, nhưng phát huy chức năng xã hội và đa hiệu khả năng truyền thông của thi ca. Nó không làm mới, mà có làm giàu.

Tuongcuop

*


Chữ tài, trong nghệ thuật, là một khái niệm phức tạp. Thành công, ít nhất về mặt xã hội, như Tố Hữu, thì nhất định là phải có tài. Ông đã khéo chọn và chọn đúng đường đi. Thơ ông phục vụ chính trị và lịch sử, và ngược lại lịch sử và chính trị cũng phục vụ lại thơ ông. Trong lịch sử, nếu không có những cuộc chiến tranh giải phóng thì vẫn có một Eluard hay Aragon tầm cỡ, và cũng sẽ có một Tố Hữu, nhưng một Tố Hữu tầm tầm. Trong Thi nhân Việt Nam, viết 1941, xuất bản 1942, Hoài Thanh không một lần nhắc tên Tố Hữu, mà ông có biết, và đã bị phiền trách sau nầy. Nhưng là trách oan. Lối trách người này để nịnh người kia. Mãi về sau, Cách mạng tháng Tám 1945 mới tạo tư thế và nâng cao tầm cỡ cho thơ Tố Hữu.

Tố Hữu là người có tài và có ý thức về thi pháp, thậm chí có khả năng cách tân thơ. Tiếc là đã không làm. Trong bài “Huế tháng Tám”, 1945, ông đã viết:

Cổ ta ré trăm trận cười trận khóc
... Te hét huyên thiên ta chạy khắp nhà
... Ngực lép bốn nghìn năm. Trưa nay gió mạnh
Thổi phồng lên. Tim bỗng hóa mặt trời
Có con chim nào trong tóc nhảy nhót hót chơi...

Nhưng Hồ Chí Minh, ngay sau đó, đã gay gắt phê phán. Và dĩ nhiên, ông Tố Hữu nhà thơ phải nhường chiếu cho ông Tố Hữu đảng viên cao cấp. Thỉnh thoảng, có lúc ông nhà thơ khẽ khàng:

Tôi ở Vĩnh Yên lên
Anh trên Sơn Cốt xuống
Gặp nhau lưng đèo Nhe
Bóng tre trùm mát rượi
...
Ta đánh giặc chạy re
Hai đứa cười ha hả
...
Chia nhau điếu thuốc lào
Nào anh hút tôi hút
(“Cá nước”, 1947)

Giọng thơ hào sảng, hiện đại, Xuân Diệu cho là thơ mở đường. Tố Hữu mở đường, nhưng rồi sau đó không cho ai đi.

Bài “Ta đi Tới”, 1954, ngoài dụng tâm chính trị, có những câu hay:

Tháng Tám mùa Thu xanh thắm

Hay từ những âm vang. Hai nguyên âm a đầu câu mở rộng nền trời, nguyên âm u luyến láy giữa câu, nâng bầu trời lên cao, rồi hai âm a cuối câu đẩy tầm mắt ra xa, xa xa, xa tận chân mây. Trời thu Yên Đổ, một buổi trưa không biết tự thời nào (Huy Cận).

Đa số các nhà thơ khẳng định tài năng ngay từ tập thơ đầu, thậm chí có người suốt đời không vượt khỏi tác phẩm đầu tay. Tố Hữu tập làm thơ, tiến bộ từng bước một, mỗi ngày thơ mỗi nhuần nhuyễn, hiệu lực. Bài “Xin gửi miền Nam”, làm mùa Xuân 1972, dưới bom đạn Mỹ, có đoạn bình an đánh dấu một đỉnh cao trong thi pháp:

Tôi lại làm thơ, như mỗi lần
Nghe ấm trời, lất phất mưa xuân
Con chim chích nhớ mùa táo chín
Rúc rích về ăn táo ngoài sân

Dịu dàng nhất là câu thơ thứ nhì. Đãi chất chính trị ra khỏi những câu thơ trên đây, nó vẫn hay. Và hay cách khác. Thoáng và bền hơn.


*


Những hạn chế trong thơ Tố Hữu thì Trần Dần đã viết bài phê phán từ 1957, thịnh thời của Tố Hữu. Bài viết can trường, sắc sảo và chính xác, từ 2001 đã được phổ biến rộng rãi ở ngoài nước. Tôi không cần thêm điều gì.

Tố Hữu nhà thơ, còn là nhà chính trị lãnh đạo văn nghệ, kinh tế. Nơi này hay nơi kia, khi này hay khi khác, ông đã có những sai lầm, mà tôi không nói ở đây, vì không phải lúc, lễ độ văn học không cho phép.

Nợ bút trước sau gì cũng dễ trả.

Chỉ có nợ tình mới canh cánh.

(Viết vào tháng chạp dương lịch, nhằm ngày giỗ Xuân Diệu 18, Toàn quốc Kháng chiến và tang lễ họa sĩ Bửu Chỉ 19, và kỷ niệm 20 năm Aragon ngày 23/12/2002.)
Quán nước đầu làng Ven > Sáng Tác - Thảo Luận - Phổ biến kiến thức > Văn Học & Ngôn Ngữ
Bạn đang xem phiên bản gọn nhẹ của diễn đ n dưới dạng text, để xem các b i viết với đầy đủ mầu sắc v hình ảnh hãy nhấn v o đây !
Invision Power Board © 2001-2018 Invision Power Services, Inc.