Langven.com Forum

Giúp đỡ - Lục lọi - Dân l ng - Lịch
Full Version: Quốc Hội Vn Khóa Một Và Nhà Nước Pháp Quyền
Quán nước đầu làng Ven > Gặp Gỡ - Trao Đổi - Làm Quen > Thời Sự
Pages: 1, 2, 3
Phó Thường Nhân
Sinh hoạt chính trị ở VN đang rất sôi động, vì sắp tới là đại hội đảng XII. Không rõ những hoạt động hậu trường ra sao, nhưng chỉ nhìn những sinh hoạt thể hiện ra qua báo lề phải, thì người ta cũng nhìn thấy được sinh hoạt rất nóng. Và những vấn đề lý thuyết cũng như thực tế về chính quyền, bản chất chính quyền, nhà nước pháp quyền là những vấn đề lý thuyết thực tế rất quan trọng.
Muốn đánh giá phát triển lý thuyết, thì không có gì hay hơn là dùng biện chứng lịch sử để đánh giá một hiện tượng quá khứ, và từ đó có thể soi ra hiện tại người ta cần cái gì. Một trong những thực tế có thể dùng để “ngâm cứu”, chính là quốc hội khoá I của nhà nước VN dân chủ cộng hoà.
Quốc hội khoá I, rồi hiến pháp đầu tiên hiện nay đang được dư luận, rồi các medias lề trái tung hô, coi đó là “dân chủ” là điển hình. Rồi cũng tung hô chủ tịch Hồ chí Minh, một dạng để lấy chính danh kiểu mập mờ đánh lận con đen đánh lừa người ta, vì thế đánh giá chính xác hoạt động thực tiễn của quốc hội khoá I, điểm mạnh, điểm yếu của nó sẽ khiến người ta hiểu rõ những điều kiện cần của nhà nước pháp quyền hơn.
Điều đầu tiên đập vào mắt một người nghiên cứu lịch sử khách quan, là quốc hội khoá một được bầu theo cơ chế đa đảng. Gọi là đa đảng, vì có hai lực lượng đó là VN quốc dân đảng, và Đảng cộng sản dưới hình thức mặt trận Việt minh. Vì thế người ta vẫn gọi VN quốc dân đảng lúc đó là Việt quốc, Việt cách.
Trong cuộc bầu cử đó, Vịêt minh giành đa số phiếu, nhưng chính phủ được lập nên không chỉ có Việt minh, mà có cả các nhân vật khác của VN quốc dân đảng, như Nguyễn Hải Thần (phó chủ tịch nước), Nguyễn tường Tam là nhà văn Nhất linh (bộ trưởng bộ ngoại giao), không kể vua bù nhìn Bảo đại cũng được giữ chức cố vấn đặc biệt của chính phủ. Điều này là ngoại lệ với kiểu thể chế này.
Cho đến đây, thì có thể thấy về mặt hình thức, thể chế này giống như một nhà nước đại nghị tư sản như ta thấy ở phương Tây, cụ thể là Pháp. Nhưng trong thực chất cái thể chế đó có hoạt động không.
Câu trả lời là không. Tại sao ? vì VN quốc dân đảng và Việt minh không thể chung sống. Một nhà nước đại nghị tư sản chỉ có thể hoạt động nếu các đảng phái của nó hợp tác với nhau. Tại sao quốc dân đảng và Việt minh không thể hợp tác với nhau. Bởi vì cái đế quyền lực khác nhau, đối kháng nhau. Tại sao thế. Vì cái đế quyền lực của VN quốc dân đảng là quân đội Tưởng giới Thạch ở VN. Nói một cách khác VN quốc dân đảng lúc này là bộ mặt chính trị của đội quân chiếm đóng của Tưởng, chứ nó không phải là VN quốc dân đảng của lãnh tụ Nguyễn Thái Học . Ngược lại cái đế quyền lực của Việt minh là toàn bộ chính quyền bộ máy hành chính giành lại từ tay đế quốc Nhật. Chính vì thế, khi quân đội Tưởng rút, thì VN quốc dân đảng ở Vn cũng tan. Trong suốt thời gian từ tháng 9/1945 đến tháng 12/1946 khi toàn quốc kháng chiến cũng có một cuộc nội chiến giữa Việt minh và VN quốc dân đảng. Một biểu hiện của nó là vụ án Ôn Như Hầu (đây là tên một phố ở Hà nội, có trụ sở ngầm của VN quốc dân đảng sủ dụng để bắt giam, ám sát các nhân vật Việt minh). Và tất nhiên người ta cũng có thể hiểu ngầm là, Việt minh cũng làm như thế với các nhân vật quốc dân đảng. Từ những yếu tố trên, người ta có thể rút ra hai điều :
1- Cái đa đảng ở VN lúc đó không phải là yêu cầu là nhu cầu của xã hội VN, mà nó là sự áp đặt của bên ngoài vào. Quân Tưởng đóng ở miền Bắc, thì không thể nào không cho vây cánh chính trị của nó tham dự vào chính quyền.
2- Sự tham dự của cái « đảng ngoại nhân » này, đã khiến chính phủ VN thực sự là một chính phủ ngầm, vì tất cả các hoạt động ngoại giao với Pháp, với Tưởng, chuẩn bị toàn quốc kháng chiến, Tây tiên (cách mạng lào), Nam tiến (hỗ trợ Nam bộ kháng chiến chống Pháp) đều là do Viêt minh chủ quản, quyết định.
Như vậy Quốc hội khoá I ở VN nếu nó là biểu tượng rất lớn , thì về mặt thực tế nó là bất lực.
Hiện nay, ở VN đang có tổ chức kỷ niệm 70 năm, ngày ra đời của quốc hội khoá một. Nó là tiền thân của quốc hội VN ngày nay, và chỉ riêng điều đó cũng khiến người ta tôn vinh nó, nhưng không thể lấy nó làm điển hình tốt để mà học. Ngược lại phải thấy những khiếm khuyết của nó để rút kinh nghiệm.
Muốn quốc hội VN ngày nay mạnh thì phải để cho nó là đối trọng là chỉ huy của chính phủ. Quốc hội phải kiểm soát được chính phủ, để tránh lạm quyền từ phía chính phủ, đứng đầu là vai trò thủ tướng để tránh tình trạng Vua Lê (Tổng bí thư Đảng), chúa Trịnh (Thủ tướng).
Ngược lại Quốc Hội phải là sự thể hiện quyền lực của Đảng, thể chế hoá quyền lực của Đảng. Quyền lực của Đảng lại thể hiện qua Trung ương Đảng. Như tôi đã nói, Trung ương đảng phải có vai trò như Thượng nghị viện, còn Quốc hội như Hạ nghị viện.
Cân bằng bằng kiểm tra chéo giữa Quốc Hội-Đảng- Chính phủ sẽ tạo nên cái kiềng ba chân cho nhà nước pháp quyền ở VN
langtubachkhoa
Bác Phó, tôi k nghĩ ở VN hiện nay có thể làm được điều đó với quốc hội. Ở phương tây, quốc hội là đại diện của tầng lớp tư bản hay doanh nhân. Tâng lớp này lớn mạnh cùng với sự lớn mạnh của nền khoa học kỹ thuật, và từ đó nắm trong tay bộ máy sản xuẩt và phân phối lớn, có triết lý tư tưởng cũng như mô hình phát triển kinh tế riêng. Từ đó nó đủ mạnh về kinh tế và chín muồi về tư tưởng để lãnh đạo đat nước, quyền lợi của nó cũng gắn với đất nước. Nó nắm trong tay quốc hội để kiểm soát ngân sách và kiểm soát luật, đạt ra luật chơi.

