Langven.com Forum

Giúp đỡ - Lục lọi - Dân l ng - Lịch
Full Version: Chiến Tranh Biên Giới Bảo Vệ Tổ Quốc 1979-1991
Quán nước đầu làng Ven > Sáng Tác - Thảo Luận - Phổ biến kiến thức > CLB Văn Hoá - Lịch sử
Pages: 1, 2
Phó Thường Nhân
Chiến tranh biên giới năm 1979. Gọi là một cuộc chiến tranh, nhưng thật ra nó là tăng ba của một cuộc chiến tranh bắt đầu từ năm 1946, lúc toàn quốc kháng chiến chống Pháp và kết thúc vào năm 1991. Tăng đầu là kháng chiến chống Pháp, kết thúc bằng chiến dịch lịch sử Điện Biên Phủ và hiệp định Giơ nép vơ năm 1954. Tăng hai bắt đầu vào năm 1959 kết thúc bằng chiến dịch Hồ chí Minh giải phóng Sài gòn thống nhất đất nước năm 1975, đây là kháng chiến chống Mỹ. Tăng ba bắt đầu năm 1979 kết thúc năm 1991 chống bành trướng TQ. Giữa ba tăng, có hai kỳ “nghỉ giải lao”: 1954-1959, 1975-1979. Gọi là nghỉ giải lao, nhưng nó là những giai đoạn đánh nhau âm thầm.
So với hai tăng đầu, cái tăng 3 này có nhiều điều đặc biệt, đó là nó kết thúc âm thầm hơn, không bằng một chiến thắng vang dội. Thậm chí nó còn bị nghi ngờ là có một thứ “hội nghị Thành đô” nào đó, mà cho đến bây giờ sự tồn tại của nó vẫn là điều không rõ ràng.
Cái tăng 3 này cũng là tăng mà ít được nói đến nhất. Không đơn giản bởi vì TQ là một nước láng giềng, VN bắt buộc phải chung sống, mà nó còn có điều đặc biệt là hai nước cùng theo một hệ thống tư tưởng, đã từng là đồng minh với nhau. Trước đây, người ta chỉ có thể nghĩ rằng chiến tranh là hệ quả của chủ nghĩa đế quốc. TQ là nước xây dựng chủ nghĩa xã hội, thì không nằm trong đó. Tất nhiên người ta có thể giải thích làTQ đã phản bội chủ nghĩa xã hội, trở thành đế quốc. Nhưng có lẽ điều đó không đơn giản như vậy.
Một điều nữa, khiến một người yêu thích lịch sử như tôi rất ngạc nhiên, cách đây khoảng 10 năm, dư luận ở VN lại coi cuộc chiến tranh này như là một sự thua cuộc. Giống như kiểu ông Bảo ninh nhận xét về chiến tranh chống Mỹ, chỉ thấy mất mát mà không phân bịêt được phải trái thuộc về ai.
Một điều đặc biệt nữa, là cuộc chiến tranh này là cuộc chiến tranh của cả nước VN thống nhất. Không có người Việt nam cầm súng đứng về phía TQ.
Với TQ, cuộc chiến tranh này cũng có ý nghĩa lớn. Đó là cuộc chiến tranh dài nhất từ khi nhà nước cộng hoà nhân dân Trung hoar ra đời. Về mức độ và quy mô, nó chỉ kém chiến tranh Triều tiên. Trong khoảng thời gian hơn 10 năm này, cũng có tới nửa triệu binh lính TQ được “thử lửa”, là kinh nghiệm chiến tranh cuối cùng của nước này tính tới hôm nay. Và tất nhiên nó cũng ảnh hưởng tới phẩm trật, tăng tiến của đội ngũ sĩ quan TQ trong vòng 30 năm qua.
Như vậy việc tôn vinh cuộc chiến tranh này, như một cuộc chiến tranh bảo vệ tổ quốc là điều nên làm và phải làm. Và phải phân tích nó chính xác để cho chính người TQ cũng có thể hiểu được, chứ không thể phân tích theo kiểu “toàn dân VN chống toàn dân TQ”.
Cũng như các cuộc chiến tranh trước đó chống Pháp, Mỹ. Trong xã hội của họ cũng có những người dân tiến bộ không ủng hộ. Trong cuộc chiến tranh chống bành trướng TQ, không phải tất cả phe phái trong ĐCS TQ đều như vậy. Trong thực tế nó liên quan rất nhiều tới đấu đá phe phái ở nội bộ TQ.
Cuộc chiến tranh này là do phe phái Đặng Tiểu Bình đặt ra và nó có nhiều lý do:
1- Lý do đầu tiên là cuộc chiến tranh này sẽ giúp Đặng và phe ông ta loại bỏ hoàn toàn phe tả, là phe hậu duệ của cách mạng văn hoá. Đặng muốn chứng tỏ, TQ không có cách nào khác là phải chơi với phương Tây, học khoa học kỹ thuật của nó. Đánh VN, TQ đã chứng tỏ hoàn toàn không còn là một nước XHCN nữa. Và quả thật phe tả của ĐCS TQ đã bị phe Đặng loại hoàn toàn.
2- Lý do thứ nhì là đánh VN, Đặng đã trả ơn lại Mỹ, hình thành nên trục Mỹ-TQ để nhằm chống Liên Xô. Về mặt giấy tờ hợp pháp, người ta không thể tìm thấy bằng chứng nào Mỹ trực tiếp ủng hộ TQ đánh VN mà luôn can ngăn. Nhưng các hành động khác như thương mại, tài chính, .. TQ đã được Mỹ ủng hộ tích cực.
Nếu hiện nay ở TQ, những thành quả với TQ do Đặng và phe phái của mình tạo ra vẫn được coi trọng,thì những bất cập của nó với sự phát triển của TQ cũng được người ta bắt đầu nói tới. Bởi vì mặc dù phát triển, trong thực tế TQ vẫn là nước nghèo. Và sự phát triển không cân đối này, có thể làm tan rã TQ. Trong tình hình đó, TQ cũng sẽ đánh giá lại tác động của cuộc chiến tranh với VN, và cái nhìn của họ sẽ cân đối hơn. Hay nói tóm lại, nếu TQ bắt đầu đánh giá lại công trình của Đặng tiểu Bình (thừa nhận cả tốt cả xấu với xã hội TQ), thì cuộc chiến tranh với VN càng tỏ rõ tính vô lý của nó.
Khi tôi nói như trên, không phải là biện hộ cho TQ, mà đó là ví dụ để nói rằng không nên cho tất cả người TQ vào một rọ. Điều ấy không phản ánh thực tế.

Khi cuộc chiến tranh bảo vệ biên giới nổ ra, báo chí VN đã phản ứng quyết liệt. Chỉ cho tới giai đoạn cuối thì nó mới giảm (1991). Việc làm đó của báo chí là đúng, nhưng về mặt lịch sử thì nó mất tính khách quan, vì đã ở trong chiến tranh thì phải tuyên truyền. Một trong những cái không khách quan ấy là bỏ chung tất cả chính sách của ĐCS TQ vào một rọ, bành trướng tính từ Mao trạch Đông trở đi. Điều đó hoàn toàn không đúng, vì rõ ràng trong kháng chiến chống Pháp, TQ thật sự giúp VN. Trong kháng chiến chống Mỹ, giai đoạn đầu từ 1959 đến 1965, TQ cũng giúp VN là chính, chứ không phải là Liên Xô, lúc đó còn đang trong giai đoạn “xét lại” muốn hoà bình với Mỹ. Bỏ chung vào một rọ, tự nhiên rơi vào bẫy của chính phe phái Đặng, giúp chúng xoá xổ những người TQ không đồng ý kiến dễ dàng hơn.
Mấy hôm nay đọc báo VN, thấy có những kỷ niệm giành cho những người đã hi sinh trong cuộc chiến tranh này, tôi rất mừng. Vì một khoảng “tương đối trắng” trong lịch sử VN hiện đại sẽ được trả đúng lại giá trị của nó. Nhưng người đã hi sinh vì tổ quốc được ghi ơn. Nhưng đây cũng là lúc nhìn nhận lịch sử nghiêm túc, và phải có cái nhìn sâu sắc chính xác, có như thế thì sự tri ân với những người đã mất mới đầy đủ.

