Langven.com Forum

Giúp đỡ - Lục lọi - Dân l ng - Lịch
Full Version: Khi Tu ThiỀn CỦa PhẬt NghĨ GÌ VỀ LÝ BÁt NhÃ
Quán nước đầu làng Ven > Sáng Tác - Thảo Luận - Phổ biến kiến thức > Thiền Học & Tôn Giáo
Pages: 1, 2
DinhLangVen
KHI TU THIỀN CỦA PHẬT NGHĨ GÌ VỀ LÝ BÁT NHÃ

(Trích từ trang Web: nguyenthuychonnhu.net - Giáo án Tu Tập - Tập 1 năm 2000)

Khi đức Phật tại thế, rất nhiều đệ tử của Ngài Tu hành chứng đạt, từ khi Ngài nhập diệt cho đến ngày nay số người viên mãn đạo quả giải thoát là là hiếm thấy. Hỏi các quý Thầy về vấn đề này, được các quý Thầy trả lời là phải tu nhiều đời nhiều kiếp.

Phải chăng cứ phải tu như vậy mới thành tựu được đạo Phật?

Vậy thì đạo Phật ra đời có lợi ích gì cho con người khi mà không giúp cho con người thoát ra khỏi những nỗi khổ đau sanh tử và luân hồi ngay trong hiện tại mà phải chờ đến nhiều kiếp sau.

Có người bảo tại vì chưa thể nhập được vào trí tuệ Bát Nhã, nên người tu mới khó thành như vậy. Lý Bát Nhã ư?
Nghĩ lại hồi năm trước khi còn là tu sĩ Tịnh Độ, Thiền tông, hàng ngày chăm chỉ tụng kinh, sám bá, cuối mỗi thời kinh A Di Đà, Phổ Môn, hay ngồi thiền xong lại đọc tụng Bát Nhã Tâm Kinh. Đọc nhiều đến nỗi không cần giở sách cũng có thể đọc tụng vanh vách, rõ ràng không sai một chỗ, thuộc nằm lòng như vậy mà vẫn không hiểu Bát Nhã Tâm Kinh ý nghĩa ra sao và tu tập bằng cách nào để thể nhập được vào nó.

Hỏi các quý Thầy thì được trả lời đó là tính không của vạn hữu gọi là chân không diệu hữu, có nghĩa là từ tính không này sinh ra muôn vật muôn sự, để rồi muôn vật muôn sự lại trở về với tính không này. Bát Nhã Tâm Kinh chính là bài kinh chỉ về tính không của tâm, cũng chính là tính không của vạn hữu. Được hiểu như vậy, nhưng hỏi thế nào để thể nhập vào nó thì các quý thầy cũng không thể trả lời được. Chỉ biết giải thích ý nghĩa của bài kinh là như vậy thôi.

Ta thử đọc lại ý văn của bài kinh đó xem sao?

Bài kinh viết: “Có một Ngài Bồ Tát (người đang tu chưa thành Phật) khi ngồi tự tại quán một cách chuyên sâu bằng trí tuệ, soi vào năm uẩn, thì thấy năm uẩn đều mang tính không, liền thoát hết thảy mọi sự khổ ách.

Xá lợi tử ơi! (xá lợi là cốt Phật, xá lợi tử là chỉ về sự giác ngộ là Phật tính ở mọi người) Sắc chẳng khác không, không chẳng khác sắc, sắc tức là không, không tức là sắc; thọ, tưởng, hành, thức cũng đều như vậy.

Xá lợi tử ơi! Cái tưởng chân không của các pháp ấy không sinh, không diệt, không dơ, không sạch, không thêm, không bớt. Bởi thế cho nên trong chân không ấy không có sắc, thanh, hương, vị, xúc, pháp, không có mắt, tai, mũi, lưỡi, thân, ý, cũng không có ý thức giới, không có vô minh, cũng không có cái gọi hết vô minh, không khổ, tập, diệt, đạo, không chứng cũng không đắc, bởi chẳng có gì gọi là đắc cả.

Bồ Tát ba đời nương vào tri tuệ Bát Nhã thời được đắc quả giải thoát”.

Vậy trí tuệ Bát Nhã là chú đại thần, là chú đại minh, là chú vô thượng là chú vô đẳng đẳng, chân thực bất hư. Nên có bài chú ấy là: “Yết đế, yết đế, ba la yết đế ba la yết đế, ba la tăng yết tế, tát bà ha”.