Còn ở Vn thì cái quốc hội này từ dâu, có lẽ nó là đại diện của tất cả các thành phần tầng lop trong xã hội? Vậy tư tưởng triết lý chủ đạo của nó là gì? Làm thế nào để nó có đủ súc kiểm soát đựoc chính phủ + ra luật, khi mà trình dọ của nó k đủ. Ở phưong Tây, quôc hội của nó làm việc và đặt hàngi các ban nghiên cứu, các nhà hoạch định think tank của các nhà nước lẫn tư nhân, để đưa ra các chính sách lớn, còn quốc hội tài trợ thực hiên, etc. Ở VN, k chừng đến quốc hội còn chả nắm vững đựoc các thông tin cần thiết, nói gì kiểm soát? Và nếu nắm đựoc thì có đủ khả nắng sử dụng k?

Quốc hội VN, kể cả trung ương đảng, may ra chỉ tham gia được vào các vấn đề xã hội kinh tế, còn các vấn đề an ninh chiến lược thì e là k nổi. Chứ k như ở phương Tây, rõ nhất là Mỹ, hay như Nga, thì thượng viện là nói quyết các vấn đề đối ngoại an ninh
Phó Thường Nhân
@LTBK,
Trung ương đảng không thể hoạt động hoàn toàn như một cái Thượng nghị viện, nhưng vai trò của nó thì tương đương, vì vấn để của nó là những người đứng đầu nhà nước ở VN vừa ở trong trung ương đảng (ở địa vị tối cao là bộ chính trị), đồng thời là nghị viên, đồng thời đứng đầu chính phủ (Thủ tướng). Trong tứ trụ thì có 3 người có vị trí trong nhà nước (chủ tịch quốc hội, chủ tịch nước, thủ tướng) ngoại trừ tổng bí thư là không. Như vậy sự quyết đoán mọi việc là trong bộ chính trị, nhưng để hoạt động được thì người ta phải chấp nhận là nếu bộ chính trị đồng thuận (theo nguyên tắc tập trung dân chủ), thì những điều đó sẽ được chuyển cho quốc hội để luật hoá và cho chính phủ để thực hiện thông qua nghị định. Nhưng chính cái điều đồng thuận kia bây giờ lại là vấn đề. Vì sao ? vì trong trường hợp thủ tướng mâu thuẫn với phần còn lại của bộ chính trị, thì có chắc chắn là ông ta sẽ thực hiện điều mà ông ta bắt buộc phải đồng thuận không. Tương tự như vậy, một uỷ viên trung ương đảng có thể biểu quyết khác đi khi ở trong quốc hội.
Sự cài chéo nhau về nhân sự cấp cao ở VN chỉ có tác dụng theo chiều xuôi, tức là trên đi xuống. Đây vẫn là cái dấu vết từ thời bao cấp, và điều này không sai, nhưng không đủ. Ngược lại chiều ngược, từ dưới đi lên (ví dụ từ quốc hội lên trung ương đảng) lại không có.
Nếu chỉ giữ cái hình thức như hiện tại, thì quốc hội chỉ là cái cơ quan hợp lý hoá sự lãnh đạo của Đảng, và sự lãnh đạo đó tập trung vào một nhóm rất nhỏ (bộ chính trị), không những thế, cái nhóm nhỏ đó lại phụ thuộc vào nhân vật nào trong đó có uy quyền nhất (phe phái lớn nhất).
Hiện nay, hầu như ai cũng đồng ý là phải định rõ thẩm quyền cá nhân, nhưng không luật hoá được 3 cơ cấu kia (quốc hội, trung ương đảng, chính phủ), mà chỉ thông qua việc nhân sự trùng nhau ở ba cấp bộ chính trị, quốc hội, chính phủ.. thì thẩm quyền sẽ tăng, nhưng trách nhiệm không thể rõ ràng.
Tại sao ở các nhà nước dân chủ tư sản, nó lại nẩy ra cái thượng viện. Nó có thượng viện để đảm bảo tính giai cấp của nó. Lấy ví dụ điển hình nhất là quốc hội Anh. Sau cách mạng tư sản Anh, vấn đề đặt ra của nước Anh là làm sao hoà hợp được quyền lợi của quý tộc Anh và giai cấp tư sản Anh. Sau một thời kì ngắn của Cromwell, thời kỳ mà giai cấp tư sản Anh trảm vua, loại bỏ quý tộc. Nước Anh lâm vào tình trạng độc quyền (độc tài) của Cromwell, xã hội rối loạn. Chính vì thế mà phải lập lại vương quyền nhưng ở dạng lập hiến. Có nghĩa là nước Anh phải trung hoà được giai cấp tư sản và quý tộc. Tư sản nắm kinh tế, nhưng quý tộc nắm quyền chính trị thông qua hiến pháp, lập nhà nước pháp quyền. Thượng viện là của quý tộc, có tác dụng kiểm soát hạ viện (do dân bầu) qua quyền phủ quyết.
Trong trường hợp hai bên viện găng nhau, không giaỉ quyết được thì Vua đóng vai trò trọng tài.
Tóm lại ở Anh, hạ viện có thể có quyền trong vòng tay kiểm soát của thượng viện mà không phải là cái văn phòng thư ký của nó. Ở VN, muốn quốc hội hoạt động tốt, chủ động, đồng thời vẫn phải chịu sự lãnh đạo của Đảng thì cũng phải làm thế. Đây là chưa kể quan hệ kiểm soát của Quốc hội với chính phủ.

Nếu cả quốc hội lẫn trung ương Đảng đều không thể quyết đinh được các vấn đề an ninh kinh tế, thì AI làm việc đó
Skywalker
Bình về giá trị và hoạt động của một tổ chức dân cử thì điều đập ngay vào mắt đó là thời gian và bối cảnh hoạt động của nó thế nào (điều kiện biên). Quốc Hội khóa I của VNDCCH chỉ có vẻn vẹn chưa đầy 1 năm để các sinh hoạt chính trị diễn ra trong bối cảnh không có hoặc ít chiến tranh, xung đột (tính đến ngày Toàn quốc kháng chiến 12/1946). Khoảng thời gian này còn ít hơn cả thời gian giữa 2 kỳ lấy phiếu tín nhiệm của Quốc Hội hiện tại (2 năm).

Còn về "đa nguyên đa đảng" thì càng rõ bối cảnh (tâm lý, hiểu biết) của đông đảo người dân là mong muốn VN độc lập theo những khuôn mẫu được lan truyền, cụ thể là nền cộng hòa Pháp, Mỹ. Việc Cụ Hồ trích dẫn các văn bản nổi tiếng của 2 nước này đồng một ý với tổ chức bầu cử Quốc Hội, Chính phủ như thế, đã nhận được sự ủng hộ của đông đảo người dân cho đến hàng chục năm về sau. Mô hình Soviet thâm nhập vào chính trị VN là vầ sau này khi mà chiến tranh diễn ra khốc liệt với những đòi hỏi tín nhiệm về quan hệ đồng minh với Liên Xô, Trung Quốc chứ không hẳn là nằm trong ý định từ trước của phần lớn người theo Việt Minh. Dù về sau này (thập niên 1960s) nhận là người cộng sản, các lãnh tụ của VNDCCH vẫn khẳng định là xã hội và thể chế của VN vẵn trong một giai đoạn ... nổi tiếng với tên gọi "quá độ lên CNXH"! sp_ike.gif

Bởi vậy, có thể nói là Quốc Hội chưa bao giờ hoạt động đầy đủ với các điều kiện so sánh được với cơ chế dân chủ lâu dài, ổn định như ở các nước khác.
blackberry
đang đánh nhau chí tử.