root
Bài viết của bác Phó rất là hay, tuy nhiên em thì cho rằng nếu như không có sự kiện TQ hung hăng trên biển Đông trong thời gian qua thì nước ta cũng chả kỷ niệm rầm rộ ngày 17/2 làm gì
Phó Thường Nhân
@root,
Ồ, nếu quan niệm lịch sử chỉ là biến số của thời sự thì thật là nguy hiểm. Vì thế khác gì lấy đầu làm chân. Trong thực tế thì lịch sử phải là cái đế, là kinh nghiệm, để từ đó người ta rút ra những bài học giải quyết những việc thời sự. Chứ không phải ngược lại là cần thì trưng lịch sử ra để biện hộ cho thời sự, làm như thế thì lịch sử sẽ méo mó. Lịch sử là những sự kiện được đánh giá sau một thời gian dài, có sự trầm lắng, gần với sự thật hơn, ít chịu áp lực của tâm lý hơn. Nếu giờ sử dụng lịch sử như công cụ của thời sự, thì nó không còn là lịch sử nữa, mà chỉ còn là kích động, tuyên truyền.
Như vậy bất luận quan hệ với TQ ra sao, biến động biển đông thế nào, thì lịch sử vẫn phải nói. Ngược lại thời điểm và cách nói người nói cũng cần để ý vì nó lại tác động ngược vào thời sự. Tôi nghĩ rằng hành động của chủ tịch nước Trương Tấn Sang lên biên giới thắp hương cho các liệt sĩ là rất chuẩn, và đó là điểm sáng của nhiệm kỳ của ông. Tại sao tôi nói là chuẩn? bởi vì việc đó đúng với vai trò của chủ tịch nước. Bởi vì thời điểm rất tốt, Vào cuối nhiệm kỳ những điều ông Sang làm sẽ không ảnh hưởng lớn tới tính thời sự, đồng thời nó cũng như là những điều mà ông muốn gửi gắp lại cho nhiệm kỳ tiếp, đồng thời nó cũng chính là ..lịch sử không thể bỏ qua.
Ngược lại hãy giả dụ là Tổng bí thư Nguyễn Phú Trọng lên thắp hương thì sao. Lập tức câu chuyện sẽ thành một vấn đề thời sự, vì cái biểu tượng (symbole) của nó sẽ là “chống TQ” lịch sử sẽ bị lợi dụng bởi thời sự, tạo thêm điều bất lợi cho quan hệ hai bên. Đây chính là quan hệ tương tác giữa lịch sử và thời sự, vì lịch sử thực ra là thời sự buổi quá khứ tổng kết lại.
Để có thể hiểu chính xác chiến tranh biên giới bảo vệ tổ quốc 1979-1991, thì phải nhìn thấy rõ nó là chiến tranh tự vệ, vệ quốc. đồng thời cũng phải chỉ ra đó là sai lầm của TQ, do phe phái đấu đá của nó tạo ra, chứ không hẳn hoàn toàn là “người TQ bành trướng”. Và trách nhiệm về phía TQ là nhóm của Đặng tiểu Bình, đường hướng chính trị của nhóm này, và những hệ quả của nó tạo ra cho đến nay. Đặng tiểu Bình sẽ luôn được lịch sử TQ tôn vinh, điều đó là tất nhiên, nhưng không phải vì thế mà ông ta chỉ làm điều tốt cho TQ. Và VN phải chỉ ra được cái điều xấu, cái mặt tối của những người này. Chỉ có thể như thế thì lịch sử mới gần sự thật.
Phó Thường Nhân
Tiếp cái mạch viết trên. Khi đọc những bài về chiến tranh biên giới bảo vệ tổ quốc 1979-1991, tôi thấy nổi lên một điều khiến phải suy nghĩ. Đó là người ta bệ nguyên những gì báo chí nói thời 1979 xào lại. Vào thời điểm đó, những điều đó là thời sự, nhưng bây giờ nó là lịch sử, thì cái nhìn của mình phải chinh xác hơn. Đã nói tới thời sự, thì thường nó có tính phiến diện, và bởi thời năm 1979, báo chí VN phải làm thế nào đó để “giải thích” được hành động của TQ. Từ đó dẫn đến hai việc không chuẩn xác, dẫn tới việc bỏ tất cả TQ vào một rọ như tôi đã nói ở trên.
1- Đó là vai trò của Mao trạch Đông, và cùng với nó là tư duy của cả Đảng cộng sản TQ từ khi ra đời. Ở đây “bành trướng” đã được gán cho toàn bộ ý thức hệ của Đàng cộng sản TQ.
2- Đã coi chủ nghĩa mao là không phải là một nhánh của chủ nghĩa Mác, và việc bành trướng cũng có tính di truyền do sự phản bội chủ nghĩa Mác này.
Để làm việc “giải thích” này, ở VN đã dùng hai loại tài liệu. Loại thứ nhất là những bài viết của báo chí phương Tây, mà tất nhiên cái nhìn của nó là học thuật tư sản. Lịch sử đảng CS TQ trở hành cái sân khấu để các nhân vật chính trị TQ (Mao, Đặng, Lưu, Bành, Chu..) đấu đá nhau về quyền lợi cá nhân y hệt như khi họ phân tích đảng cộng sản VN. Nhưng nếu mình đã không chấp nhận cách họ phân tích về VN, thì sao lại chấp nhận cách phân tích này về TQ.
Loại tài liệu thứ 2, ít được sử dụng hơn nhiều, đó là phê phán của Liên Xô với TQ. Lúc bấy giờ , tức là năm 1979, báo chí VN đầy việc phê phán mao ít (tức là chủ nghĩa mao maoisme), nhưng không ai nói mao ít là cái gì. Điều đó rất kích thích trí tò mò của tôi, lúc ấy còn là học sinh. Sau này khi tìm hiểu qua các tài liệu của Liên Xô, phương Tây, ..thì tôi thấy có nhiều điều mao ít cũng được sử dụng ở VN. Như vậy tại sao ở TQ thì nó là sai, ở VN thì nó..không sai. Một phần rất lớn cách thức giáo dục tư tưởng, cả hình thức hợp tác xã, tổ đổi công, nhà nước nhân dân cùng làm,..v..v.. là mao ít. Trong kháng chiến chống Pháp, chống Mỹ, và ngay cả khi chống TQ, cách thức giáo dục tư tưởng này rất lợi hại, nó đã góp phần bù đắp vào sự chênh lệch về hoả lực, về vũ khí..Như vậy là nó có tác dụng tốt. Rất may là ở VN lúc đó, người ta chỉ nói chống mao ít, mà không nói nội dung của nó là gì.
Những điều trên có thể chấp nhận vào thời điểm 1979-1991. Nhưng bây giờ mà vẫn lôi nó ra xào lại khi nói về cuộc chiến tranh này thì rõ ràng không ổn. Và về mặt khách quan nó cũng không đúng.
1- Thế nhất về Mao. Khi TQ đánh VN thì Mao đã mất (1976), và lý do tranh giành quyền giữa các phe phái sau khi Mao mất là một trong những lý do dẫn tới cuộc chiến. Khi Mao mất, theo di chúc của Mao, người nắm quyền sẽ là Hoa quốc Phong. Còn Đặng, thì không biết bao nhiêu lần đã bị Mao truất quyền đuổi đi. Và lên nắm quyền trở lại không phải vì kế tục Mao. Người nào có quyết định đánh VN. Đặng tiểu Bình. Vậy tại sao chỉ vin vào cái câu nói “tôi sẽ dẫn 400 triệu dân TQ xuống ĐNA”, để buộc tội ông ta. Vì thực tế nó xẩy ra như thế đâu. Không kể Mao đã tác động rất nhiều để Đảng CS TQ giúp VN. Chính ông Lê Đức Anh cũng nói rằng, khi gặp Mao khoảng năm 1965, chính Mao đã chỉ thị nóng cho chính phủ TQ đưa tiền đô cho VN để mua vũ khí ở Cam pu chia. Như vậy không chỉ vì một câu nói, mà nó không có hệ quả, mà xổ toẹt những việc thực thì là không phải.
2- Khi Đặng tiểu Bình lên, thì những gì là dấu ấn của ông Mao (mao ít) đều dần dần bị xoá bỏ ở TQ. Như vậy khi TQ đánh VN thì nó có còn mao ít nữa đâu (chính xác hơn, Đặng đã viện cớ cuộc chiến này, để loại bỏ những gì TQ thời mao). Thế có nghĩa là VN “chửi” cái điều vô hại cho mình, tiếp tay vô ý thức cho Đặng.
Khi tôi phân tích như trên, điều đó không có nghĩa là Mao và các đồng sự của ông không có ý định can thiệp vào nước khác, gây ảnh hưởng, ..Nhưng đó là chuyện bình thường của quan hệ quốc tế. Như vậy trong thực tế phải đánh giá cái thực tế, những gì đã xẩy ra, ..chứ không phải đã không thích người ta, có thù oán (có lý do chính đáng hay không) rồi cứ nói trùm nói lợp thì không phải. Cái đó chỉ là tuyên truyền. Rồi đến lúc nào đó sẽ há miệng mắc quai, vì đã tuyên truyền thì bao giờ cũng phiến diện.
Phó Thường Nhân
Tóm lại, cuộc chiến tranh biên giới bảo vệ tổ quốc này phải được kỷ niệm, đưa vào giáo dục phổ thông như hai cuộc kháng chiến trước. Nhưng không nên xử dụng nó như một biến số của thời sự. Điều đó đi ngược với lịch sử. Ngược lại nên nhấn mạnh tính vô lý sai trái của nó, để bản thân người TQ có lương tri cũng thấy được.
Hiện tại quan hệ VN-TQ đã đủ độ nóng trong thời sự, nên càng không nên sử dụng một cách dễ dãi cuộc chiến tranh này để kích nó nóng thêm. Ngược lại nên nhìn nó theo hướng :
1- Tri ân những người đã hi sinh trong cuộc chiến tranh này để bảo vệ tổ quốc.
2- Chỉ ra cái sai của TQ trong cuộc chiến tranh đó, để cho họ thấy rằng trong tương lai nên có quan hệ hữu nghị hoà hảo thì tốt hơn cho cả hai bên.
Cái điều thứ 2 này tôi nói ra ở đây, chắc sẽ làm nhiều người “nhột” vì nó không đi theo chiều kích động, anh hùng bàn phím. Nhưng cái điều này rất quan trọng, để hai nước láng giềng có thể chung sống với nhau. Đây chính là cái tư duy mà tôi nói. “Có đánh nhau cũng phải giữ cửa để còn quan hệ lại, có thân thiết cũng phải đề phòng nó lật lọng”.
Khi nói như thế, người TQ có nghe không. Điều này thì không thể biết được, nhưng dù họ không nghe thì vẫn còn một cái cửa để họ có thể nghe, nếu muốn, để những người TQ có lương tri có thể sử dụng nó.
Khi đọc các phản hồi của bạn đọc trên những bài viết về chiến tranh biên giới này. Có nhiều ý kiến “phẫn nộ” là tại sao người ta có thể biết về các trận Bạch Đằng, Chi lăng, Đống đa, .. mà trong sách giáo khoa sử không có (hay sơ sài) về chiến tranh biên giới. Tôi không có sách giáo khoa sử phổ thông ở VN hiện tại, nên không thể nói gì được. Dù sao nó cũng đặt cho tôi câu hỏi. Vậy trong quá khứ, các cụ đã viết sử thế nào. Những cuộc kháng chiến chống Tống, Minh, Thanh này..được xử lý thế nào. Ai muốn tìm hiểu có thể tìm hiểu tương đối dễ qua các bộ sử VN (nó cũng không có nhiều): Đại Việt sử ký, Đại Nam thực lục, Đại nam liệt truyện, Đại Việt thông sử.. Khi tôi đọc các tác phẩm này, đọc đã lâu, nên tôi không thể nhớ chi tiết, nhưng cảm nhận thì vẫn còn nguyên. Cái nhận xét của tôi là, phần sử dành cho các cuộc kháng chiến chống các triều đại phong kiến TQ không nhiều, giỏi lắm được 1/4 (mà đấy là tôi đã rộng lượng). Lấy ví dụ đặc trưng. Trong Đại Việt sử ký,kỷ nhà Lê phần nói về kháng chiến chống quân Minh không chiếm hết sử triều Lê, ngược lại một phần lớn của nó liên quan tới việc chuyên quyền của Lê Ngân, Lê Sát, việc sát hại các công thần như Trần Nguyên Hãn, Nguyễn Trãi, nhưng khó khăn của chính quyền nhà Lê trong quản lý đất nước, ngoại giao khó khăn với nhà Minh, vấn đề Cham pa… Các quyển sử khác cũng như vậy. Nếu đọc các tác phẩm của Lê Quý Đôn, là một nhà bác học của VN cuối thời chúa Trịnh (Vân đài loại ngữ, Kiến văn tiểu lục..), thì người ta còn có cảm giác là học giả này quan niệm về nhà Thanh rất mờ nhạt. Cũng đơn giản bởi thời ông, trong suốt 300 là đánh nhau nội bộ giữa các tập đoàn phong kiến VN, và cuộc xâm lược của nhà Thanh xẩy ra về sau.
Như vậy so với sách sử thời nay, cả sách giáo khoa và nghiên cứu lịch sử nói chung, thì phần “kháng chiến chống xâm lược” trong cổ sử chiếm một phần nhỏ hơn nhiều. Lịch sử chiến tranh chiếm đa số chương trình học ngày nay, có lẽ là hệ quả của các cuộc kháng chiến chống ngoại xâm trong lịch sử VN hiện đại chứ không phải là sử học theo quan niệm các cụ. Điều này không khiến các cụ kém yêu nước hơn người VN hiện đại mà nó lại mở cửa tâm lý để mềm dẻo xây dựng bảo vệ đất nước, tồn tại phát triển được bên cạnh TQ.
Thời phong kiến cũng không có giáo dục phổ thông, nên phần sách giáo khoa sử hiện tại, thực tế là áp dụng giáo dục theo kiểu phương Tây. Vậy trong môn sử ở phương Tây, nó có các khoảng trắng, tối mờ mờ không. Có chứ ? ví dụ ở Pháp. Lịch sử trong trường phổ thông rất ít đề cập tới vấn đề thuộc địa, giải phóng thuộc địa. Các cuộc đại chiến I, II cũng được họ đặt vấn đề lại, vì hiện nay tất cả các bên tham chiến trong hai cuộc chiến này đều nằm trong EU. Điều này không ngăn cản tâm lý người Pháp rất sợ và ghét người Đức. Nhưng không vì thế mà nó bệ nguyên cái đó vào lịch sử. Lịch sử là cái cầu là gốc để tìm hiểu và nâng cao nhận thức xã hội, chứ không phải nhằm vào gây hận thù. Đặc biệt là giáo dục phổ thông. Ngược lại không ai cấm những người yêu lịch sử tìm hiểu thêm bên ngoài sách giáo khoa. Cuộc đời đâu chỉ năm trong sách giáo khoa, vậy cũng đừng nên biến chúng thành một thứ công cụ nhất thời.
Phó Thường Nhân
Cuộc chiến tranh biên giới 1979-1991, có một giai đoạn “mở màn” ở biên giới Cam pu chia. Giai đoạn này bắt đầu từ ngay sau năm 1975, khi Pôn Pốt liên tục đưa quân đánh vào biên giới phía Tây-Nam. Vào giai đoạn 1977-1978, thì nó đã trở thành cuộc chiến tranh thực sự. Một cuộc chiến tranh không thể giải quyết được nếu không đưa quân vào lật đổ chế độ Pôn Pốt, vì Cam pu chia không chịu thương lượng ngừng chiến. Trên bề mặt, TQ ủng hộ hai bên đàm phán để giải quyết, nhưng cùng lúc TQ vẫn tiếp tục viện trợ, chi viện vũ khí cho chính quyền Pôn Pốt. Cùng lúc đó, quan hệ VN-TQ trở nên khó khăn hơn. TQ cắt viện trợ cho VN, tạo nên vấn đề “nạn kiều” (1978). Cách đây một vài năm, tôi có đọc ở đâu đó một quyển tiểu thuyết của một tác giả Việt kiều (hình như là Đoàn Minh Phượng), nói lên số phận của những người Việt gốc Hoa sống ở VN. Trong cuốn tiểu thuyết, tác giả dường như có nói lên việc có những người không liên quan gì tới chính trị cũng bị mời đi. Lúc đọc, tôi đã nghĩ “à, hoá ra bây giờ mới gớm nhỉ”. Trong thực tế, có lẽ nó hơi khác ở những điểm sau:
1- Nhiều người Hoa lúc đó cũng muốn đi, vì đời sống sau chiến tranh ở VN rất cơ cực. Khi họ ra đi, phần lớn Hoa kiều đều được phương Tây đón đi. Chỉ có một số rất ít về TQ. Lúc về đến TQ, họ được đi đi các vùng nông thôn xa xôi, nên nhiều người lại trốn ngược ra các trại tị nạn ở Hồng công, để đi khỏi TQ.
2- Hoa kiều (đặc biệt ở miền Nam, chủ yếu là thành phố HCM) muốn đi vì có cải tạo kinh tế tư nhân, tiểu thương. Người Hoa sống chủ yếu bằng buôn bán. Chính sách tập thể hoá này làm họ không có đất sống.
Như vậy vấn đề “nạn kiều” không phải là do người Hoa bị kỳ thị, mà đó là hoàn cảnh chính sách được áp dụng chung. Trong vấn đề nạn kiều này, có sự phối hợp giữa phương Tây và TQ. Vì nếu chỉ ra đi để về TQ, thì làn sóng “nạn kiều” này sẽ rất nhỏ.
Bản thân người Hoa về TQ cũng thấy không thể sống được, vì họ quá khác với người TQ. Ở Quảng châu, đã từng có vụ xô sát giữa Hoa kiều và người TQ bản địa, dẫn tới đánh bị thương cả con bí thư tỉnh uỷ Quảng châu lúc đó. Có xô xát như vây, bởi vì về đến TQ họ cũng bị kỳ thị, chính quyền TQ khi tuyên truyền thì nói một cách, sự đối sử một khi về đến TQ nó lại khác.
Khi đọc cuốn tiểu thuyết mà tôi nói trên, người ta có cảm nhận là người Hoa bị đuổi đi, bị vận động ra đi. Tôi không dám nói điều đó không có. Nhưng nó không phải là điểm khởi đầu, không phải tự nhiên mà ra. Người Việt gốc Hoa ở VN, thực ra là nạn nhân của chính sách ngoại giao TQ lúc đó. Thực ra thì cái cộng đồng người này cũng không thiệt vì bị “VN đuổi đi”, vì cũng nhờ có lý do đó , mà họ đã đến định cư ở các nước tư bản phát triển.
Điều đáng chú ý nữa, là nếu chính quyền TQ lúc đó quan tâm tới người Việt gốc Hoa như vậy, thì họ hoàn toàn lờ đi số phận của người Cam pu chia gốc Hoa, trong khi đó số phận của cộng đồng này rất là bi thảm. Bị đuổi khỏi nhà cửa, gia đình chia rẽ, phải đi lao động khổ sai đào mương đào cống vô ích (vì nó có theo kế hoạch kỹ thuật gì đâu, đào cho vui thôi). Ngay ở Pháp, tôi cũng gặp nhiều người là Hoa kiều ở Cam pu chia, và họ đều nói rằng, nhờ VN đánh Pôn Pốt năm 1979 họ mới thoát chết. Nhiều người đã sống ở các trại tị nạn tại VN, trước khi đi định cư.
Đến năm 1978, thì khả năng TQ đánh VN đã rất lớn. Tại sao lại thế bởi vì TQ có những tính toán sau:
1- Cuộc đấu tranh nội bộ ở TQ đã rất gay gắt. Bởi vì phái tả (đầu tiên là “nhóm 4 tên”, rồi Hoa quốc Phong) đã bị hạ, nhưng Đặng tiểu Bình và phe nhóm cuả ông ta chưa hoàn toàn thu phục được nhân tâm để thực hiện “4 hiện đại hoá”. Để thực hiện được chương trình này, thì phải chứng tỏ được TQ đã bị phái tả làm cho “nghèo nàn, lạc hậu”. một cuộc chiến tranh với VN sẽ giúp Đặng chỉ ra cái “nghèo nàn lạc hậu” ấy trong quân đội TQ thu phục nhân tâm để thực hiện “4 hiện đại”.
2- Năm 1975, Mỹ đã phải rút quân khỏi VN. Vùng ĐNA được coi như vùng trắng, TQ muốn nhân cơ hội ấy thay thế Mỹ. Nhưng để làm việc đó, TQ phải bọc nó dưới vẻ “giúp đỡ” Mỹ, thực hiện chính sách của Mỹ.
3- Mỹ rút khỏi VN, đang cay cú muốn trả thù. Vì thế muốn lợi dụng TQ.
Chính vì thế mà hình thành liên minh Trung-Mỹ. Một liên minh ngầm. Năm 1978, Đặng Tiểu bình đi Mỹ, và đã thông báo cho Mỹ ý định trừng phạt VN. Đây là điều cực kỳ đặc biệt, vì những dạng thông báo như thế, người ta chỉ dành cho đồng minh. Nhưng Trung quốc và Mỹ đâu có phải là đồng minh. Bằng việc làm đó, Đặng Tiểu bình đã chơi một ván cờ tuyệt hảo, và chính nhờ nước cờ ấy, mà quan hệ kinh tế Trung-Mỹ đạt đến được quan hệ như ngày nay.