Có người dịch tạm bài chú: “Tiến lên, tiến lên hãy cố gắng tiến lên đến bờ giác ngộ bằng trí tuệ lớn”.

Những ngày trước khi đọc tụng Bát Nhã, tôi có một khao khát vô cùng, cái khao khát của một một người mong được chứng ngộ lý Bát Nhã, cũng giống như một người đang bị cơn đói lả dày vò nhìn thấy chiếc bánh dành cho mình để ở trước mặt, vậy mà cố với tay để lấy mà không bao giờ lấy được.

Sau này khi theo học với một vi đạo sư đã đắc quả giải thoát, tôi mới tự nhận ra chiếc bánh đó chỉ là một chiếc bánh vẽ ở trong mộng và muốn thể nhập vào tính không của vạn hữu cũng chỉ là ảo mộng mà thôi.

Chắc có người bảo rằng tôi dám khinh chê kinh Phật. Không dám đâu! Lời của Phật sao lại dám khinh chê. Ngài là hiện thân của trí tuệ vô thượng và của đức hạnh từ bi. Chỉ vì muốn cứu mình, cứu người ra khỏi bốn nỗi khỗ lớn: sinh, già, bệnh, chết mà Ngài từ bỏ giàu sang, danh vọng, đi tìm đuờng giải thoát cho mình và cho mọi người. Vì thế, lời nói của Ngài là chân lý, là hiện thực, làm sao lại dám khinh chê. Lời dạy của Ngài đáng để cho chúng ta phải kính trọng, ngưỡng mộ, học hỏi và tu tập, để noi theo g­ương hạnh của Ngài.

Có một câu chuyện làm tôi thấm thía đức hạnh từ bi của Phật. Câu chuyện đó như sau:

“Có một vi đệ tử của Phật suy nghĩ: “Không biết thế giới là vô thường hay thế giới là thường còn. Như Lai có tồn tại hay không tồn tại sau khi chết”.

Người đó mang câu hỏi này đến để hỏi Phật, và nếu đức Phật không trả lời những câu hỏi đó làm cho vị ấy được thỏa mãn thì vị ấy sẽ không sống đời sống phạm hạnh, trở về hoàn tục. Khi vị ấy đến gặp đức Phật, đức Phật hỏi: “Ta nào có nói với người thế giới là vô thường hay thế giới là thường còn, Như Lai có tồn tại hay không tồn tại sau khi chết thì người mới theo Ta sống đời sống phạm hạnh. Nếu có ai có ý nghĩ ấy, thời này, người ấy sẽ chết vẫn không được Như Lai trả lời”.
Ví như có một người bị mũi tên bắn, có tẩm thuốc độc. Bạn bè và bà con mời một thầy thuốc khoa mổ xẻ đến lấy mũi tên ra và săn sóc.

Nhưng người ấy không cho rút mũi tên khi nào người ấy chưa biết được người bắn mũi tên là ai, cao hay thấp, béo hay gầy, thuộc giai cấp nào và ở đâu. Người ấy không cho rút mũi tên ra, khi người ấy chưa biết được cây cung được làm bằng loại gỗ gì, mũi tên được làm bằng thứ gì. Người ấy sẽ chết mà vẫn không được biết gì.

Cũng vậy, dầu cho có quan điểm thế giới là vô thường hay thế giới là thường còn, Như Lai có tồn tại hay không tồn tại sau khi chết, thời vẫn có sinh, già, bệnh, chết, sầu, bi, khổ, não, ...

Chính vì vậy mà đức Phật đã không trả lời câu hỏi của vị đệ tử kia, mà đức Phật chỉ giảng dạy sự đoạn tận ngay trong hiện tại những nỗi khổ ấy”.

Qua câu chuyện chúng ta thấy đức Phật rất thực tế, Ngài không nói lý luận nếu lý luận ấy không nhằm vào mục đích giải thoát. Mọi người khi đến với Ngài, bằng những ví dụ, bằng những lời lẽ cụ thể, dễ hiểu Ngài chỉ dạy thẳng vào vấn đề, để mọi người dễ nhận ra chân lý đâu là khổ, đâu là nguyên nhân gây ra khỗ, và đâu là con đường diệt khổ để bản thân có thể giải thoát ra khỏi những nỗi khổ đau.