Phó Thường Nhân
Những gì xẩy ra vào thời điểm cách mạng tháng 8, để đánh giá chính xác biểu tượng, bản chất, tác dụng, hiệu quả của nó ..không có gì bằng phân tích nó bằng duy vật lịch sử. Điều đặc biệt thú vị, là có nhiều người lề trái bây giờ lại sử dụng nó để biện minh cho đa nguyên đa đảng, nhưng thực ra đó chỉ là chiêu thức treo đầu dê bán thịt chó, Hay là vin Bác Hồ ra để biện minh. Thông qua những sự việc , nhân vật lịch sử chính thống để nhằm chính danh. Những việc làm đó đã khiến người ta nhìn vào cách mạng tháng 8, bản hiến pháp đầu tiên, quốc hội đầu tiên.. một cách sai lệch. Bởi như tất cả mọi sự kiện lịch sử, nó đều là hệ quả của tính toán chiến lược (bản chất), chiến thuật(do thời thế, ứng phó..) tạo ra. Chỉ bằng phân tích bằng duy vật biện chứng (áp dụng vào các vấn đề xã hội, thì được gọi là duy vật lịch sử) người ta mới nhìn chính xác nó được. Ngay như bản tuyên ngôn độc lập, câu đầu tiên được bác Hồ dùng, là trích dẫn tuyên ngôn độc lập Mỹ. Trong giấy tờ của nhà nước mới ra đời, đều có câu « độc lập-tự do-hạnh phúc » là bản chất của chủ nghĩa Tam dân của Tôn Trung sơn. Vậy những điều đó là chiến thuật hay chiến lược. Bản chất hay chỉ là ứng sử theo thời. Với tôi, những điều này là bản chất, vì sao ? vì dù có kháng chiến chống Mỹ, không ai cắt cái câu đó đi. Sau này dù đánh nhau với TQ, cũng không vì thế mà khẩu hiệu « độc lập tự do hạnh phúc » biến mất trên giấy tờ văn bản. Cũng như bài quốc ca, dù ông Văn Cao sau này « thất sủng », nó vẫn là quốc ca của nước VN.
Nhưng có vì thế mà nhà nước VN ra đời sau cách mạng tháng 8 là nhà nước dân chủ tư sản không. Câu trả lời là không. Vì do chơi với Liên Xô- Trung quốc nên bắt buộc phải theo chính thể của họ. cũng không. Tại sao ? vì trong thực tế như tôi đã viết ở trên, « đa đảng » ở thời điểm này, chỉ là chiều quân Tưởng đang chiếm đóng miền Bắc. Tương tự như vậy, quốc hội khoá một có tính đại biểu nhưng không thực chất. Trước khi có sự ủng hộ của phe XHCN bắt đầu vào năm 1950, khi cách mạng TQ thành công, chính quyền VN đã như thế. Sau này khi miền Bắc được giải phóng, thì cơ cấu nhà nước có gì đó giống mô hình dân chủ mới kiểu TQ. Nhưng hoạt động của nó thì không giống. Bằng chứng ? từ khoảng năm 60. Vai trò lớn nhất ở VN là Tổng bí thư (Lê Duẩn), trong khi chủ tịch Đảng (Bác Hồ) thì chỉ còn là biểu tượng. Người ta không thể nói như thế với vai trò của Mao Trạch Đông, Lưu Thiếu Kỳ, Đặng tiểu Bình. VN cũng không có « cách mạng văn hoá ». Phải đợi tới khi thống nhất đất nước, thì mô hình nhà nước lại đổi lần nữa theo hình thức dân chủ nhân dân theo kiểu Đông Âu (thủ tướng được gọi là chủ tịch hội đồng bộ trưởng). Nhưng hoạt động của nó cũng không giống như ở Đông Âu.
Ngược lại hoạt động của nó dân chủ hơn mô hình VN dân chủ cộng hoà (hiểu theo nguyên tắc là thể chế hơn, sinh hoạt của các cơ chế nhà nước định kỳ hơn), mặc dù đa đảng hình thức bị xoá bỏ (không còn đảng dân chủ và đảng xã hội). Điều ở TQ vẫn còn tồn tại.
Tóm lại nhà nước VN hình thành như ngày nay, là do tương tác lực lượng và bản chất của nó tạo ra.
Cái mô hình chỉ là thứ yếu thôi. Còn nếu nói đa nguyên đa đảng ở VN trong lịch sử, thì nó cũng có một cái. Đó là chính quyền miền Nam ngày xưa (1954-1975). Nhưng cả thời đệ nhất (chính quyền Diệm) đến đệ nhị (chính quyền Thiệu) nó có bao giờ hoạt động được như ở phương Tây đâu, ngược lại nó đều là hai thể chế độc tài trá hình. Trong số dân lề trái, hạt nhân của nó vẫn là các dạng kiều theo Mỹ, hậu duệ từ cái chính quyền này mà ra. Hậu duệ về mặt sinh học hay hậu duệ tư duy, sao họ không mang cái bằng chứng lịch sử này ra ngâm cứu để xem cái thất bại cái thành công của nó, mà cứ phải hoặc lôi ví dụ phương Tây ra loè trong khi điều kiện mình không có, hoặc treo đầu dê bán thịt chó qua cách mạng tháng 8, hiến pháp đầu tiên, quốc hội đầu tiên, chủ tịch Hồ chí Minh..v..v..
Người ta có nên kỷ niệm, tôn vinh quốc hội đầu tiên của VN không ? câu trả lời là có. Vì nó là lịch sử của dân tộc, nhưng đừng gán cho nó cái « đa nguyên đa đảng điển hình» mà nó vốn không có, cũng như gán cho nó những công trạng mà nó không có theo kiểu lề trái.
Trước thềm đại hội đảng, đấu tranh chính trị rất là sôi động, « rất nóng » như dân nói. Điều đó cũng không có gì là đặc biệt ở nước nào cũng thế. Rất may là ở VN, nó vẫn còn bó trong cái khung tổ chức Đảng, để nó không biến thành nồi da nấu thịt như ở UK, hay thành cái cớ để Mỹ và phương Tây bao vây như Miến điện, hay loạn lạc bắn nhau như áo vàng áo đỏ ở Thái.
Phó Thường Nhân
Nhân dịp đại hội đảng XII, như một thử nghiệm khám phá, tôi bắt đầu xem các phân tích của các đài báo phương Tây, phần Việt ngữ. Nào BBC(Anh), VOA (Mỹ), RFI (Pháp) không phải vì tôi muốn xem tin, tìm thông tin, mà muốn xem cách thức họ phân tích thế nào. Tất nhiên tôi cũng ngó nghiêng các báo lề trái nữa. Cũng với lý do tương tự như vậy. Với tôi, ngoại trừ người ta có thể tiếp xúc thông tin của các tổ chức tình báo quốc tế, tất cả các thể loại thông tin cho chủ đề này chỉ là dạng « ông mù múa gậy », vì không lần nào mà tin tức liên quan tới đại hội đảng lại nhiễu loạn như vậy.
Sự nhiễu loạn như vậy, bởi vì có đấu tranh nội bộ, và cuộc đấu tranh nội bộ này, không ai đoán được chính xác kết cục nó sẽ ra sao.
Khi tìm hiểu phân tích của các đài báo phương Tây, báo lề trái của các loại kiều ăn tiền thất nghiệp viết bậy, tưởng tượng thì không quan tâm làm gì, một đặc trưng chủ yếu của nó là một dạng phân tích tưởng tượng theo kiểu gây chia rẽ vùng miền. Đặc trưng nữa là sau khi đưa ra các giả thiết, thì chúng đánh giá các giả thiết ấy theo lợi ích của họ. Chẳng hạn đài RFI của Pháp, khi nói tới giả thiết bộ trưởng bộ quốc phòng là từ tổng cục chính trị, thì nó đánh giá rằng đây là điều ..đi lùi. Ở đây người ta gặp phải cách thức mà tôi gọi là cách phân tích theo dạng Freud. Freud là nhà tâm lý học nổi tiếng người Áo gốc do thái. Ông này là cha đẻ của tâm lý học phương Tây, nhưng hầu như tất cả những lý thuyết ông ta lập ra đều sai cả. Nhưng trong thời kỳ ông ấy lập ra, thì dư luận đều thấy đúng. Freud đã dựng lên lý thuyết theo hướng xây dựng (construction)- tưởng tượng (imagination)-Affabulation (bịa đặt). Cho đến nay người ta đã tìm ra rằng ngay cả bằng cớ mà ông ta nói cũng là tạo dựng.