Phó Thường Nhân
Như vậy cuộc chiến tranh bảo vệ biên giới 1979-1991 khó có thể trình bầy nó độc lập mà không gắn liền nó với cuộc chiến tranh ở Cam pu chia. Và việc giải quyết được nó là một giải pháp trọn gói, trong đó tác động của tình hình thế giới vào TQ rất là lớn.
Về thực tế chiến trường, cuộc chiến ở biên giới phía Bắc này có thể chia làm mấy chặng. Chặng đầu tiên vào giai đoạn đầu kéo dài khoảng một tháng, từ tháng 2 đến tháng 3 năm 1979. TQ đánh vào VN qua hai ngả chính (cũng như các lần xâm lược trước trong lịch sử): qua Lào cai (do quân khu Vân Nam tác chiến) và qua Cao bằng - Lạng sơn (quân khu Quảng Tây). Bị thất bại nặng, TQ rút quân qua biên giới và bây giờ bắt đầu một cuộc chiến tranh ở mức độ thấp, nhưng liên tục. Đến năm 1984 (hay 1983) cuộc chiến lại nổi lên quyết liệt, nhằm vào những cao điểm ở Hà giang (Vị xuyên) do phía VN chủ động. Sau đó cuộc chiến lại giảm tần xuất, cho tới lúc VN và TQ nối lại đàm phán với nhau năm 90-91, thì cuộc chiến kết thúc. Năm ngoái , 2015, trên báo quân đội nhân dân, có đăng những bài báo viết về sư đoàn 356, sau này giải tán,là sư đoàn đã tham chiến ở Hà giang. Cuộc chiến năm 84 này là hoà, và việc tác chiến ở Hà giang, chứ không phải về phía Lào cai hay Cao bằng có thể là tư duy không muốn mở rộng cuộc chiến, nếu cao danh nghĩa tự vệ của VN. Vì đây là vùng núi không có ý nghĩa thực sự về chiến lược. Nếu thực sự muốn đánh TQ thì phải nhằm vào Nam ninh (giống như Lý thường Kiệt ngày xưa) phía Lạng sơn. Chiến dịch năm 1984 như vậy chỉ là cánh phụ cho mặt trận Cam pu chia. Vì cùng thời gian này, VN cũng tổng tấn công ở Cam pu chia, đẩy lùi quân Pôn pốt đến gần biên giới Thái. Chiến dịch này không tiêu diệt được hoàn toàn Pôn pốt, nhưng cũng đẩy quân Pôn pốt vào thế không thể thắng. Lúc bấy giờ báo chí phương Tây có nói đến việc Vn lập hàng rào tre (so sánh với hàng rào sắt ngăn khối XHCN Đông Âu với Tây Âu). Nhưng được sự trợ giúp của Mỹ, TQ, Thái. VN không thể kết thúc được cuộc chiến vì Pôn Pốt có căn cứ ở đất Thái. Những trại tị nạn người Cam pu chia ở đây, trở thành nơi Pôn pốt và các phái khác của Cam pu chia tuyển quân.
Đáng chú ý là cũng khoảng thời gian này, Thái lan cũng đánh vào Lào, nhằm vào tỉnh nằm phía bờ bên kia của sông Mê công, phía trên Viên Chăn. Quân đội Vn đã trợ giúp quân đội Lào, đánh bại quân Thái. Ngược lại vào khoảng 1988 (tôi nhớ không chính xác), thì TQ đã chiếm một số đảo ở Trường Sa (trận Gạc ma). Lúc này, Hải quân LX ở Cam ranh vẫn án binh bất động.
Năm 1989 có nhiều biến động trên thế giới. Liên Xô sụp đổ, TQ bị phương Tây trừng phạt về vụ Thiên An Môn. Với TQ, mối lo ngại Liên Xô không còn nữa (lúc đó trong Đảng CS TQ phái nào muốn mang Liên Xô ra hù doạ để thân Mỹ cũng không được nữa), cùng lúc với vụ Thiên An Môn, TQ cũng trở thành đối tượng lật đổ của Mỹ. Đặng tiểu Bình đã về vườn, dù vẫn còn uy thế “thái thượng hoàng”. Nhưng điều đó đã khiến TQ lo ngại biên giới phía Nam của mình. Trên cơ sở đó mà họ chấp nhận đàm phán.
Về phía VN, càng về sau cuộc chiến càng mang lại nhiều bất lợi cho VN. Mặc dù được Liên Xô ủng hộ hết sức (cho đến khi Gorbarchev lên cầm quyền), cuộc chiến càng về sau càng mang tính chất một cuộc chiến uỷ nhiệm. Dù VN đã nhiều lần muốn thương lượng với TQ nhưng không được, cũng như các thương lượng với Mỹ. Trong điều kiện ấy, tính chất uỷ nhiệm tăng lên, vì không thể bỏ Liên Xô. Bản thân Liên Xô cũng làm nhiều điều khiến tính chất uỷ nhiệm tăng lên, ví dụ việc điều động máy bay ném bom chiến lược tới Cam ranh, và định mang cả bom nguyên tử vào. Người ta có thể đánh giá nó như sự trợ giúp tuyệt đối của LX, nhưng cũng có thể nói việc “thay đổi cán cân lực lượng chiến lược” ấy, càng khiến Mỹ-TQ liên minh với nhau. Sự sụp đổ của Liên Xô đã làm thay đổi cái nhìn của cả Mỹ, vì lúc này, cuộc chiến ở Cam phu chia không còn có ý nghĩa chiến lược nữa. Việc VN rút hết quân khỏi Cam pu chia năm 1989, đã đẩy TQ và Mỹ vào thế đấu nhau. Mỹ không thể chấp nhận Pôn pốt nắm quyền ở Cam pu chia, nhưng lực lượng theo Mỹ quá yếu để giành chính quyền ở đây, chính phủ Cam pu chia, sau 10 năm cũng có thế hơn, mạnh hơn. Kết quả TQ đành phải chấp nhận mất Khơ me đỏ và sự khôn khéo của Hun Sen đã loại nốt các nhóm thân Mỹ cũng như trung hoà được Si ha núc.
Tóm lại cuộc chiến đã kết thúc và VN có thể nói là đạt được điều mình muốn, nhưng nó có một vết đen còn lại cho đến giờ đó là vấn đề Trường Sa, Hoàng Sa.
Phó Thường Nhân
Suy nghĩ thế nào về cuộc chiến tranh biên giới bảo vệ tổ quốc 1979-1991. Đối với tôi nó có nhiều điều đặc biệt khiến người ta phải suy ngẫm.
Điều đầu tiên đó là cuộc chiến đấu của toàn nước VN thống nhất chống kẻ thù xâm lược. Và điều này phải được lịch sử Vn nêu cao. Nếu không nêu cao cuộc chiến đấu này, mà chỉ nói đến đánh Mỹ, đánh Pháp, thì nó thiếu đi một cái gì đó, có thể coi như là phiến diện. Khiến người ta, tức là lề trái có thể biện hộ cho việc theo Mỹ theo Pháp của họ. Kiểu ông theo TQ thì tôi theo Pháp Mỹ khác gì nhau. Trong khi đó, thực tế lịch sử lại rất khác. Hiện nay cả TQ, lẫn Mỹ, Pháp đều là đối tác, ở mức độ này hay mức độ khác. Như vậy không thể vì chơi với họ, mà một phần lịch sử VN phải để trắng. Nhưng ngược lại cũng không nên biến lịch sử thành yếu tố biện hộ cho thời sự.
Cuộc chiến tranh này cũng là bước ngoặt,vì hai cuộc kháng chiến trước là chống đế quốc giành độc lập dân tộc, cuộc chiến tranh này mang tính chất địa chính trị lớn hơn. Có thể nói chủ yếu là địa chính trị. Mà cái địa chính trị này thì không bao giờ hết.
Cuộc chiến tranh này cũng tạo nên một dạng “sụp đổ trong tư tưởng”, vì từ trước tới nay, TQ luôn được nhìn nhận như một đồng minh. Ông đồng minh này không phải không sớm nắng chiều mưa, nhưng dù sao vẫn là đồng minh. Và vì là đồng minh, vẫn có phái “thân TQ” (tôi để trong nguặc kép vì họ không phải là tay sai của nước này). Trong thời gian chiến tranh này, phái “thân Liên Xô” (tôi cũng để trong nguặc kép vì họ không phải là tay sai của Liên Xô) vươn lên, nhưng cũng để đẩy tình thế vào dạng rất bất lợi, khi cuộc chiến có dạng uỷ nhiệm như tôi nói ở trên.
Không kể hiện tại, khi nhìn lại lịch sử, nhìn thực chất vào chế độ Pôn pốt, người ta cũng có thể đặt ra câu hỏi, nếu năm 1979, VN không đánh thẳng vào Cam pu chia, mà chỉ giữ biên giới, thì với bản chất chế độ như vậy, có thể Pôn pốt sẽ tự sụp đổ do bắn giết lẫn nhau. VN có thể vì thế mà tránh được một cuộc chiến uỷ nhiệm không ?
Việc TQ thoả thuận được với Vn vào năm 91, cũng khiến người ta đặt câu hỏi, nếu lúc đó không đi với Liên Xô, thì có thể không có đánh nhau với TQ.
Để trả lời hai câu hỏi trên, tôi nói thế này. Thực tế vào thời điểm đó (1979) người ta không thể đoán được chế độ Pôn pốt tồn tại đến bao giờ. Cũng như sự thù hằn của tập đoàn này với VN rất là khó hiểu và có cái gì đó vượt qua sự duy lý thông thường. Không kể đến năm 1979 đã có cuộc chiến tranh biên giới 3 năm. Năm 1977, VN đã đánh sâu vào trong đất Cam pu chia rồi rút (ông Hun Sen có nhắc tới điều này đăng trên báo Vn gần đây). Nhưng sau đó Cam pu chia vẫn tiếp tục đánh vào đất Vn theo kiểu chiến tranh du kích. Mình đỡ chỗ này nó đánh chỗ kia. Biên giới Cam pu chia chỉ cách Sài gòn có 60km đường chim bay. Không thể để một trung tâm kinh tế quan trọng bậc nhất VN vào trong tầm ngắm của Pôn Pốt được. Như vậy bắt buộc phải đánh. Đây là không tính tới tính chất diệt chủng của chế độ này.
Còn việc TQ thoả thuận với VN vào năm 1991, thì không phải đơn thuần là họ tốt, mà điều kiện chiến lược trên thế giới bắt buộc TQ làm thế. Nếu những điều kiện ấy không có, thì chiến tranh có lẽ không chấm dứt. Trong những gì ông Lê Đức Anh hồi ký trên báo, có nói tới việc Giang Trạch Dân nói về việc sụp đổ của Liên Xô. Như vậy khi Liên Xô còn thì ông chống. Lúc Liên Xô đổ thì ông sợ. Chính sách cuả TQ như vậy là chính sách cơ hội,lợi dụng. Nhưng cũng phải nói họ lợi dụng khôn khéo.
root
Em muốn đề cập về một vấn đề lịch sử Biển Đông, nhân tiện chủ đề của bác Phó thì viết luôn. Hồi trước em vẫn nghĩ Hoàng Sa, Trường Sa là 100% của VN, nhưng gần đây, nhân việc VN làm kỷ niệm sự kiện Gạc Ma rầm rộ, em mới có thời gian ngồi lục lại các nguồn sử liệu trên mạng. Về Hoàng Sa thì chưa đọc kỹ nên không dám bàn, nhưng Trường Sa hóa ra là một quần đảo rất rải rác, đa số là đảo chìm hoặc đảo san hô. Khoảng cách giữa các đảo nhìn trên bản đồ có vẻ là nhỏ, nhưng nếu đi tàu biển thì từ chỗ nọ đến chỗ kia cũng phải mất vài tiếng đồng hồ chứ không ít.