Nguồn - nhấn vào đây

NVT2002
Em đã đọc xong bài trích dẫn này của bác Dinhlangven.
Không biết bác có ý kiến gì muốn thảo luận chăng?
DinhLangVen
]Những năm trước đọc tụng Bát Nhã thuộc nằm lòng như vậy, mà chẳng thấy nếm được mùi vị giải thoát. Nếu có ai đụng nhằm vào, làm trái ý nghịch lòng là nổi sân liền, hoặc gặp những chuyện bất toại nguyện trong cuộc đời là đau buồn khổ đau.

Quay trở lại bài Bát Nhã Tâm Kinh để xem xét bản kinh có đúng của Phật thuyết ra hay không? Nếu đúng là của Phật thuyết thì bao giờ đức Phật cũng chỉ dạy cách thức tu hành cho mọi người.

Chúng ta thấy bài kinh chỉ là một bài lý luận giải quyết về mặt nhận thức giữa cái “không” và cái “có”. Sắc chẳng khác không, không chẳng khác sắc, sắc tức là không, không tức là sắc, thọ, tưởng, hành, thức đều cũng như vậy.

Mỗi quan hệ này, chính là mối quan hệ nhân quả giữa cái “không” và cái “có”. Cái có được làm ra từ cái không nếu nó đủ nhân duyên; cái “có” lại trở về cái “không” khi nhân duyên tan rã.

Sắc, thọ, tưởng, hành, thức (là thân ngũ uẩn) là con người cụ thể của chúng ta. Từ lúc chúng ta chưa có mặt ở cõi đời này, từ lúc còn là cái không, khi tinh cha huyết mẹ và nghiệp thức từ kiếp trước gặp đủ nhân duyên để hội tụ, chúng ta được sinh ra và có mặt ở đời. Khi chúng ta từ giã cõi đời, các nhân duyên tứ đại và nghiệp thức tan rã, lúc đó chúng ta lại trở về với cái không.

Toàn bộ bài kinh chỉ giải thích được mối tương quan nhân quả của cái “có” và cái “không” mà thiếu đi phần hướng dẫn tu tập. Cho nên, bài kinh không có ý nghĩa thực tiễn giúp hành giả giải thoát ra khỏi những nỗi khổ đau và sinh tử luân hồi. Chính người viết bài kinh này là Ngài Long Thọ cũng cảm thấy lúng túng, cho nên chỉ còn biết kêu gọi: “Tiến lên, tiến lên, hãy cố găng tiến lên, đến bờ giác ngộ bằng trí tuệ lớn”.

Đó là những lời hô hào suông, hứa hẹn suông.

Nếu chỉ nương vào mặt nhận thức hiểu biết mối tương quan giữa cái “không” và cái “có”, cái “có” được sinh ra từ cái “không” mà cho rằng đó là trí tuệ lớn, “Bồ Tát ba đời nương vào trí tuệ Bát Nhã, thời được đắc quả giải thoát” là một ngộ nhận tai hại và lầm lẫn rất lớn!!!

Vì dù có hiểu biết được mối tương quan nhân quả của cái “có” và cái “không” thì với sự hiểu biết ấy vẫn chỉ nằm trong trí hữu hạn nhờ suy tư, lý luận mà có, vẫn còn nằm trong cái ngăn che (thức ấm).

Bát Nhã Tâm Kinh là kinh sách của phái Đại thừa phát triển viết ra, không phải là của Phật thuyết, cho nên nó không có ý nghĩa thiết thực cho người tu hành để đi đến sự giải thoát cứu cánh viên mãn như lời kinh hứa hẹn.

Với những người đã có kinh nghiệm tu chứng, thì Bát Nhã Tâm Kinh chỉ là một hý luận nói chơi cho vui tai mà thôi. Còn với người chưa có kinh nghiệm tu chứng, không được gặp Thầy sáng hoặc những thiện hữu tri thức chỉ dẫn trình bày thì Bát Nhã Tâm Kinh là một lý cao siêu khó thể nhập. Ví như người ốm đói ăn bánh vẽ mà không thể nào ăn được.