Những gì liên quan đến khoa học xã hội, đều ít nhiều dễ bị dính vào đó, và ngay cách phân tích đưa tin của phương Tây cũng có dạng như vậy. Xuất phát điểm của nó là gì. Đó là tâm lý chia để trị muôn thủa của thực dân. Dựa trên nguồn gốc vùng miền của các nhân vật chính trị, mà từ đó họ bịa ra một quy luật xung đột vùng miền, cân bằng vùng miền làm cái đế phân tích đây là phần construction. Sau rồi với tưởng tượng, bồi đắp thịt da cho nó, rồi từ đó đi tới bịa đặt, là mục đích muốn đạt tới.
Ngược lại, nếu nhìn vào nhưng phân tích của họ Pháp với Pháp, Anh với Anh, Mỹ với Mỹ, ..thì cái phân tích nguyên tắc vùng miền này biến mất. Tại sao lại thế. Thật là bí hiểm. Như vậy cách nhìn của phương Tây là có chiều. Chiều là lợi ích của nó.
Phó Thường Nhân
Khi nhận xét cách phân tích « kiểu Tây » như trên, tất nhiên tôi phải thay thế nó bằng một cách phân tích khác. Cách phân tích khác này dựa trên duy vật lịch sử. Tức là dựa trên thông tin đã thành lịch sử, dù là rất gần để đánh giá sự kiện. Cách phân tích này không thể đoán được ông Trọng sẽ thắng, ông dũng sẽ thắng hay ai đó thắng, mà nó sẽ chỉ ra rằng cái gì đã dẫn tới những sự kiện ấy, những vấn đề nó đặt ra, tôi viết vì nó liên quan trực tiếp tới tư duy luật hoá quan hệ Đảng-Quốc Hội- Chính phủ ở trên.
Một điều người ta không thể phủ nhận, đó là vai trò của Thủ tướng trong tứ trụ ở VN tăng lên. Sự tăng lên này có 2 lý do :
1- Đó là việc Nguyên tổng bí thư Lê Khả Phiêu mất chức, và tiếp đó là vai trò mờ nhạt của tổng bí thư tiếp theo là ông Nông Đức Mạnh.
2- Tính cách của thủ tướng VN đương nhiệm trong vòng 10 năm qua. Ông Dũng đã sử dụng gần như tuyệt đối quyền hạn mà vị trí thủ tướng mang lại. Từ đó đặt ra những vấn đề quyền hạn và trách nhiệm của các nguyên thủ nhà nước ở đâu, quan hệ của chúng thế nào. Đây cũng là lần đầu tiên, tích cách sinh hoạt tập thể trong chính trị ở VN bị tác động, nó cá nhân hơn. Điều mắc mớ là nó tăng quyền hạn cá nhân, nhưng trách nhiệm thì vẫn mờ mịt. kiểu quyền(lợi) thì riêng tôi, vạ thì vạ chung.
Việc tổng bí thư Lê Khả Phiêu bị mất chức vì sao. Tôi không rõ. Nhưng việc một tổng bí thư mờ nhạt được đưa lên, đã chứng tỏ rằng một tổng bí thư mạnh, tức là một đảng mạnh gây cản trở cho ai đó. Ai đây là nhiều người, không phải là một. Việc ở VN không chống được tham nhũng có lẽ từ đây mà ra. Vì sao ?
1- Vì trong nhiệm kỳ đầu Thủ tướng kiêm luôn chủ tịch hội đồng chống tham nhũng. Nhưng điều này không ngăn cản để sau đó hình thành vụ Vinashin. Thủ tướng là vị trí đá bóng, lại kiêm luôn thổi còi, thì khả năng trận đấu khách quan là không có.
2- Khi vụ Vinashin xẩy ra, đến khi có hi vọng le lói có thể tìm ra sự thực, thì các nhân sự đều chết vì ung thư. Điều này có thể là tự nhiên, nhưng sự trùng lập không khỏi khiến người ta đặt câu hỏi.
3- Trong nhiệm kỳ thứ II của Thủ tướng, quyền chống tham nhũng được giao cho Tổng bí thư. Nhưng thế Vua Lê chúa Trịnh đã khiến việc này không hiệu quả. Ngược lại nhìn sang nước láng giềng, ông Tập cận Bình có thể làm rất tốt việc này, vì ở đây trong cấu trúc quyền lực của họ không có chúa Trịnh. Điều đáng chú ý nữa là ở đây đảng CS TQ đã chống tham nhũng có kết quả, trong khi vai trò của viện kiểm soát nằm trong nhà nước lại không làm được gì.
Kết quả đại hội XII của Đảng, tuỳ vào ai sẽ được đề cử vào các vị trí tứ trụ, mà người ta có thể nhìn thấy dấu hiệu đi tiếp quá trình suy yếu của Đảng (thành Vua Lê) có tiếp tục nữa không , hay là sự khảng định lại vai trò tuyệt đối của Đảng.
Dù sao đi nữa, sự « vùng lên » của vai trò Thủ tướng, đã khiến việc định nghĩa lại rạch ròi tránh nhiệm quyền hạn của vị trí này với Quốc Hội và Trung ương Đảng cực kỳ quan trọng, đánh dấu việc VN có thành nhà nước Pháp quyền được không.
blackberry
Phó Thường Dân và langtubk nên về VN sống, hưởng thụ tự do độc lập chung với nhân dân. Các bác ở bển cứ bơ thừa canh cặn của tây bao nhiêu năm nay mà ăn rồi chửi chúng nó em thấy không được đàng hoàng lắm đâu ạ
Phó Thường Nhân
@Blackberry,
Nếu bác muốn « ăn cơm cà nói chuyện thế giới » thì đây là nơi rất tốt để nói. Còn đi vào nói chuyện cá nhân móc máy thì tôi không tham gia.
Dù sao thì tôi cũng trả lời câu hỏi của bác. Việt nam là nước rất đông dân, đất chật người đông, cho nên di dân được là tốt. Không kể thế, trước đây trong lịch sử, do ảnh hưởng của tôn giáo truyền thống, người Việt nam chỉ luôn luôn bo bo trong luỹ tre làng, đến lúc VN bị thực dân Pháp xâm lược, ở Việt nam thiếu hoàn toàn một lớp người như ở Nhật bản, cho nên một kiểu cải cách như thời Minh trị của Nhật không thể xẩy ra. Nhật bản sở dĩ cải cách được, bởi trước đó dân Nhật đã lang thang khắp bốn phương trời, tham gia vào cái chu trình thương mại ở Đông Á với phương Tây (mà cái cầu Nhật ở Hội An là một bằng chứng ở VN). Di dân Nhật bản là tai mắt để cho nước Nhật có thể đuổi kịp phương Tây. Hiện nay thế giới ngày càng thu hẹp, như một cái làng lớn. Một nước muốn mạnh, thì không chỉ để dân bo bo trong nước, mà càng có nhiều di dân càng tốt. Một công ti mạnh, có tính cách toàn cầu thì phải có chi nhánh ở nước ngoài. Tương tự như vậy, một nước không thể mạnh nếu không có cộng đồng kiều dân đông đảo. Như vậy cái tư duy đã yêu nước là phải bo bo trong nước là sai. Hiện nay, nhất là từ sau năm 1975, thì tư duy người Việt đã thay đổi. Số người Việt ra nước ngoài sinh sống càng nhiều, đó là điều tốt. Không phải là dở.