Trước năm 75, chính quyền VNCH có đóng ở một số đảo, các nước khác như Mã, Phi, Đài Loan cũng đóng ở một số đảo khác. Sau khi bộ đội VN giải phóng Trường Sa thì cũng chỉ đóng ở những chỗ mà VNCN đóng trước đó. Nhưng từ 75 trở đi, VN lại cắm cờ thêm khá nhiều đảo nữa và phía TQ cũng bắt đầu đến đóng quân ở một số đảo mà trước đây chưa ai đóng. Thời gian này có hục hặc, nhưng chưa ai nổ súng. Và sự kiện Gạc Ma 1988 là như thế này: VN định xây một cái đảo chìm thành đảo nổi để cắm cờ tiếp. Khi chở vật liệu xây dựng ra thì TQ quây tầu (kiểu như Hải Dương 981 bây giờ) đề nghị dừng lại. Các bác biết kiểu chỗ đất tranh chấp mà một bên lại cố tình xây dựng công trình rồi đấy. VN không nghe, dẫn tới cãi cọ, va chạm và cuối cùng là bắn nhau. Đã động võ thì mạnh thắng yếu thua cũng là chuyện thường tình. Và khi VN thua thì cũng hết cách chiếm lại, bởi như em đã nói trên, khoảng cách các đảo khá xa nhau, hải quân của ta lại yếu có tiếng nữa.

Từ vấn đề này, chúng ta cũng có thể thấy lý do tại sao VN rất khó kiện TQ để đòi 100% chủ quyền quần đảo. Theo em, nếu ngã ngũ ra thì toàn bộ Trường Sa phải chia ra, nước nào đã đóng ở đảo nào thì sẽ được chủ quyền đảo đó. Tuy nhiên, phía TQ thì quá tham lam, đòi ăn cả cũng là một điều không thể.