Sau khi đức Phật nhập diệt, sau thời kỳ những vị Thánh đệ tử cũng nhập diệt, trong Tăng đoàn lúc ấy không có người đã chứng đắc để lãnh đạo đồ chúng, vì quyền lợi và kiến giải khác nhau Tăng đoàn hình thành hai bộ phái:
1/ Thượng Tọa Bộ
2/ Đại Chúng Bộ

Thượng tọa bộ là phái của những vị Tỳ kheo thủ cựu trung thành với những thuyết truyền thống và những giáo huấn của đức Phật để lại mà tu tập.

Đại chúng bộ là phái của vị Tỳ kheo trẻ, cho rằng khi đức Phật tại thế thì đức Phật là hiện thân của Pháp bảo và bản thân Ngài tùy lúc tùy nơi mà thuyết pháp khác nhau cho phù hợp với căn cơ của chúng sanh có nhiều sự sai biệt khác nhau. Khi đức Phật diệt thì tăng chúng thanh tịnh là hiện thân của Pháp bảo. Tăng chúng nhất trí thành lập Pháp bảo. Để giáo hóa chúng sinh thì kinh sách cũng cần thay đổi cho phù hợp với thời đại để phù hợp với chúng sinh. Vì thế, những vị Tỳ kheo này đòi thay đổi một số trong kinh sách của phái Thượng tọa bộ, nhưng phái này không nhất trí. Vì thế, trong Tăng đoàn có sự chia rẽ. Phái Thượng tọa bộ ôm kinh sách Phật để về phương nam hình thành phái Nam tông. Đại chúng bộ phát triển về phía bắc, hình thành phái Bắc tông hay còn gọi là phái Đại thừa phát triển. Phái này tự viết lấy kinh sách để truyền bá. Những kinh sách của phái này viết ra trừu tượng siêu hình, miễn cứ có lý, nghe xuôi tai là được. Còn ai tu hành ra sao thì không cần biết. Bát Nhã Tâm Kinh cũng là sản phẩm như vậy.

Chính vì kinh sách viết ra tùy tiện, lại do những người không có kinh nghiệm tu chứng soạn thảo cho nên nó rất nguy hại. Như người mù dẫn dắt người mù, cả lũ theo nhau chết chùm cả đám.

Lý Bát Nhã, nếu thực hiểu, chỉ là quan hệ tương quan nhân quả của cái “không” và cái “có”, cái “có” và cái “không”.
Nhưng ở đây Ngài Long Thọ đưa ra một chân lý mới, đó là chân lý “Chân không” và để tránh hiểu lầm cái “không” đối đãi với cái “có” nên gọi là “chân không diệu hữu”. Từ luận điệu “chân không diệu hữu” này, Ngài Long Thọ đã xóa bỏ đi chân lý của đức Phật, đó là chân lý Tứ Diệu Đế. Đức Phật đã dạy chân lý này trong suốt quá trình từ khi Ngài ngộ đạo đến khi Ngài nhập diệt, nhờ đó mà các đệ tử của Ngài tu hành đắc đạo. Ở đây Ngài Long Thọ đã thay thế bằng luận điệu “trong tưởng chân không ấy, không có khổ, tập, diệt, đạo, không có chứng, không có đắc, bởi chẳng có gì gọi là đắc cả”.
Chúng ta đã biết do tư tưởng tự do phóng túng, phái Đại chúng bộ từ bỏ những giáo pháp cơ bản của Như Lai, ra đi để thành lập phái Đại thừa phát triển. Họ tự do suy tưởng, tự do viết lấy kinh sách, tự do nghĩ ra pháp hành.

Bằng tưởng luận, họ cho rằng “có” và “không” là hai mặt đối lập của thế giới nhị nguyên. Hai mặt đối lập này cũng xuất phát từ “chân không” mà thành. Nếu còn bị kẹt trong thế giới nhị nguyên là con người không được giải thoát.

Cho nên, bằng suy luận, các nhà Đại thừa đã xây dựng Pháp môn “bất nhị”, tức là không hai, có nghĩa là việc phân biệt các pháp vốn không hai.