Mặc dù thế do hoàn cảnh lịch sử, kiều dân Việt nam ở nước ngoài có những đặc trưng của nó. Cái đặc trưng này phụ thuộc nhiều vào thời điểm giai đoạn ra đi. Thói thường thì người ta thường « khen tây chê ta ». Còn tôi thì chỉ phân tích khách quan thôi, vì tôi không có quan niệm áo gấm về quê, và việc sinh sống ở nước ngoài, cũng không tạo cho tôi điều gì đặc biệt hơn so với một người Việt nam ở trong nước cả. Đấy là quan niệm.
Như vậy điều quan trọng, bất cứ ở đâu, là con người ấy có còn cảm nhận họ là người Việt hay không. Nếu kiều dân Việt nam càng cảm nhận họ là người Việt, khúc xạ được những nhận thức họ thu nhập theo hệ quy chiếu Việt nam, thì ở nơi nào cũng tốt. Ngược lại ở trong nước, mà nhầm hệ quy chiếu, thân ta thật, đầu tây giả thì có khi còn tai hại hơn.
Thế là thế nào. Thời Nho giáo, tất cả các nhà Nho Vịêt nam đều học sách thánh hiền tứ thư ngũ kinh, nhưng không có vì thế mà họ thành người Trung quốc. Trở thành người Trung quốc trên đất Việt nam. Vì sao bởi vì trong họ có một sự khúc xạ, cảm nhận họ là người Việt, có quốc gia riêng, văn hoá riêng, tiếng nói riêng. Học Nho giáo chỉ làm cho họ thông minh ra, hiểu biết hơn, nhưng không mất gốc. Đạo đức Nho giáo nhưng tâm hồn VN. Người Việt bây giờ cũng phải thế, bất kỳ ở đâu. Chỉ cần thay bằng Kỹ thuật phương Tây, tinh thần VN mà thôi.
Nhưng người nhàng nhàng như tôi ở VN không thiếu, cho nên không thể coi việc tôi sống ở VN hay nước ngoài là một sự mất hay được.( Nếu tính về mặt cá nhân). Còn nói theo kiểu vĩ mô, như tôi đã phân tích, cộng đồng người Việt ở nước ngoài càng nhiều càng tốt, càng phát triển càng tốt. Giống như cái công ty càng có nhiều chi nhánh hùng mạnh thì càng tốt chứ sao.
Phó Thường Nhân
Hội nghị 14 kết thúc. Và ngoài thông tin nhân sự cao cấp đã được đề cử, thì điểm nổi bật là TPP sẽ được thông qua. Bất chấp đấu tranh nội bộ xung quanh vấn đề này thế nào, việc tin này được khẳng định đã làm giảm sức ép bên ngoài lên trên đại hội Đảng. Nó khẳng định là về đường lối kinh tế không có sự đột chuyển, và được cắt rời khỏi vấn đề nhân sự, vì bất luận ai sẽ giữ trọng trách, vấn đề này không thay đổi. Vậy TPP là thuận lợi hay thử thách. Trong hai cái thuận lợi hay thử thách cái nào lớn hơn. Với phân tích của tôi thì thử thách là chính thuận lợi là phụ. Không nên hi vọng ảo vào TPP mà nên để ý tới thử thách mà nó sẽ tạo ra. Nếu nói kiểu toán học thì thuận lợi là 30% khó khăn thử thách là 70%.
Tại sao tôi lại nói thế, trong khi thông tin thực tế về TPP rất ít. Và nếu giả dụ có được tiếp cận nó, thì nó cũng rất kỹ thuật, không phải là dễ hiểu. Tôi nói khó khăn vì mấy điều sau :
1- Cùng với TPP, Mỹ cũng đang tiến hành đàm phán tương tự với EU. Nhưng điều kiện trong TPP là tương đương với cái hiệp định xuyên Đại Tây Dương giữa EU-Mỹ. Đàm phán này đang bế tắc, vì nó quyết định nhiều tới vận mệnh EU, đặc biệt là khả năng tài phán tức là chủ quyền của EU. EU chắc chắn nó phải khôn hơn VN, thực lực cũng lớn hơn. Vậy tại sao nó không chấp nhận.
2- Có nước « Đồng minh » cận ruột của Mỹ như Hàn quốc, nó cũng không vào
3- Nhiều nước Đông Nam Á , vốn có truyền thống đồng minh với Mỹ (Thái, Indo, Phi) cũng không vào. Đặc biệt Phi đã từng là thuộc địa Mỹ, ảnh hưởng của Mỹ rất mạnh.
Chính những điều có thể nhìn thấy như trên, khiến người ta có thể nhận xét, cái TPP là khó chơi, và cái câu mỹ miều người ta dùng là « hiệp ước kiểu mới , có chất lượng cao » là để che dấu đi cái khó chơi này. Như vậy VN lao vào vì « Điếc không sợ súng », vì những « thằng » biết Mỹ thật sâu sắc EU, Hàn quốc, Phi nó có vào đâu !! Đấy là một điểm khiến tôi nói rằng TPP là thử thách hơn là thuận lợi.
Đối với tôi, TPP luôn là bất lợi. Sự bất lợi vào thời điểm hiện tại chỉ giảm đi, vì VN đã kịp ký với Hàn quốc, với liên minh Á-Âu những hiệp ước về tự do thương mại. Sắp tới với cộng đồng ASEAN, và khả năng hiệp ước tự do thương mại giữa VN và EU đươc ký, thì sự bất lợi lại giảm thêm nữa, vì những hiệp định này là những cánh cửa thoát hiểm cho VN khi « đụng hàng » TPP. Việc trong TPP có Nhật và Úc, cũng làm cho nó cân bằng hơn. Nhưng nói TPP là miếng mồi béo bở, một phút đổi đời, như cái phao phải bám vào nó không thì chết chìm là không phải.
Xét lợi hại của TPP phải xét về 3 mặt. Kinh tế, chủ quyền tài phán, xã hội-chínhtrị.
(còn tiếp)
Phó Thường Nhân
Về kinh tế. Vì kinh tế VN có nhiều thành phần, nên người hưởng lợi không giống nhau. Khối hưởng lớn nhất là đầu tư nước ngoài FDI, và có thể chỉ rõ ra chủ đầu tư hưởng nhiều nhất là Nhật và Hàn. Hãy phân tích sâu thêm một chút hai ông chủ này.
1- Hàn quốc : Với Hàn quốc , việc VN vào TPP, càng củng cố thêm trong con mắt của họ VN là cái trung tâm sản xuất của Hàn. Tại sao thế. Bởi vì việc tham gia TPP đã giúp cho việc tiếp cận thị trường Mỹ đỡ bấp bênh hơn, không bị ảnh hưởng bởi các yếu tố xã hội-chính trị khác. Hàn cũng như Nhật sản xuất ở VN để bán toàn cầu. Muốn bán được thì nó phải có thị trường ổn định. Với hiệp định này cái « chuỗi giá trị gia tăng » (lại một từ ngữ hoa mỹ dùng để chỉ phân công lao động mà lờ tịt đi vị thế của các bên tham gia) sẽ là : cửu vạn (hay gia công VN)-Tư bản (chủ sở hữu, công nghệ Hàn quốc) Hàn-Thị trường Mỹ (in tiền phân phát tiền Mỹ tức là tài chính). Còn tại sao tôi lại nói là TPP « củng cố » vai trò VN trong con mắt Hàn quốc, bởi vì Hàn quốc là nước phát triển muộn, khi nó có thể bành trướng xuất khẩu tư bản ra nước ngoài, thì tất cả các thị trường ĐNA khác không còn nữa. Chỉ còn lại thị trường Đông Dương. Vì thế VN nghiễm nhiên trở thành cái vựa sức lao động cho Hàn quốc từ năm 1986 đến nay. Với TPP thì nó lại càng yên tâm ở lại.