Lại còn một sự kiện nữa, em cũng viết luôn vào đây. Đó là việc trị thủy sông Mê Kông. Nhiều người nghĩ là do TQ xây đập thủy điện chặn dòng, cố tình làm cho các nước hạ du bị hạn hán mất mùa. Em cũng hơi ngạc nhiên là tạo sao Lào, Cam, Thái... không thấy kêu la nhiều như VN, dù cùng chung 1 dòng sông? Có lẽ bài viết dưới đây sẽ phần nào lý giải nguyên nhân: http://www.bbc.com/vietnamese/world/2016/0...g_drought.shtml
http://vietnamnet.vn/vn/cong-nghe-thong-ti...-cho-dbscl.html
Phó Thường Nhân
Cái chuyện xả nước của TQ giúp VN thì phải ghi nhận đó là một thiện chí. Nếu mình thực sự khách quan. Còn tác dụng của nó đến đâu thì khó nói, vì tôi nghĩ nếu không có đập, thì vẫn bị hạn. Cái tổ báo BBC tiếng việt là dạng điển hình của lề trái. Bình về quan hệ VN-TQ nó chỉ thích làm trò “qua cầu rút ván”, xúi làm sao ông VN đánh nhau được với TQ là nó thích, vì thế là tạo điều kiện cho nó biến VN thành lính uỷ nhiệm của Mỹ.
Thái , Lào không kêu, bởi cả hai đều có lợi do thuỷ điện. Điện đấy Lào, Thái chia chắc với nhau, nước trữ thì họ hưởng, nên việc họ không kêu thì cũng đúng thôi. Chỉ có VN là thiệt nhất vì ở tận cuối nguồn, thứ đến Cam pu chia. Nhưng Cam pu chia vẫn còn đắp đập được (như vậy vẫn vừa có điện vừa có nước trữ), còn VN thì không.
Phó Thường Nhân
@root,
Thế root có muốn biết một phiên bản của sự thật không. Thực ra nó là sự thật, nhưng vì là tôi phân tích, một phân tích hoàn toàn cá nhân, không phải là của chính phủ VN, cũng không phải của lề trái, nên tôi gọi nó là phiên bản (one version of truth). Nhưng điều này tôi đã đả động đến trong một chủ đề biển đảo ở trong diễn đàn này, khi có việc VN chấp nhận luật biển thế giới UNCLOS (Quốc hội VN đã biểu quyết thực thi nó vào đầu nhiệm kỳ của ông Trương Tấn Sang).
Trong hai quần đảo Hoàng Sa (HS) và Trường Sa (TS) thì mỗi quần đảo có một số phận riêng rất khác nhau. Ở quần đảo HS thì chỉ có mâu thuẫn VN-TQ, còn ở quần đảo TS thì đa bên. Ở tất cả các quần đảo này, trong lịch sử không có dân cư trú, mà chỉ có quản lý kiểu khai thác. VN có giấy tờ, tài liệu lịch sử chứng tỏ tổ tiên ta có ra khai thác. Nên có thể coi về mặt lịch sử, thì lẽ phải về VN. Nhưng theo tôi hiểu thì nó không có bản đồ chính xác đảo nào, dải đất nào. Không kể có nhiều đảo là đảo lúc chìm lúc nổi, có đảo mới nổi, có đảo mất đi. Vậy để xác định được chính xác kiểu phân giải địa lý rất khó.
VN có một lợi thế về lịch sử nữa, đó là do thực dân Pháp tạo ra. Khi Pháp biến toàn bộ Đông Dương thành thuộc địa, thì Pháp cũng đã tuyên bố chủ quyền của Đông Dương trên toàn bộ hai quần đảo. Lúc này thì cả TQ (nhà Thanh), Tây ban Nha (Philipine), rồi Indo (Hà lan), Malaysia (Anh) không ai phản đối gì. Lúc này thì bản đồ HS, TS mới thật rõ ràng, vì Pháp có đưa các đoàn nghiên cứu ra để khảo sát, vẽ bản đồ, xác lập chủ quyền. Khi đất nước VN chia làm hai miền, vì chính quyền miền Nam là do Pháp trao lại (từ năm 1948) thì mặc nhiên hai quần đảo này là của chính quyền miền Nam quản lý, và khi thống nhất thì nó phải là của VN. Đây là nói về lý. Nhưng thực tế trên hiện trường nó lại hơi khác.
Ở quần đảo Hoàng Sa, chính quyền miền Nam đã tiếp quản tổ đài khí tượng của Pháp lập ra trên đảo Phú Lâm, là hòn đảo to nhất ở quần đảo này và có cả nước ngọt (nếu tôi không nhầm). Và cùng với hòn đảo này là những hòn đảo, bãi đá phía Nam của quần đảo. Còn TQ, từ khi cách mạng TQ thành công, thì họ cũng chiếm đóng các hòn đảo bãi đã phía bắc, từ năm 1956 thì phải. Đến năm 1974, thì TQ chiếm nốt.
Ở quần đảo TS, trong đại chiến thế giới thứ II, Nhật chiếm Đông Dương, và đã xây dựng một căn cứ tầu ngầm ở đảo Ba Bình. Đây là hòn đảo lớn nhất ở Trường Sa, có nước ngọt. Khi Nhật bại trận, đã từ bỏ tất cả quyền kiểm soát các đảo ở biển Đông. Và chính quyền Tưởng ở Đài loan đã tiếp quản hòn đảo này cho đến nay.
Trong suốt thời kỳ kháng chiến chống Mỹ, thì chỉ có chính quyền miền Nam có sự công nhận của “cộng đồng quốc tế” (tức là phe tư bản chủ nghĩa), cho nên những hiệp định quốc tế là do chính quyền miền Nam cả. Mặc dù luôn khẳng định HS, TS là của VN, chính quyền miền Nam cũng không chiếm lại được phần bắc quần đảo HS, cũng như đảo Ba Bình, mà chỉ đưa quân ra kiểm soát một phần các quần đảo này.
Trước khi VN chấp nhận UNCLOS, theo tôi hiểu, thì chủ trương của VN là sử dụng lý lẽ lịch sử. Vì lý lẽ lịch sử có phần lợi cho VN. Trong khi UNCLOS không chấp nhận lý lẽ lịch sử mà chỉ chấp nhận lý lẽ về địa lý, dựa trên thềm lục địa. Nếu chỉ dùng lý lẽ lịch sử, thì gần như toàn bộ biển Đông là của VN. Bởi quần đảo TS gần Philipine , Malaysia hơn về mặt địa lý. Khi Philipine kiện TQ, là dựa theo tài phán kiểu UNCLOS. Nếu VN tham gia kiện, thì có nghĩa là tự cầm dao chém tay mình, để Philipine thắng, vì những hòn đảo này ở TS đều nằm gần như hầu hết trong vòng 200 hải lý đặc quyền kinh tế tính từ bờ biển Philipine. Đây có lẽ là lý do chính khiến VN không tham gia. Bây giờ giả dụ trọng tài quốc tế bảo Phi thắng, thì nó sẽ khẳng định về pháp lý là đường lưỡi bò của TQ không có cơ sở, nhưng phần VN vẫn mập mờ. Còn nếu tham gia. Thì ông tự công nhận là ông mất chứ còn gì.
Tại sao VN lại chấp nhận UNCLOS. Bởi vì không chấp nhận thì sẽ phải một mình chống lại mafia. Bao gồm cả TQ, và các nước ASEAN liên quan. Nếu VN thực sự mạnh về quân sự kinh tế, thì mình làm bay. Nhưng mình không đủ sức, phải cần sự trợ giúp về ngoại giao, đối ngoại quốc tế. VN cần ASEAN làm chỗ dựa chính trị, cũng cần chơi với Mỹ. Không vào UNCLOS thì không chơi được. Tương tự như vậy với vấn đề hạt nhân. Trước đây chính quyền miền Nam có một lò làm giầu Uranium nhỏ thí nghiệm ở Đà lạt do chính quyền miền Nam để lại, rồi Liên Xô giúp tân trang. Túc tắc mấy chục năm, VN cũng có được một ít uranium có thể dùng vào công nghệ hạt nhân, và có thể dùng làm bom. Nhưng Mỹ ngăn cản, và cái lề trái “yêu nước” đòi đánh TQ mà các bác thấy đầy rẫy trên mạng là một thủ phạm của cái chuyện này. Vì để sát hại VN, nó kêu gào là VN có thể thành Bắc Triều Tiên, tạo cớ cho Mỹ ép. Nó “yêu Vn” như thế, sao lại không là phản động được. Nếu VN có thể làm bom, thì sức mạnh VN sẽ tăng lên nhiều lần. Hiện tại, thì chính sách của VN là một vùng ĐNA phi hạt nhân. Và điều đó phù hợp với Mỹ, nhưng điều đó có ngăn cản được căn cứ tầu ngầm hạt nhân lớn nhất của TQ là ở đảo Hải Nam đâu.
Vì chấp nhận UNCLOS, nên thực tế các đảo ở TS hầu như hoàn toàn nằm ngoài vùng đặc quyền kinh tế VN. Còn với quần đảo Hoàng Sa , thì nó vô hiệu hoá việc sở hữu các đảo trên pháp lý quốc tế. Vì có đảo, cũng không khẳng định được chủ quyền biển, do nó phải được tính từ bờ biển VN. Chính vì cái điều này, mà trong chủ để chủ quyền biển đảo mấy năm trước, tôi hoan nghênh.
Để chống điều này, thì TQ đã viện lý là các hòn đảo này, ví dụ như Phú lâm, phải được tính như đất liền. Đây là một điều ngang ngược. Và để thực chứng điều đó, họ đã đưa cái dàn khoan ra vào năm ngoái. Nhưng VN đã phản đối thành công. Mỹ hiện nay cũng đưa tầu chiến vào dưới 12 hải lý ở các hòn đảo ở Hoàng Sa. Đây là sự không công nhận lý lẽ của TQ.
Nhưng ngay để bảo đảm được sự thực thi của UNCLOS, thì cũng phải có sức mạnh thực tế. UNCLOS đã giúp VN có lý, để có thể lợi dụng được sự ủng hộ của các nước. Sự ủng hộ này sẽ giúp VN có điều kiện để hợp tác, tân trang quân đội, cảnh sát biển.. để biến cái pháp lý này thành thực thi. Muốn thực thi phải có tiền, muốn có tiền phải phát triển được kinh tế. sự ủng hộ của người ta thì chỉ có tác dụng người ta bán vũ khi cho thôi. Đây là chưa kể tới điều kiện bán (chính trị, kỹ thuật,..).
Về thực lực quân sự, tổ chức nhà nước. VN là nước mạnh nhất ở biển Đông (ngoại trừ TQ). Chính vì thế mà VN mới “lên giá” trong mắt Mỹ. Quân đội VN đã từng đánh nhau với quân đội TQ hiện tại, trong quá khứ VN luôn đánh được những kẻ mạnh hơn, mà theo lô gíc thông thường không thể thắng. Cái hình ảnh “marketing” ấy cũng có tác động rất lớn với tâm lý đối thủ. Cái sức mạnh vô hình ấy nằm trong lòng yêu nước của người Việt, nhưng cũng là sự chỉ huy nhất thống, hệ thống tư tưởng mạnh. Đây cũng là điều mà VN nên để ý, vì mất đi sự chỉ huy nhất thống, mất hệ thống tư tưởng, thì sẽ rối loạn, và không thể huy động được lòng yêu nước của nhân dân. Ngược lại, lề trái, nó chỉ muốn phá đi sự nhất thống, đánh đổ hệ thống tư tưởng dưới cái vỏ bọc yêu nước quá khích mà thực ra là bán nước.
Khi nhìn thấy tất cả sự phát triển của vấn đề biển đảo như thế, thì người ta có thể nhận thấy là nước VN hiện tại không bao giờ ngừng bảo vệ chủ quyền của mình. Thậm chí nhiều lúc còn là duy ý chí.