Không có Phật, không có chúng sinh, không có sinh tử, không có Niết Bàn, không có mê, không có ngộ, không có phá giới, không có giữ giới. Bởi vì, “sắc chẳng khác không, không chẳng khác sắc, sắc tức thị không, không tức thị sắc”.
Quan điểm này chúng ta có thể thấy rất nhiều qua các kinh sách, qua các phương pháp tu tập của các nhà Đại thừa soạn ra. Ngài Long Thọ khi viết trung luận quán là để lập, xoá bỏ những quan niệm “có” và “không” để xây dựng cái “không quán”, thực chất là để xây dựng cái chân lý “chân không” thay thế chân lý Tứ Diệu Đế của Phật thuyết ra. Vì các nhà Đại thừa chủ trương còn phân biệt cố chấp tức là còn điên đảo vọng tưởng, chưa thể chứng nhập bản thể chân tâm mầu nhiệm. Họ cho rằng càng lý luận, băn khoăn, thắc mắc thì lại càng kẹt cứng vào lý luận khái niệm, và vì thế lẽ đạo vẫn mịt mờ, tăm tối, mông lung.

Bồ đề Đạt Ma khi đến Trung Hoa để xây dựng phái Thiền Đông Độ đã tuyên bố: “không lập văn tự, truyền ngoài giáo lý, chỉ thẳng vào tâm, thấy tánh thành Phật”. Ngài đã lấy tánh nghe, tánh thấy, tánh biết làm Phật tánh. Chỉ cần người tu ngộ được tánh nghe, tánh thấy của mình là giải thoát liền. Vì tánh nghe, tánh thấy vượt ra ngoài đối đãi.

Cũng đồng một tư tưởng với Ngài Long Thọ, các nhà Thiền tông cho rằng: Nếu còn nghĩ tới vấn đề làm sao giải thoát, người ta đã bị rơi vào thế giới ngăn cách giữa tội và phúc, giữa mê và ngộ, giữa sinh tử và Niết Bàn, giữa phàm phu và Thánh trí. Bởi nếu có lý luận suy diễn, phải diệt trừ cái này chứng đắc cái nọ là người ấy bị rơi vào quan điểm lưỡng nguyên, là đã xa rời Phật tánh.

Có thể nêu ví dụ để minh chứng phương pháp tu tập của truyền thống Thiền tông qua các cuộc đối thoại như sau:
Một vị sư đến tham vấn Hòa Thượng Đông Sơn:
˗ Phật là gì?
Hòa Thượng đáp:
˗ Ba cân mè.
Hoặc một vị sư đến hỏi Triệu Châu:
˗ Ý Sư tổ từ Tây vực đến là gì?
Sư đáp:
˗ Cây tùng ở trước sân.
Hoặc có người đến hỏi Tuệ Trung Thượng sĩ:
˗ Thế nào là Pháp thân thanh tịnh?
Sư đáp:
˗ Ra vào trong vũng nước đái trâu, chui rúc giữa đống phân ngựa.

(---Nguồn---
DinhLangVen
QUOTE(NVT2002 @ Nov 15 2016, 04:04 PM)
Em đã đọc xong bài trích dẫn này của bác Dinhlangven.
Không biết bác có ý kiến gì muốn thảo luận chăng?
*



Chào bác, bác là lý trưởng ở làng này hả, công nhận ngôn ngữ ở làng này vui thiệt. Em thấy bài này hay, có nhiều thông tin đáng phải suy ngẫm nên đưa lên để các bác tham khảo thui, các bác thấy bài này có điều gì đáng bàn luận thì các bác cứ nhảy vô, em cứ là chống cằm ngồi nghe thui sp_ike.gif .
nguyenducquyzen
QUOTE(DinhLangVen @ Nov 15 2016, 08:39 AM)
KHI TU THIỀN CỦA PHẬT NGHĨ GÌ VỀ LÝ BÁT NHÃ

(Trích từ trang Web: nguyenthuychonnhu.net - Giáo án Tu Tập - Tập 1 năm 2000)

Khi đức Phật tại thế, rất nhiều đệ tử của Ngài Tu hành chứng đạt, từ khi Ngài nhập diệt cho đến ngày nay số người viên mãn đạo quả giải thoát là là hiếm thấy. Hỏi các quý Thầy về vấn đề này, được các quý Thầy trả lời là phải tu nhiều đời nhiều kiếp.

Phải chăng cứ phải tu như vậy mới thành tựu được đạo Phật?