2- Nhật bản. Với TPP, thì VN trở nên hấp dẫn hơn với Nhật, như là vựa sức lao động gia công. Tại sao lại thế. Bởi vì Nhật thâm nhập ĐNA đã lâu. Hai nước được coi như vựa sức lao động của Nhật trong truyền thống là Thái và Malaysia. Thời thủ tướng Mahatir (cách đây khoảng 20 năm ở Mã), Malaysia nhiều lúc còn là con vẹt chính trị, là cái loa cho Nhật. Việc VN vào TPP sẽ là một yếu tố cạnh tranh giúp cho việc đặt đế sản xuất ở VN hấp dẫn hơn, ổn định hơn để tiếp cận thị trường Mỹ.
Tóm lại với TPP thì VN có thêm ưu thế giữ chân Nhật Hàn trong tất cả đám cửu vạn ĐNA. Muốn thoát số phận cưủ vạn, thì phải là chủ sở hữu, phải có công nghệ và công nghiệp phụ trợ của mình. Điều này không phụ thuộc vào TPP, cũng không thể hi vọng vào Hàn, Nhật, Mỹ.. Nó phụ thuộc vào việc các công ty VN cả nhà nước lẫn tư nhân có sử dụng được điều kiện TPP không, kế hoạch đối sách thế nào. Cái này thì tôi sẽ nói tiếp.
Dù sao giữ được chân cửu vạn cũng đã là một lợi thế. Và đấy là điểm sáng của cái TPP với VN.
(còn tiếp)
root
Em thấy bác Phó thảo luận hơi có tính 1 chiều. Do bác suy nghĩ là TPP là bất lợi nên bác nêu 3 điểm nói về các nước lớn, thân cận Mỹ cũng không vào. Nhưng mà sao bác không nhắc đến việc: tại sao có một số nước khác cũng khôn, cũng mạnh về kinh tế lại vào TPP?

Đến nay, TPP đã có sự tham gia của 12 nước gồm Australia, Brunei, Canada, Chile, Malaysia, Mexico, New Zealand, Peru, Mỹ, Singapore, Nhật Bản và Việt Nam.
Phó Thường Nhân
@Root,
Ở trên tôi cũng đã nói là do việc có Nhật và Úc tham dự TPP, mà (nội tạng) của nó cân bằng hơn. Tất nhiên người cầm chịch vẫn là Mỹ. Tôi cũng nói rằng điều này làm giảm tính bất lợi với VN đi. Như vậy là tôi khách quan. Nhưng tất cả những điều ấy không đủ để biến thuận lợi của TPP nhiều hơn thách thức của nó. Vì root đã thắc mắc điều này, thì tôi sẽ bổ xung tiếp phân tích « động cơ » (theo nhận xét của tôi là tại sao hai nước này lại vào TPP), còn việc những nước kia không vào TPP (hay hiệp định tương đương) thì qua những thách thức của TPP với VN, root sẽ nhận thấy. Còn nếu vẫn thấy chưa đủ, thì tôi có thể phân tích thêm.
Bây giờ hãy tiếp tục tìm hiểu thêm, đối với khối doanh nghiệp nhà nước và doanh nghiệp tư nhân thuần VN, cái TPP là thuận lợi hay thách thức.
Với khối doanh nghiệp nhà nước, thì TPP là thách thức. Nó thách thức ở hai điểm. Điểm đầu tiên là ý thức hệ của cái TPP. Cái ý thức hệ của nó là bất luận thế nào cũng phải tư hữu hoá tổng thể nền kinh tế. Cái ý thức hệ này được bơm vào theo dạng, chỉ có doanh nghiệp tư nhân mới lãi, mới hợp lý, v..v..
Ngược lại đã là doanh nghiệp nhà nước thì bao giờ cũng đi liền với trì trệ, tham nhũng, không có lãi, không hợp lý. V..v..
Trong thực tế thì những vấn đề này, người ta gặp phải ở cả hai hình thức sở hữu. Khi một công ti ngày càng trở nên đồ sộ, quy mô to lớn, thì sự khác biệt do chủ sở hữu khác nhau càng giảm đi, bởi vì sự điều hành doanh nghiệp phải thông qua một bộ máy management. Cái bộ máy management này hoạt động có hiệu quả không phụ thuộc vào văn hoá ứng sử của cộng đồng người, phụ thuộc vào chất lượng của nó. Nếu là chủ sở hữu tư nhân, thì nó hay có thói gia đình trị, và đây là yếu điểm của nó. Doanh nghiệp nhà nước thực ra là một dạng tư bản nhà nước chứ không có gì khác cả.
Cái ý thức hệ của TPP này lại tìm được tiếng vọng, sự hưởng ứng của ngay một bộ phận người trong nhà nước, bời vì họ nhìn thấy tư hữu tổng thể là miếng mồi ngon để giúp họ tạo « tư bản thân hữu ». Tư bản thân hữu là gì ? đó là những nhóm người có được tài sản vì có quan hệ, chứ không phải là có khả năng điều hành cũng không phải vì có vốn. Cách thức làm của nó thường là do có quan hệ, họ trở thành người rơm mua hộ cho tư bản nước ngoài những thị trường có tính độc quyền, những thị trường mà vì tính chất xã hội của nó, phải do nhà nước quản lý.
Cái ý thức hệ này thực ra đã có ngay trong WTO. Nhưng nó không đủ chặt nên vẫn có nhiều cửa thoát hiểm. TPP tìm cách xiết chặt nó hơn bằng những ràng buộc « nguy hiểm » hơn. Đấy chính là nội dung « chất lượng cao » mà nó nói tới.
Điểm thứ hai là nó mở cửa cho doanh nghiệp nước ngoài cạnh tranh trên sân nhà, làm loãng đi sự quản lý của nhà nước trong những địa bàn chiến lược : năng lượng, tài chính, ..
Đối với những vấn để này, thì những hiệp định FTA mà VN ký với Nga, Hàn, ASEAN ..chính là cái cửa thoát hiểm. Vì sao ? Vì nếu tôi không đạt điều kiện ông bắt buộc, thì tôi vẫn có sân chơi, hàng tôi không vào Mỹ thì vào chỗ khác (ASEAN, Nga, EU..). Ông không thể ép tôi đến chết được. Thói thường trên thương trường, nếu không ép được thì lại hợp tác được với nhau.
Nhưng chính vì hàng tôi không vào được thị trường ông, thì đi chỗ khác đã khiến cho cái TPP không hấp dẫn và nhiều khi chỉ là bánh vẽ cho doanh nghiệp nhà nước.
Ngược lại nó vẫn được lợi một phần, nhưng mà không trực tiếp. Ví dụ. Nhờ có TPP mà FDI sẽ phát triển. Nếu phát triển nó sẽ cần năng lượng, và các yếu tố khác. Và từ đó các hãng nhà nước trong lĩnh vực này sẽ mở rộng được thị phần, vì nhu cầu tăng lên.
Về khối tư nhân VN. Mặc dù là tư nhân, cái khối này có lẽ lại chịu thiệt hại lớn nhất. vì cả về quy mô, vốn , kỹ thuật, cách thức quản lý..nó đều yếu kém hơn FDI. Ngay cả khi chưa vào FDI, trong vòng 10 năm vừa qua, VN tăng trưởng nhưng nhờ FDI là chính, còn tư nhân VN thì ngày càng lụn bại. Trong cái TPP không có điều gì gọi là nâng đỡ tư nhân VN cả, mà chỉ có tác dụng phân liệt nó hơn. Đây cũng là lý do mà tại sao Thái, Indo, Phi nó không vào. Bởi vì ở những nước này, tư nhân của nó đã phát triển tới một mức độ lớn, nó muốn bảo vệ thị trường của nó. Cho nên nó vào làm gì.
Tất nhiên giống như kiểu « tái ông mất ngựa », trong cái rủi vẫn có cái may. Đó là tư nhân VN có thể tham gia vào gia công. Nhưng muốn thế cũng phải chủ động tiếp cận, chứ không thể chỉ ngồi cắn lẫn nhau, rồi than thân trách phận là nhà nước không ủng hộ.