Tóm lại với tôi, vấn đề bây giờ là bảo đảm được chủ quyền trong phạm vi UNCLOS cho mình có lý. Những hòn đảo đã có thì giữ vững, vì đó là chủ quyền lịch sử, dù nó nằm trong vùng UNCLOS của Phi hay Mã. Tạo sự quân bình với TQ ở Hoàng Sa, không ngừng đòi chủ quyền ở các đảo bị chiếm, nhưng trước khi lấy lại được đảo, thì không để chủ quyền biển bị mất. Đây cũng là vấn đề phân định cửa vịnh Bắc Bộ nữa.
Phó Thường Nhân
Vấn đề đảo này không chỉ có đảo, mà nó còn có những vẫn đề khác liên quan cũng quan trọng không kém. Nó có mấy vấn để sau:
1- Vấn đề quan niệm lịch sử về vai trò của VNCH.
2- Vấn đề vị thế trong quan hệ với TQ.
3- Vấn đề quốc phòng an ninh lâu dài.
4- Vấn để quan hệ với Mỹ.
Tôi nói vấn đề 2 trước, vì nó là cái cửa để nhìn những vấn đề còn lại (ngoại trừ điểm 1). Từ khi hệ thống XHCN cũ tan rã, thì cả thế giới chỉ còn có một hệ thống chung. Chính vì thế quan hệ ngoại giao TQ-VN trở về lại với những vấn đề địa chính trị từ ngàn xưa. Cũng chính vì thế mà TQ cũng không coi họ như một nước XHCN, có một hệ thống giá trị phải bảo vệ, có một khối liên minh phải bảo vệ, không giống như Liên Xô ngày xưa. Điều này cũng là một bằng chứng nữa để nói rằng CNXH cũng là một cách thức để công nghiệp hoá (như tôi nói khía cạnh này của Liên Xô, trong một chủ đề khác). Như vậy có thể nói, chủ nghĩa dân tộc là mục đích, CNXH là phương pháp công nghiệp hoá. Điều tương tự như thế cũng có ở VN. Việc hi vọng TQ là đồng minh do cùng ý thức hệ là không có, nhưng mình có thể học nó nhiều điều vì điều kiện văn hoá xã hội truyền thống tương đồng nhau. Và những điều họ gặp phải trong quan hệ với phương Tây, có thể nhìn vào đó như một thứ kinh nghiệm, vì bài bản phương Tây áp dụng vào TQ để nhằm thay đổi TQ có lợi cho nó, cũng là bài bản nó áp vào VN. Vì quan hệ ngoại giao tQ-VN có mùi vị truyền thống, TQ có xu hướng coi VN như một thứ chư hầu để sai bảo, đây chính là tâm lý nước lớn. Nhưng có điều khác, là TQ hay VN cũng nằm trong thế giới, và quan hệ thế giới hiện tại là “ông có con gà, bà ra chai rượu”. Tức là một quan hệ dạng thương mại. Nếu không “quậy” mà im ỉm nghe lời thì nó lấn tới nữa. Nhưng muốn “quậy”, thì phải có thế, mới có cái trao đổi. Cái thế này là thế tổng hợp. Bao gồm sức mạnh quân sự, ngoại giao, quan hệ quốc tế, kinh tế nội địa, tài chính..Và vấn đề biển đảo, vừa là quyền lợi lãnh thổ chủ quyền của VN, vừa là cái đòn bẩy rất quan trọng để phát huy các thế ngoại giao, quan hệ quốc tế, phản triển sản xuất trong nước..v..v..tạo thế quậy. Không quậy, thì đừng hòng đòi được cái gì.
Vấn đề 3, an ninh quốc phòng. Với cái “lưỡi bò” ấy, thì TQ vươn khắp biển Đông, khống chế tất cả các nước trong khu vực. Trong đó có VN. Không kể, vùng đặc quyền kinh tế biển rất quan trọng với VN, nó là biên giới cuối cùng để khai thác tài nguyên khoáng sản. Nếu TQ bao hết, thì họ cũng là người cầm trịnh khống chế hết. Rất may mắn là vị trí địa lý với bờ biển dài của VN, khiến VN có “địa lợi” trong việc bảo vệ vùng biển của mình. Và trong thực tế có thể khống chế hoàn toàn vùng biển này, nếu chiến tranh xẩy ra. Như vậy dù có chơi với TQ, cũng không thể không tăng cường năng lực quốc phòng để cho TQ không thể yên tâm nghĩ rằng mình khống chế được. trong cuộc đấu này, VN không thua là thắng, nếu không có giải pháp chính trị. Còn TQ dù có thắng vẫn có thể ở vào thế thua. Vì cái tương quan lực lượng là bao gồm cả quân sự và ngoại giao. Phải đặt TQ vào vị thế, nếu ông dây vơi tôi, thì phần thiệt nhiều hơnphần lợi. Còn lại nếu ông không dây với tôi, thì cả tôi và ông cùng lợi. Như vâỵ là ngoại giao mở cửa chơi, với sự yểm trợ của quân sự, quan hệ đối ngoại tạo thế. Cái thế này tức khắc liên quan tới Mỹ, nhưng cũng có cả các nước khác nữa như Nga, Ấn, EU, Nhật,.. từ đó mà tới điều 4.
Vấn đề 4, quan hệ với Mỹ. Hiện tại, trong quan hệ quốc tế, không chơi được với Mỹ thì không phát triển được (hoặc là rất khó khăn). Nhưng làm tay sai cho nó thì lại là điều bất lợi. Bài học của VNCH ở miền Nam còn nguyên đó. Hiện tại Mỹ và VN là đồng minh khách quan. Họ có quyền lợi bảo vệ tự do hàng hải (thực chất là sự hiện diện) ở biển Đông. VN có vùng đặc quyền kinh tế phải bảo vệ. Nhưng ý đồ hai bên không giống nhau. Đối với VN đó là vấn đề an ninh sống còn, là độc lập dân tộc, là phát triển, là công nghiệp hoá, với Mỹ nó là một con bài. Tầm quan trọng không giống nhau. Nếu VN là anh lính uỷ nhiệm thì có lợi cho Mỹ nhất, nhưng đó là điều không lợi cho VN. Từ đó dẫn tới việc, Mỹ có thể vừa ve vãn VN vừa xúi quân xanh quân đỏ của nó để làm thay đổi hệ thống chính trị VN, mở đường cho việc dùng VN làm lính uỷ nhiệm chống TQ. Một kịch bản kiểu UK là điều vẫn phải để ý.
Để giải quyết vấn đề đó thì phải dùng hai biện pháp. Một bên thì tăng cường quan hệ hợp tác với Mỹ, lấy cái quyền lợi tương đồng khách quan giữa Mỹ và VN để phát triển kinh tế, vì một VN mạnh là có lợi cho Mỹ. Một bên thì phải cương quyết nhất thống, chặt hết quân xanh quân đỏ của nó cài cắm. Nhưng nhất thống không phải là cường quyền, mà dựa trên đó phát triển dân chủ. Cái dân chủ này có tác dụng phê phán xây dựng như dạng feetback của xã hội, để chỉnh lý chính sách, điều chỉnh. Cái dân chủ này phải dừng, khi nó động tới nguyên tắc nhất thống.
Còn chuyện số 1, “đánh giá vai trò của chế độ VNCH” thì tôi nói sau.
root
Bác Phó viết tiếp đi chứ, xong em mới bàn luận thêm được... cheers.gif
Phó Thường Nhân
@root,
Còn vấn đề VNCH là vấn đề lịch sử. Và nó có điều có thể khiến người ta khó hiểu, đó là VNCH là một chế độ “nguỵ quyền” vậy sao nhà nước VN bây giờ lại kế thừa những gì để lại của VNCH về chủ quyền biển đảo, vậy VNCH cũng có cái gì đó đúng, có thể nó không “nguỵ” như thế. Hay nói rõ hơn, chế độ này cũng “yêu nước”. Vậy làm sao giải quyết được cái mâu thuẫn này.
Thực ra nó không phải là vấn đề, mà chỉ là sự áp dụng luật pháp quốc tế theo tính kế thừa đối với các nhà nước xuất hiện trên cùng một lãnh thổ, bất chấp bản chất nó thế nào. Cũng chính vì thế mà khi Liên Xô ra đời, dù tự mình tuyên bố là một chế độ hoàn toàn mới, vẫn phải chấp nhận cái cục nợ mà nhà nước Sa hoàng để lại. Tính kế thừa này không liên quan gì tới bản chất chế độ cả. Sau năm 75, khi chế độ miền Nam sụp đổ, thì tất cả tài sản của nhà nước này đều được trao lại cho nhà nước VN hiện tại (cả tài sản lẫn nợ nần), với điều kiện là nhà nước VN được chấp nhận là chính danh, là đại diện.
Từ năm 1945, lúc nhà nước VN dân chủ cộng hoà ra đời, cho đến tận năm 1975, ngoại trừ Pháp, không một nước phương Tây nào công nhận nhà nước VNDCCH cả. Chính vì thế mà trong tất cả các tổ chức quốc tế (vì do phương Tây khống chế), cái ghế đại diện của Vn là do VNCH giữ, vì chế độ này là do họ nặn ra. Tương tự như vậy, nhà nước VN hiện tại cũng kế thừa về mặt lãnh thổ, những gì mà thực dân Pháp để lại. Đường biên giới với Lào, Cam pu chia, trước khi chính phủ VN bây giờ ký với chính phủ Lào, Cam pu chia chỉ là biên giới hành chính trong một lãnh thổ là Đông Dương.
Thế tại sao chính phủ VNCH là “bù nhìn” mà vẫn có chủ quyền. Bởi vì chính sách thực dân mới kiểu Mỹ, nó không trực trị, cai trị trực tiếp. Nó công nhận chủ quyền, nhưng rút ruột, điều khiển nhà nước tay sai. Mỹ, và phương Tây nói chung, hiện tại không còn chính sách chiếm đất , giành đất, mà thay vào đó là khống chế nhà nước tay sai thông qua chính trị, kinh tế và quân sự. Ví dụ Mỹ vào VN, nó nhằm vào cả nước, chứ không thèm tranh chấp vài hòn đảo, mấy bãi biển. TQ chơi trò lấn sân, Mỹ chơi trò cướp nguyên nhà.
Trong lịch sử VN , cách tiếp cận lịch sử phổ thông có nhiều điều bất cập, như việc chế độ VNCH, chiến tranh bảo vệ biên giới, với lịch sử gần. Về lịch sử xa, như nhà Trịnh, nhà Nguyễn.. cũng không được đánh giá thoả đáng. Vì thế cũng phải có cách tiếp cận lịch sử đầy đủ hơn. Nếu không làm thế, thì lịch sử vẫn tồn tại, nhưng dưới phiên bản chợ đen, và khi nó đã là chợ đen thì bị méo mó bởi đủ các dạng tâm lý, nhìn nhận chủ yếu qua mặc cảm tâm lý, có hại nhiều hơn có lợi. Đây là điều không tốt.
root
Tiếp ý kiến của bác Phó, em lại có một số suy nghĩ về lịch sử theo cách nhìn cá nhân, chứ không phải là cách nhìn của SGK chính thống. Đó là những suy nghĩ về cuộc chiến tranh thống nhất đất nước, về chế độ VNCN... Nếu như cuộc chiến chống Pháp được đa số người VN ủng hộ, vì là cuộc chiến ngoại xâm, thì chiến tranh chống Mỹ lại khiến người VN gần như là bị chia rẽ thành 2 phe, 2 ý thức hệ khá là sâu sắc.