Vậy thì đạo Phật ra đời có lợi ích gì cho con người khi mà không giúp cho con người thoát ra khỏi những nỗi khổ đau sanh tử và luân hồi ngay trong hiện tại mà phải chờ đến nhiều kiếp sau.

Có người bảo tại vì chưa thể nhập được vào trí tuệ Bát Nhã, nên người tu mới khó thành như vậy. Lý Bát Nhã ư?
Nghĩ lại hồi năm trước khi còn là tu sĩ Tịnh Độ, Thiền tông, hàng ngày chăm chỉ tụng kinh, sám bá, cuối mỗi thời kinh A Di Đà, Phổ Môn, hay ngồi thiền xong lại đọc tụng Bát Nhã Tâm Kinh. Đọc nhiều đến nỗi không cần giở sách cũng có thể đọc tụng vanh vách, rõ ràng không sai một chỗ, thuộc nằm lòng như vậy mà vẫn không hiểu Bát Nhã Tâm Kinh ý nghĩa ra sao và tu tập bằng cách nào để thể nhập được vào nó.

Hỏi các quý Thầy thì được trả lời đó là tính không của vạn hữu gọi là chân không diệu hữu, có nghĩa là từ tính không này sinh ra muôn vật muôn sự, để rồi muôn vật muôn sự lại trở về với tính không này. Bát Nhã Tâm Kinh chính là bài kinh chỉ về tính không của tâm, cũng chính là tính không của vạn hữu. Được hiểu như vậy, nhưng hỏi thế nào để thể nhập vào nó thì các quý thầy cũng không thể trả lời được. Chỉ biết giải thích ý nghĩa của bài kinh là như vậy thôi.

Ta thử đọc lại ý văn của bài kinh đó xem sao?

Bài kinh viết: “Có một Ngài Bồ Tát (người đang tu chưa thành Phật) khi ngồi tự tại quán một cách chuyên sâu bằng trí tuệ, soi vào năm uẩn, thì thấy năm uẩn đều mang tính không, liền thoát hết thảy mọi sự khổ ách.

Xá lợi tử ơi! (xá lợi là cốt Phật, xá lợi tử là chỉ về sự giác ngộ là Phật tính ở mọi người) Sắc chẳng khác không, không chẳng khác sắc, sắc tức là không, không tức là sắc; thọ, tưởng, hành, thức cũng đều như vậy.

Xá lợi tử ơi! Cái tưởng chân không của các pháp ấy không sinh, không diệt, không dơ, không sạch, không thêm, không bớt. Bởi thế cho nên trong chân không ấy không có sắc, thanh, hương, vị, xúc, pháp, không có mắt, tai, mũi, lưỡi, thân, ý, cũng không có ý thức giới, không có vô minh, cũng không có cái gọi hết vô minh, không khổ, tập, diệt, đạo, không chứng cũng không đắc, bởi chẳng có gì gọi là đắc cả.

Bồ Tát ba đời nương vào tri tuệ Bát Nhã thời được đắc quả giải thoát”.

Vậy trí tuệ Bát Nhã là chú đại thần, là chú đại minh, là chú vô thượng là chú vô đẳng đẳng, chân thực bất hư. Nên có bài chú ấy là: “Yết đế, yết đế, ba la yết đế ba la yết đế, ba la tăng yết tế,  tát bà ha”.

Có người dịch tạm bài chú: “Tiến lên, tiến lên hãy cố gắng tiến lên đến bờ giác ngộ bằng trí tuệ lớn”.

Những ngày trước khi đọc tụng Bát Nhã, tôi có một khao khát vô cùng, cái khao khát của một một người mong được chứng ngộ lý Bát Nhã, cũng giống như một người đang bị cơn đói lả dày vò nhìn thấy chiếc bánh dành cho mình để ở trước mặt, vậy mà cố với tay để lấy mà không bao giờ lấy được.

Sau này khi theo học với một vi đạo sư đã đắc quả giải thoát, tôi mới tự nhận ra chiếc bánh đó chỉ là một chiếc bánh vẽ ở trong mộng và muốn thể nhập vào tính không của vạn hữu cũng chỉ là ảo mộng mà thôi.