Một trong những cách thân thân trách phận, là doanh nghiệp tư nhân lại đi nhòm ngó thị phần của doanh nghiệp nhà nước, bằng cách đòi tư hữu hoá đê mình thành tư bản thân hữu, chứ còn đấu với FDI thì không dám.
Trong khi đó cái điều nên làm là tư nhân VN phải liên minh với doanh nghiệp nhà nước, từ đó mà cả hai vươn lên chiếm lĩnh kỹ thuật, quản lý, phân phối để cùng nhau có thể tạo thành một chuỗi giá trị gia tăng 100% VN (hay trong cái chuỗi đó, doanh nghiệp VN là người cầm chịch) trong thị trường toàn cầu. Cái đích đó chẳng thấy ông nào nói ra, quanh đi quẩn lại cũng chỉ gà nhà đá nhau. Đấy là thực tế.
(còn tiếp)
Phó Thường Nhân
Phân tích đến đây, về phần kinh tế, người ta có thể rút ra một kết luận, đó là cái TPP là hiệp định mang lợi cho FDI, cho Mỹ là chính. Với Mỹ hiệp định này giúp cho Mỹ đóng mở thị trường của mình theo ý thích của nó, nhu cầu của nó. Bản thân nước Mỹ cũng cần một thị trường cửu vạn cho nó. Trước đây, cái thị trường cửu vạn này là Trung quốc. Nhưng xung đột có thể xẩy ra đã khiến cái thị trường cửu vạn này bấp bênh hơn. Mỹ đã tìm cách chuyển nó qua Ấn, nhưng Ấn không đáp ứng được nhu cầu của nó , vì chính sách bảo hộ của mình. Chính vì thế Mỹ muốn chuyển sang ĐNA. Trong ĐNA, VN là nước mà điều kiện xã hội, địa chính trị đáp ứng đầy đủ nhu cầu đó nhất, không kể các nước khác ở ĐNA không muốn tham gia. Với các đối tác FDI ở VN, hiệp định này là bộ quần áo may theo đúng cơ thể của họ. Nhật Hàn đều sống bằng xuất khẩu. Trong xuất khẩu thị trường Mỹ rất quan trọng. Họ cũng không còn đủ lao động trong nước. Cái vựa lao động phải tìm ở nơi khác. TPP ở VN đáp ứng quá tốt điều này. Doanh nghiệp VN (cả tư lẫn công) đều chỉ hưởng sái. Như vậy cái câu hỏi đặt ra là : chính sách của chính phủ VN như vậy là mại bản ? Câu trả lời là không. Nhưng tại sao lại thế thì trong phần kết luận của cái tiểu mục dài này, tôi sẽ phân tích.
Cái phần tiếp theo tôi muốn nói tới là chủ quyền tài phán. Có nghĩa là khi có xung đột lợi ích, thì kiện ở đâu, để giải quyết. Có cái gì bảo đảm tính khách quan của tài phán, hay cơ chế cưỡng bức thực hiện của nó. Tôi không có thông tin về chủ quyền tài phán này của TPP, nhưng những điều khoản đó có lẽ giống như những điều khoản của hiệp định thương mại mà Mỹ-EU đang đàm phán. Theo như thế, thì chủ quyền tài phán sẽ được tư hữu hoá, thông qua một cái panel (hội đồng) của các hãng tư. Và điều đặc biệt là quyền tài phán này còn cao hơn chủ quyền. Ví dụ. Nếu một hãng Mỹ và EU xung đột thương mại, thì quyền tài phán này không phải là EU, cũng không phải Mỹ như hiện tại, mà là một cơ chế tư hữu hoá, phi nhà nước. Điều đặc biệt hơn nữa, là nó có thể phạt nhà nước. Nếu như thế thì một nhà nước sẽ bị đánh đồng như một hãng lớn. Tất cả chủ quyền kinh tế của một nước sẽ bị xoá bỏ. Lấy một ví dụ. Hiện tại hãng Microsoft bị EU phạt vì vi phạm những luật về độc quyền. Chủ quyền tài phán là EU. Với kiểu hiệp định « cao cấp » này, Microsoft có thể kiện và phạt .EU mà không phải là ngược lại. Chính cái điều này đã làm cho đàm phán Mỹ-EU bế tắc. Nếu cái hiệp định TPP cũng giống như thế, thì một nhóm hãng tư của nước ngoài có thể ép VN thay luật có lợi cho nó, bất chấp chủ quyền. Còn việc các hãng VN có thể buộc tội Mỹ thì chỉ là trên lý thuyết. Hiện tại, để che dấu cái điều này, thì nó thường nói là các quy tắc luật pháp điều hành sẽ được « bàn luận tập thể » (cooptation). Nhưng bất cứ người nào nghiên cứu các cơ chế kiểu này cũng hiểu các vai vế cuả các bên tham gia là không giống nhau. Nó có bình đẳng hình thức (formal) nhưng không thực chất.
(còn tiếp)
Skywalker
Có một yếu tố theo em là rất quan trọng nhưng không thấy nằm trong cái nền lý luận của bác Phó, đó là tính cấu trúc tạo ra hiệu quả của hệ thống. Bác nhận là Marxist, phân tích trên cơ sở duy vật biện chứng và duy vật lịch sử nghe thì hay ho, nhưng không hề cập nhật các tư tưởng mới của toán học và vật lý của thế kỷ XXI. Phương pháp luận khoa học hiện đại ngày nay gồm cả phân tích (nhằm vào khía cạnh cấu trúc) và tổng quát (nhằm vào khía cạnh toàn thể) cái nào ra cái đó.

Về Hội nghị TW 14 thì chủ trương phát triển kinh tế của VN đã rõ ràng với trọng tâm là tham gia tích cực vào TPP. Hiệp ước này phức tạp, nhưng để phân tích giá trị của nó thì phải có hiểu biết về tính hiệu quả của hệ thống, cụ thể là nền kinh tế mở tiếp cận với các giá trị đã được khẳng định của thế giới (bao gồm nền hành chính - dịch vụ công, đảm bảo các quyền công dân, trật tự văn minh ...vv). VN đang ở một trình độ thấp về hiệu quả của tổ chức xã hội cho nên học tập cách thức của những nước phát triển thông qua học luật chơi là đương nhiên. Trừ phi muốn đóng cửa quay về sự cô độc tự mình viết ra mọi thứ chứ đã 'cắp sách' đi học thì lễ thầy là phải có, và cũng làm gì có chuyện Chí Phèo được Bá Kiến mời ngồi chung chiếu.

Nói ví von cho dễ hiểu, chứ tham gia TPP thì người VN nào cũng mong là tương lai sẽ như Hàn Quốc từ tay trắng học việc mà tự làm nên sau 50 năm. Vật đổi sao dời là lẽ tự nhiên nên chả có gì phải tự ti rằng VN sẽ mãi mãi ở chiếu dưới, nhưng vấn đề là thái độ và năng lực trí tuệ trong học tập hiện tại. Một bộ phận người VN có di chứng của chiến tranh đẫm máu nên thiếu lòng tin vào hệ giá trị phương Tây trong khi cũng không biết làm thế nào để phát triển hệ giá trị 'quá độ lên CNXH', sinh ra thái độ nghi kỵ mà học hành cũng không đến nơi đến chốn.

Đã có toàn văn TPP ở link sau, nếu có thời gian sẽ khảo sát các đặc điểm cấu trúc của nền kinh tế đáp ứng được luật chơi (có thể tập trung vào tính hiệu quả của tự do kinh tế so với KTNN).
http://thuvienphapluat.vn/tintuc/vn/hiep-d...g-hiep-dinh-tpp
blackberry
Mấy cái thằng ngồi bên tây suốt ngày nói dân tộc nó ngu, không có quyền này quyền nọ như chúng nó bên tây.