Theo những gì mà em được biết thì năm 1954, lúc đó chúng ta vừa đánh thắng trận DBP và ngồi vào bàn đàm phán tại Genevo. Khi đó có 2 phe “đại ca” là Pháp-Mỹ, với bên kia là Nga-Trung đứng đằng sau chính phủ HCM. Theo em thì cả 2 phe này đều muốn chia đôi nước VN, muốn VN tiếp tục phải đánh nhau tiếp, vì những lợi ích riêng của mỗi “đại ca”. Lúc đó chính phủ HCM rất khó không nghe các đại ca của mình để chấp nhận đường biên giới tạm thời. Nếu tiếp tục đánh Pháp đến ngày thống nhất đất nước mà không có sự ủng hộ của các đại ca là một điều khá nan giải.

OK, vậy là chấp nhận tạm chia cắt 2 miền và chờ tổng tuyển cử. Cuối cùng thì cũng chả có một cuộc bầu cử nào diễn ra cả, và điều khiến em thắc mắc là phe nào không muốn tổng tuyển cử và muốn tiếp tục chia cắt 2 miền? Em thì suy đoán đúng như SGK, tức là phe miền Nam không muốn, vì lòng dân đa số hướng về chính quyền miền Bắc. Các cán bộ CS tuy ra tập kết nhiều, nhưng các cơ sở CM vẫn được cài cắm rất vững chắc trong Nam. Trong khi đó, chính quyền miền Nam thì lại chả có cơ sở nào sống trong lòng dân được như phe miền Bắc.

Nếu nhìn vào các tấm gương trên thế giới như Đông – Tây Đức hay Nam - Bắc Hàn, thì thấy họ không thể thống nhất được đất nước bằng con đường chiến tranh. Với nước Đức thì cả 2 miền đều tập trung phát triển kinh tế và miền nào có đường lối kinh tế tốt hơn đã phát triển hơn, rồi “sáp nhập” miền còn lại vào mình theo con đường chính trị. Nam Bắc Hàn thì vẫn chia cắt tới tận bây giờ, và khó có khả năng thống nhất được, ít nhất là trong tương lai gần. Và một điều đáng chú ý ở cả 2 điển hình này là không có miền nào cài cắm được các cơ sở cán bộ vững chắc trong dân của miền kia.

Em nghĩ rằng việc cài cắm các cơ sở CM ở miền Nam VN là một mầm mống quan trọng dẫn tới cuộc chiến tranh không thể tránh khỏi giữa 2 miền. Bởi vì các cán bộ được cài cắm sẽ có những hoạt động chính trị (kiểu như diễn biến hòa bình) để chống lại chính quyền VNCH. Và đáp lại, chính quyền này cũng là một kiểu độc tài, nên sẽ thẳng tay đàn áp những chính kiến đối lập. Thế là “phe đối lập” lại phải phản kháng “đồng khởi”... Chiến tranh là tất yếu xảy ra.

Nếu ngày đó chính quyền VNCH là một chính quyền ôn hòa và dân chủ hơn thì liệu nước VN có thể tránh được một cuộc chiến đẫm máu chăng?
Phó Thường Nhân
@root,
Bản chất của cuộc kháng chiến chống Mỹ và chống Pháp là hoàn toàn giống nhau. Chỉ có điều kiện khác nhau. Bây giờ người ta hay nhấn mạnh vấn đề “đại ca” với cố xoay nó ra là nội chiến, nhưng thực ra không phải. Nó có mầu sắc nội chiến (tức là nhìn bề ngoài giống như một cuộc nội chiến) là vào giai đoạn tàn cuộc, 1973-1975. Nhưng sở dĩ như thế vì Mỹ đã bỏ đi, bỏ chính quyền miền Nam “bơ vơ”. Bản chất của nó là một cuộc cách mạng giải phóng dân tộc, đánh đổ phong kiến kéo dài do bị nước ngoài can thiệp (Pháp, Mỹ), chứ không nội chiến gì cả. Muốn hiểu nội chiến trong lịch sử VN thì phải xem thời Mạc-Trịnh-Nguyễn, hay thời Tây sơn-Nguyễn.
Tại sao lại thế, bởi vì chính quyền miền Nam không phải sau năm 1954 mới có. Mà nó được thành lập năm 1948, do Pháp lập ra. Tại sao lại năm 1948, bởi vì sau chiến dịch đánh lên Việt Bắc, vào mùa đông năm 1947 thất bại, Pháp biết là không thể đánh nhanh thắng nhanh, lại cần sự hỗ trợ của Mỹ, nên phải nặn ra cái chính phủ VN này, do Bảo đại cầm đầu để chính danh tiếp tục chiến tranh. Nhưng nhân vật sau này trong chính quyền VNCH, ngoại trừ gia đình Ngô Đình Diệm, thì đều ở trong quân đội Nguỵ do Pháp lập ra cả. Nguyễn văn Thiệu là tiểu đoàn trưởng một tiểu đoàn nguỵ binh, đã từng càn quét ở đồng bằng Bắc bộ. Nguyễn Cao Kỳ, Nguyễn Khánh, Đỗ Mậu, ..toàn bộ bộ sậu VNCH là ở đây ra. Đánh Pháp là chống xâm lựơc thì tại sao đánh Mỹ lại không,vì nó vẫn là sự tiếp nối của cái chính quyền ấy. Nếu đã coi đánh Mỹ là nội chiến, thì đánh Pháp cũng là nội chiến chứ. Nhưng điều đó đâu có phải.
Còn vấn đề đại ca thì thế này. Kháng chiến chống Pháp 9 năm, thì 4 năm tự lực (1946-1950). Không có đại ca vẫn đánh. Như vậy sao có thể coi đại ca là quyết định. Kháng chiến chống Mỹ, bắt đầu bằng sự nổi dậy của người dân miền Nam (mà văn hoá phẩm lề trái cố gắng quên đi) không liên quan gì tới các đại ca cả. VN còn khôn khéo lợi dụng thực trạng của từng Đại ca. Thời gian đầu, do Liên Xô muốn chung sống hoà bình, ngần ngại thì nhờ TQ (giai đoạn này kéo tới 1965). Rồi sau đó khi TQ ngãng ra thì VN lại nhờ Liên Xô đến năm 1975. Phải có đường lối chính trị độc lập thì mới làm thế được.
Thời VN phụ thuộc nhất là giai đoạn 1979-1991, vì bị bao vây tứ phía, không có cửa thứ 2. Nhưng khi Liên Xô đổ, VN có đổ đâu. Một chính quyền độc lập như vậy mà lại bảo là sống được nhờ Đại ca thì không phải.
Thế còn chính quyền Sài gòn. Mỹ rút ra năm trước năm sau, thì ông đổ. Nếu ông thực sự có thực lực thì đâu có thế. Đại ca (Pháp, Mỹ) nặn ra ông , thì lúc nó rút ông xỉu luôn, đấy là bằng chứng rõ rệt nhất nói lên bản chất của chế độ ông.
Nhưng điều mà root nói, thực ra không mới. Mà nó chính là đường lối tuyên truyền của chế độ miền Nam ngày xưa, nó gồm những điểm này:
1- Cố gắng chứng minh mình là dân tộc bằng cách tôn vinh các vị anh hùng dân tộc kiểu Nguyễn Xí là tổ của ngành thông tin liên lạc (vì có tích Nguyễn Xí dùng chim bồ câu báo tin), Trần Hưng Đạo là thuỷ tổ Hải quân.. Nhưng ngày trước, thời Pháp nó cũng thế. Chế độ thực dân vẫn có chính quyền nhà Nguyễn, vẫn áo dài khăn đóng.. nhưng thuộc địa vẫn là thuộc địa. Mặc dù mồm cứ rai rải quốc gia quốc gia.
2- Xoá nhoà chính nghĩa bằng quan niệm nội chiến, tôi ông như nhau. Và vì thế mới có việc Bắc Việt xâm lược Nam Việt, giống như là hai nước khác nhau. Nhưng đâu có phải. Bản thân ở miền Nam, chính quyền Sài gòn có kiểm soát được hết lãnh thổ, được toàn dân ủng hộ đâu. Đi khỏi Sài gòn 30km là ra Củ chi. Xuống Bến Tre đã là vùng giải phóng.
3- Coi cuộc chiến tranh giải phóng dân tộc là do nước ngoài xúi dục, điều khiển. Điều ấy đúng với chính quyền Sài gòn, chứ có đúng với chính quyền VN đâu.
Từ khi thống nhất đất nước, thì có sự hoà trộn văn hoá, và người ta có xu hướng tin vào cái không chính danh hơn, do mất niềm tin. Giống như kiểu nhạc vàng đánh bại nhạc đỏ. Nó cũng do thái độ tâm lý nữa. Một người có liên quan tới chính quyền Sài gòn cũ, bằng cách này hay cách khác, đều có thể lấy những điều tôi nói trên kia để biện minh cho mình. Ngược lại những người tham gia kháng chiến người ta lại không có cái tâm lý ấy, vì họ cần gì biện minh cho họ. Không những thế, cuộc sống sau chiến tranh vất vả, họ có khi còn không được đối đãi xứng đáng nữa. Nhiều khi họ còn không muốn nói tới.
Gần đây, thời ông Trương Tấn Sang làm chủ tịch nước, ông ấy có làm việc tốt là vinh danh những người kháng chiến cũ: thanh niên xung phong, bộ đội, những người bị tù đầy trong hoạt động cách mạng cũ. Điều đấy là tốt. Đấy là điều nên liên tục làm. Vì nếu không tôn trọng những điều đó, thì lúc đất nước lâm nguy không còn kiếm được ai nữa. vì trái cũng như phải. Ai người ta hi sinh làm gì.
Điều đáng ngạc nhiên là cái tư duy nhất định phải nhờ cậy một ông lớn nào đó rất thịnh hành ở VN hiện tại. Ví dụ khi nhìn quan hệ VN-TQ. Có lẽ bởi vì họ đánh giá các cuộc kháng chiến chỉ là dạng ..nhờ ông lớn, nhờ đại ca.
Phó Thường Nhân
Việc chính quyền Sài gon tại sao sụp đổ, tôi đã từng nói rồi. Bắt đầu chính là do chính sách cải cách điền địa phản động của chính quyền Ngô đình Diệm. Đó chính là đầu mối dẫn tới Đồng Khởi.Một vấn đề lớn nữa là vấn đề tôn giáo. Chính quyền Ngô đình Diệm dựa chủ yếu vào giáo dân, trong đó nòng cốt là giáo dân di cư. Ngay cả trong quân đội miền Nam cũng vậy, sĩ quan nòng cốt là giáo dân, và cái này không thay đổi tới tận năm 1975. Nhưng Thiên chúa giáo ở VN là thiểu số. Không kể Thiên chúa giáo vẫn có cái tiếng là “phò Tây”. Trong thời kỳ Pháp xâm lược VN, giáo dân đóng vai trò rất quan trọng trong việc chỉ điểm, làm thông dịch viên, đến đi lính cho Pháp. Sự nâng đỡ giáo dân của chính quyền Ngô đình Diệm cũng là mâu thuẫn bức xúc. Còn một điểm thứ 3 nữa, là chế độ này được quản lý kép bằng chính anh em nhà Ngô. Mỗi người trấn một vùng. Ở VN, ngay thời phong kiến, cũng không có cái kiểu ấy. Ba điều trên (kinh tế, tâm lý, hành chính) dẫn đến sự sụp đổ của chính quyền miền Nam. Đệ nhị cộng hoà, sau khi lật Ngô Đình Diệm 1963,đã dỡ bỏ được 1 điều, đó là “cưng giáo dân”. Ngược lại thay vào gia đình trị của nhà Ngô, là một chính quyền quân sự. tức là độc tài. Lần bầu cử tổng thống duy nhất chỉ có một ứng cử đó là Nguyễn Văn Thiệu. Những người bây giờ cứ ba la bô lô về đa nguyên đa đảng, họ đã phải lờ đi rằng, chế độ ở miền Nam là chế độ đại nghị đa nguyên đa đảng. Nhưng nó có chạy đâu. Vì thế không phải vì cách mạng nằm vùng mà chế độ miền Nam đổ, mà bởi vì chính ông đã tạo điều kiện thuận lợi để người ta nằm vùng. Tức là chính sách của ông sai.
Tại sao chính quyền miền Nam được Mỹ ủng hộ như là họ đã làm cho Nam Triều tiên, lại không làm được như Nam triều tiên. Bởi vì bản chất giai cấp. Chế độ miền Nam là chế độ phong kiến quan lại còn rớt từ thời thực dân Pháp. Nếu không có sự can thiệp của Pháp, rồi Mỹ, thì giai cấp phong kiến này đã bị đánh đổ ngay từ năm 1945. Vì thế tôi mới nói không có vấn đề nội chiến ở đây, nó chỉ là một cuộc cách mạng kéo dài bởi sự can thiệp của nước ngoài.
Hiện nay ở VN, cái vấn đề VNCH này cũng như vấn đề tôn giáo vẫn là những vấn đề tiềm ẩn. Nhưng để giải quyết nó thì không thể dùng hình thức mập mờ, mà phải rõ ràng.
Về VNCH, nó là một chế độ đã đi vào lịch sử, nghiên cứu nó, người ta sẽ rút ra được rất nhiều bài học. Đặc biệt nó chính là chế độ kiểu đa nguyên đa đảng mà nhiều “chí sĩ” đang mơ ước. Nhưng cũng phải tách biệt rõ ràng là, những ai hiện nay là công dân VN, hoàn toàn có quyền tự hào về lịch sử kháng chiến chống Mỹ, chống Pháp, chống TQ. Điều quan trọng là hịên tại và tương lai ra sao, chứ còn lịch sử chỉ là bài học.
Về tôn giáo, không phải ai theo Thiên chúa cũng là tay sai của thực dân. Nếu tôi không nhầm thì ông Lê Khả Phiêu, rồi ông Trần Văn giầu cũng là người công giáo. Nhưng điều đó đâu có ngăn cản họ theo cách mạng.
Trong những vấn đề kiểu tiềm ẩn này, thì một chính sách rộng rãi, công minh sẽ giúp giải toả nó, không tạo mặc cảm tâm lý. Nhưng ngược lại cũng phải rõ ràng.
Phó Thường Nhân
Còn về vấn đề chia cắt đất nước như ở Triều Tiên hay nước Đức, thì thực ra nó là thế này. Chính quyền Đông Đức, mặc dù là chính quyền XHCN nhưng là do ngoại nhập. Vì đấy là vùng chiếm đóng của Liên Xô ở Đức sau thế chiến thứ II. Về bản chất, nó cũng bù nhìn như chính quyền miền Nam. Vậy khi Liên Xô rút đi thì nó đổ.
Ở Triều tiên thì phức tạp hơn. Bởi nói về chính danh, thì Kim Nhật Thành, người tạo lập ra cộng hoà dân chủ nhân dân Triều tiên (Bắc Triều tiên) là lãnh tụ thực sự chống Nhật. Vào thời điểm chia cắt đất nước, nếu có bầu cử, thì chính quyền Nam triều tiên (Đại Hàn) bay. Nhưng không thể có bầu cử, vì tương quan lực lượng đôi bên. Chính quyền Nam Triều Tiên, cũng đã trải qua một thời gian “phập phùng” (thời Lý Thừa Vãn) như ở nam VN. Để củng cố nó, Mỹ đã giành rất nhiều ưu ái về kinh tế cho Đại Hàn, vì ở đây quyền lợi chính trị của Mỹ là chính, quyền lợi kinh tế là phụ. Tầng lớp lãnh đạo Đại Hàn, đặc biệt từ Pak chung Hi (tức là tương đương với Tổng Thiệu) đã biết lợi dụng điều đó để phát triển. Và nó đã bê nguyên hình thức phát triển của Bắc Triều Tiên vào: kế hoạch hoá, phát triển công nghiệp nặng, nhưng áp dụng trong cơ chế thị trường nhằm vào xuất khâủ, tận dụng thị trường Mỹ. Hàn quốc không phải là nước duy nhất làm thế mà Đài loan cũng làm thế. Chế độ ở Hàn quốc, cũng tiêu diệt phong kiến (điều ở nam VN, Ngô Đình Diệm làm ngược lại). từ đó nó nẩy sinh ra cái điều là Hàn quốc bị dính chặt vào cỗ xe chính trị Mỹ (không có độc lập chính trị) nhưng phát triển kinh tế. hiện nay thì người ta chỉ nhìn thấy cái phần phát triển kinh tế thôi, nhưng nếu đánh nhau, thì đó sẽ là chiến trường. Và ông Hàn quốc không có quyền quyết định gì cả.
Hai nước Triều tiên có thống nhất được không ? Không, phải đợi đến tết Công gô (tức là không bao giờ). Ngoại trừ có một cuộc chiến tranh làm thay bậc đổi ngôi điều kiện chính trị châu Á hiện tại.
langtubachkhoa
Xem trên video này, thì họ đưa ra một số mốc lịch sử về quần đảo Trường Sa (TS) như sau:
- Năm 1954, sau hiệp định Geneve, Pháp đã bàn giao TS và Hoàng Sa (HS) cho VNCH
- Đài Loan chiếm đảo Ba Bình (đảo lớn nhất trong quần đảo TS) từ tay VNCH năm 1956, và VNCH k có hành động gì phản đối khi Đài Loan điều tàu đến. Ngày 10/10, nhân ngày lễ song thập của Đài Loan, Ngô đình diệm ra lệnh cho quân đội rút khỏi Ba Bình và ĐL đã chiếm đảo dễ dàng
- Năm 1963, hải quân VNCH đưa tàu ra dựng bia ở 1 số đảo nhưng sau đó rút đi, k trú đóng
- Năm 1970, Phi ra chiếm đảo Song Tử Đông, Thị Tứ, Loại Ta và 4 đảo khác. Theo đại tá của Phi thì các đảo hoàn toàn vắng bóng, chỉ đến đải Song Tử Tây mới có quân đội VNCH và quân dội VNCH để tùy ý quân Phi hành động. Tổng cộng Phi chiếm được 6 đảo nổi và bãi đá mà k phải nổ súng. CHính phủ VNCH k lên tiếng về việc này