Chắc có người bảo rằng tôi dám khinh chê kinh Phật. Không dám đâu! Lời của Phật sao lại dám khinh chê. Ngài là hiện thân của trí tuệ vô thượng và của đức hạnh từ bi. Chỉ vì muốn cứu mình, cứu người ra khỏi bốn nỗi khỗ lớn: sinh, già, bệnh, chết mà Ngài từ bỏ giàu sang, danh vọng, đi tìm đuờng giải thoát cho mình và cho mọi người. Vì thế, lời nói của Ngài là chân lý, là hiện thực, làm sao lại dám khinh chê. Lời dạy của Ngài đáng để cho chúng ta phải kính trọng, ngưỡng mộ, học hỏi và tu tập, để noi theo g­ương hạnh của Ngài.

Có một câu chuyện làm tôi thấm thía đức hạnh từ bi của Phật. Câu chuyện đó như sau:

“Có một vi đệ tử của Phật suy nghĩ: “Không biết thế giới là vô thường hay thế giới là thường còn. Như Lai có tồn tại hay không tồn tại sau khi chết”.

Người đó mang câu hỏi này đến để hỏi Phật, và nếu đức Phật không trả lời những câu hỏi đó làm cho vị ấy được thỏa mãn thì vị ấy sẽ không sống đời sống phạm hạnh, trở về hoàn tục. Khi vị ấy đến gặp đức Phật, đức Phật hỏi: “Ta nào có nói với người thế giới là vô thường hay thế giới là thường còn, Như Lai có tồn tại hay không tồn tại sau khi chết thì người mới theo Ta sống đời sống phạm hạnh. Nếu có ai có ý nghĩ ấy, thời này, người ấy sẽ chết vẫn không được Như Lai trả lời”.
Ví như có một người bị mũi tên bắn, có tẩm thuốc độc. Bạn bè và bà con mời một thầy thuốc khoa mổ xẻ đến lấy mũi tên ra và săn sóc.

Nhưng người ấy không cho rút mũi tên khi nào người ấy chưa biết được người bắn mũi tên là ai, cao hay thấp, béo hay gầy, thuộc giai cấp nào và ở đâu. Người ấy không cho rút mũi tên ra, khi người ấy chưa biết được cây cung được làm bằng loại gỗ gì, mũi tên được làm bằng thứ gì. Người ấy sẽ chết mà vẫn không được biết gì.

Cũng vậy, dầu cho có quan điểm thế giới là vô thường hay thế giới là thường còn, Như Lai có tồn tại hay không tồn tại sau khi chết, thời vẫn có sinh, già, bệnh, chết, sầu, bi, khổ, não, ...

Chính vì vậy mà đức Phật đã không trả lời câu hỏi của vị đệ tử kia, mà đức Phật chỉ giảng dạy sự đoạn tận ngay trong hiện tại những nỗi khổ ấy”.

Qua câu chuyện chúng ta thấy đức Phật rất thực tế, Ngài không nói lý luận nếu lý luận ấy không nhằm vào mục đích giải thoát. Mọi người khi đến với Ngài, bằng những ví dụ, bằng những lời lẽ cụ thể, dễ hiểu Ngài chỉ dạy thẳng vào vấn đề, để mọi người dễ nhận ra chân lý đâu là khổ, đâu là nguyên nhân gây ra khỗ, và đâu là con đường diệt khổ để bản thân có thể giải thoát ra khỏi những nỗi khổ đau.

Nguồn - nhấn vào đây


*


Vậy những điều này có phải lý luận không?
DinhLangVen
Những câu đối đáp như vậy khiến người nghe phải bạt vía kinh hồn. Bằng những công án đó các nhà Thiền tông muốn làm dứt bặt mọi thứ thắc mắc, suy luận của người hỏi để đưa họ về với cái Phật tánh của mình. Nếu họ nhận được và sống với nó là được giải thoát. Ta thấy từ tư tưởng tự do phóng túng trong nhận thức đã dẫn các nhà Đại thừa đến tự do phóng túng trong hành động, trong lối sống. Với quan niệm các pháp vốn không hai, chỉ cần biết dừng lại quay về với chính mình, để chủ động tự tại trong cuộc sống. Có nghĩa là cuộc sống vốn thế nào, hãy tự nhiên đúng như thế là được giải thoát.