Có khi đang nhận trợ cấp của tây cũng nên.
Về Việt Nam mà sống xem có cầm cự được vài năm không.
Ra đường cảnh sát giao thông nó tát cho mấy cái là biết nhau ngay thôi
Skywalker
Đề nghị Blackberry tôn trọng thành viên khác và không tấn công cá nhân. Đây là diễn đàn học thuật, cọ xát tư tưởng chứ không phải nơi để tuyên truyền hay làm chính trị.

Ai cũng có trí tuệ của riêng mình mà hơn kém là do tranh luận để đối chiếu và tự chứng. Tranh luận đem lại cơ hội học hỏi nên người tranh luận cũng là người thầy, bất kể cùng hay không cùng chính kiến.
Phó Thường Nhân
@Sky,
Cám ơn Sky về cái link hiệp định TPP. Một hiệp định thì mỗi chữ, mỗi mệnh đề của nó đều rất quan trong, để sau đó các bên sẽ vặn vẹo trong áp dụng để bảo vệ quyền lợi của mình. Tôi mới chỉ đọc nhanh, chủ yếu để xem những điều mình nghi ngờ có thật không. Ngoại trừ phần chủ quyền tài phán, tôi chưa tìm thấy (cũng có thể nó không có trong đó), những điều tôi nói ở trên, và tiếp tục phân tích đều có cả.
Nhưng cũng có những điều có thể gọi là có lợi cho VN. Nhưng đáng tiếc là nó nằm trong phần nguyên tắc chung, và sau đó không thấy được cụ thể hoá chi tiết trong các khoản mục. Ví dụ như sự công nhận trình độ phát triển khác nhau, văn hoá khác nhau. Nhưng đi vào cụ thể áp dụng những nguyên tắc đó thì không có. Trong hiệp định nó cũng không đề cập tới biện pháp trừng phạt với nhau như thế nào. Và rõ ràng sự trừng phạt này phụ thuộc vào vị thế của từng bên.
Ngược lại trong cái phần nguyên tắc chung này, nếu có sự thừa nhận vai trò của doanh nghiệp nhà nước, thì nó cũng nói ngay trong điều khoản đó là doanh nghiệp nhà nước « hạn chế cạnh tranh », và phải nói rõ « minh bạch » vai trò này. Trong các điều khoản cụ thể sau, với phần « mua sắm công », hiệp định đã hạn chế tác động điều khiển của chính phủ và nhà nước bằng cách ưu đãi thị trường mua sắm của mình. Đây là cái lưỡi kiếm treo trên đầu các doanh nghiệp nhà nước, và cũng là cách dìm đi chủ quyền kinh tế. Nó sẽ làm cho việc xây dựng kinh tế dân tộc khó hơn rất nhiều. Trong cái khoản mau bán công này, người ta không thấy các nguyên tắc trình độ phát triển, hay ứng xử văn hoá được sử dụng.
Còn doanh nghiệp tư trong nước, thì sẽ bị hạn chế bởi các điều khoản về nguồn gốc xuất xứ. Ở đây tôi chưa dò ra được các công thức tính xuất xứ tại sao lại thế, xuất phát từ lô gíc nào (cũng có thể tôi không tìm ra được vì không đủ trình độ).
Tất nhiên cả doanh nghiệp tư lẫn công đều có thể sử dụng nguồn nguyên liệu ở trong nội địaTPP, nhưng không có gì đảm bảo để nó có lãi,nếu giá nó đắt hơn nguyên liệu ngoài TPP. Tronng điều kiện ấy, thì tác dụng của TPP bằng không. Trong khi cả nền kinh tế lại bị tròng các thòng lọng khác.
Những điều tôi nhận xét ở trên đã từng xẩy ra trong lịch sử. Đó chính là nước Mexico. Nước này tham gia vào ALENA (là hiệp định FTA « cấp cao » giữa Mỹ-Canada-Mexico), nhưng kinh tế nước này không vì thế mà có phát triển vượt bậc. Cùng thời gian đó, TQ lại rất phát triển, chiếm ưu thế. Trong khi bình thường Mexico với hiệp định này phải có lợi thế hơn TQ chứ. Vì vừa có hiệp định « chất lượng cao » với Mỹ, vừa ở ngay cạnh, dân số , sức lao động dồi dào.. tại sao sức cạnh tranh của Mễ lại kém so với một nước không có hiệp định cấp cao như thế với Mỹ ;
Bây giờ tôi sẽ nói tới ảnh hưởng chính trị-xã hội của nó.
(còn tiếp).
Phó Thường Nhân
Chương 19 : Lao động

(a) tự do liên kết và công nhận hiệu quả quyền thương lượng tập thể;
Cái điều tôi trích ở trên là điều phải để ý. Tất nhiên người ta có thể tìm hiểu « tập thể » được định nghĩa như thế nào. Nhưng một cách hiểu (phổ thông nhất) đó là công đoàn tự do, và nếu hiểu rộng hơn nưã bản thân các doanh nhân, và các tác nhân trong xã hội có thể tự do tổ chức hội đoàn. Và các hội đoàn này không bắt buộc phải nghe chính phủ vì nó chỉ nghe theo « hiệu quả quyền thương lượng » mà thôi. Để tránh làm loãng vấn đề, tôi chỉ đề cập tới khía cạnh hẹp nhất, đó là công đoàn tự do. Cái câu hỏi tôi đặt ra là :
1- Ở VN đã có cơ chế hiệu quả để quản lý hình thức này chưa ? Nếu muốn quản lý phải làm thế nào ?
2- Công đoàn tự do có nghĩa là đa nguyên. Vậy cái đa nguyên này có thể biến thành đa đảng trá hình hay không ?
3- Trong lịch sử đã có trường hợp nào đa nguyên thành đa đảng chưa và hệ luỵ của nó.

Về bản chất của cái điều trên, nó không phải là không tốt. Hiện tại ở VN, mặc dù không được tổ chức, theo thống kê của nhà nước mà tôi đọc trên báo lề phải, hàng năm có tới hơn 2000 vụ công nhân đình công. Báo chí không nói là các vụ việc này được giải quyết thế nào. Cơ chế giải quyết ra sao. Nhưng rõ ràng đây là một vấn đề, mà cái điều khoản trên có thể giúp cho người công nhân tự bảo vệ mình. Bản thân nó là một tiến bộ xã hội. Cái vấn đề đặt ra là, làm sao để cái điều đó mang lại lợi ích thực tế cho người công nhân, mà không bị biến thái đi thành một vấn đề chính trị « treo đầu dê bán thịt chó », và điều quan trọng nữa là không tạo cớ cho bên ngoài, chủ yếu là Mỹ vin vào đó để gây sức ép, phong toả như họ đã làm với Miến điện, không dẫn đến đổ vỡ như UK, và ngay cả khi không có sự can thiệp bên ngoài lớn, sẽ làm xã hội phân rã, đánh lẫn nhau « Áo đỏ/Áo Vàng » như Thái. VN không có thời gian để mất trong những vấn đề như thế. Ví dụ ở Miến, do tính toán sai lầm, mà mất đi 20 phát triển. UK thì không biết đến bao giờ mới thoát. Tiến bộ như Thái, chính phủ cũng hoàn toàn tê liệt. Như vậy nếu không khéo, thì tự mình đào hố chôn mình. mình đây là VN, không phải là Đảng
(còn tiếp)
Pages: 1, 2, 3
Quán nước đầu làng Ven > Gặp Gỡ - Trao Đổi - Làm Quen > Thời Sự
Bạn đang xem phiên bản gọn nhẹ của diễn đ n dưới dạng text, để xem các b i viết với đầy đủ mầu sắc v hình ảnh hãy nhấn v o đây !
Invision Power Board © 2001-2018 Invision Power Services, Inc.