- Tháng 4/1975, quân đội VNDCCH tiếp quản 1 số đảo mà quân đội VNCH đang đồn trú và ra 1 số vị trí khác k có quân VNCH trú đóng

- Cuối năm 1987, hải quân VN mở chiến dịch "chủ quyền 88" nhằm đưa người và phương tiện ra trú đóng trên các đảo thuocj quẩn đảo TS. Đến cuối năm 87 thì trú đóng được trên 9 đảo nổi + 1 bãi đá
- Từ tháng 10/87 đến tháng 14/3/88, VN đóng giữ thêm được 7 đảo nữa: Đa Tây, Tiên Nữ, Đá Lát, Đá Đông, Đá Lớn, Tốc Tan, Núi Le
- Trong trận đánh 14/3/88, TQ chiếm được đảo Gac Ma, Len Dao, VN giữ được đá Co Lin.
- 15,16/3/88, VN giữ thêm được Đá Thị và lấy thêm được Đá Nam
- Sau 1 thời gian, tháng 5/88, VN nhờ không quân yểm trợ đã dành lại được Len Dao từ TQ, nhưng k lấy lại được Gac Ma vì TQ đã chăng điện ra khắp nơi và xây nhà cấp tốc nên quân đội k thâm nhập được

- Sau chiến dịch "chủ quyền 88", VN đóng giữ được 21 đảo trong đó có 9 đảo nổi. TQ chiêm được 1 số đảo do phương tiện của VN mỏng. Theo video này thì VN chỉ sử dụng chủ yếu là công binh + vân tải nhằm bảo vệ chủ quyền ,k sử dungj lực lượng vũ lực không quân quá mạnh, vì như thế sẽ tạo cớ để TQ tấn công lấy toàn bộ đảo TS khi mà lực lượng VN vẫn còn mỏng do phải căng sức trên toàn bộ tuyến biên giới phía bắc và Tây Nam

- Từ tháng 6/89, quân đội VN đóng thêm được 1 số bãi ngầm nữa như: Tư Chính, Phúc Nguyên, Phúc Tần, Huyền Trân, Quế Dương, Ba Kè

Tổng kết:

- Hiên có 5 nước kiểm soát các đảo và đá ngầm trong quần đảo TS: VN kiểm soat 21 đảo và bãi đá, Phi kiểm soát 10 đảo và bãi đá rặng san hộ, Malaysia kiểm soát 7 rặng san hô, Đài Loan 1 đảo và 1 rặng san hô, TQ kiểm soat 7 đảo san hô và 3 rặng san hô

Sao VN mình chẳng kiểm soát được đảo hay rặng san hô nào thế này? cry1.gif




(@click here)
root
QUOTE(langtubachkhoa @ Jun 11 2016, 07:15 AM)

Sao VN mình chẳng kiểm soát được đảo hay rặng san hô nào thế này?  cry1.gif

[/b]


(@click here)
*




Đảo đất mới quan trọng, chứ đảo san hô với chả rặng san hô thì rất khó sống, vì trồng cây không được, nước ngọt chả có.
Đài Loan kiểm soát mỗi 1 đảo, nhưng là cái đảo quan trọng nhất, vì nó có nước ngọt vào mùa khô.
Pages: 1, 2
Quán nước đầu làng Ven > Sáng Tác - Thảo Luận - Phổ biến kiến thức > CLB Văn Hoá - Lịch sử
Bạn đang xem phiên bản gọn nhẹ của diễn đ n dưới dạng text, để xem các b i viết với đầy đủ mầu sắc v hình ảnh hãy nhấn v o đây !
Invision Power Board © 2001-2018 Invision Power Services, Inc.