Vì vậy, một số các nhà Đại thừa thời danh đã có những hành vi kỳ dị, khiến mọi người phải ngạc nhiên, chẳng hạn:
Khi Lâm Tế đến gặp Tháp Chủ, Tháp Chủ hỏi:
˗ Lễ Phật trước hay lễ Tổ trước?
˗ Không lễ Phật cũng chẳng phải lễ Tổ.
˗ Phật Tổ có oan nghiệt gì mà không lễ?
˗ Khi cưỡi đầu cọp, chớ vuốt râu hùm.
Nói xong Sư cười khẩy, vảy tay áo và ra đi.

Hoặc Tế Điên Hòa Thượng uống rượu, ăn thịt chó tì lì, không sợ người đời cười chê.

Hoặc Ngài Tuệ Trung Thượng Sĩ xuống nước tắm với mọi người bằng tấm trần truồng không sợ xấu hổ, vì có ý nghĩ: không phải không giữ lễ, mà chỉ vì tùy nghi.

Những hành động cuồng phỏng đó các nhà Đại thừa gọi là những hành động phá chấp.

Ngày trước khi tu tập theo Đại thừa, bản thân tôi phải sững sờ khâm phục trước tài trí và những hành động phóng khoáng của những vị này, cho rằng các vị này đã đạt được Thánh trí và chứng ngộ giải thoát, nên tư tưởng và hành động mới kỳ đặc làm vậy.

Ngày nay được gặp chánh pháp của Phật, tôi mới thấy những hành động đó vô lối làm sao. Những người có hiểu biết về đạo Phật không thể nào chấp nhận được.

Sự giải thoát mà các nhà Đại thừa xây dựng, chỉ là pháp tưởng. Đó không phải là sự giải thoát thật sự, đưa con người thoát ra khỏi đau khổ và sinh tử luân hồi.

Theo lý duyên sinh duyên khởi của mười hai nhân duyên, là thế giới quan của đạo Phật đã xác định: “vô minh duyên với hành; hành duyên với thức; thức duyên với danh sắc; danh sắc duyên với lục nhập; lục nhập duyên với xúc; xúc duyên với thọ; thọ duyên với ái; ái duyên với thủ; thủ duyên với hữu; hữu duyên với duyên sanh; duyên sanh duyên với già, bệnh, chết, sầu bi, khổ não”. Như vậy, 12 duyên này được hình thành là toàn bộ khổ uẩn được hình thành là thế giới khổ đau hiện bày. Nếu vô minh diệt dẫn đến thức diệt; hành diệt dẫn đến già, chết, sầu bi, khổ não diệt. Như vậy, toàn bộ khổ uẩn này chấm dứt. Theo lý duyên sinh duyên khởi như trên thì “cái này có thì cái kia có, cái này diệt thi cái kia diệt”. Vì vậy, nhà Phật chủ trương diệt trừ tham ái, vì tham ái là nguồn gốc, là động lực đưa con người đến khổ đau và tái sinh luân hồi. Đó là sự giải thoát thật sự mà đạo Phật mang đến cho chúng ta và phương pháp tu tập của đạo Phật chỉ nhằm vào một mục đích diệt trừ tham ái mà thôi.

Xét lại toàn bộ kinh sách và các phương pháp tu tập của các nhà Đại thừa lấy trí tuệ Bát Nhã làm nòng cốt, đến bây giờ chúng ta có thể nhận thấy rằng đó không phải là giáo pháp của đức Phật.

Các giáo pháp của các nhà Đại thừa soạn viết ra là để bóp méo đạo Phật và dìm mất những giáo pháp chân chính của đạo Phật bằng những giải pháp do suy tưởng, khiến người tu dở sống dở chết vì đời chẳng ra đời, đạo chẳng ra đạo. Nhưng người đời cứ ngỡ rằng đó là lời của Phật thuyết, cho nên bao đời nay người tu chứng ngày một hiếm thấy.

Nếu muốn được giải thoát, về tới cõi Niết bàn không có con đường nào khác là chúng ta phải quay về nương tựa vào những lời dạy thật sự là những lời dạy nguyên thủy của đức Phật. Những lời dạy này nằm trong các bộ kinh sách nguyên thủy như Trung bộ kinh, Trường bộ kinh, được dịch từ tiếng Pali sang tiếng Việt do Hòa thượng Thích Minh Châu làm dịch giả.

Đạo sư của tôi cũng nương tựa vào những bộ kinh này tu tập mà thành đạo.

Trong những tập kinh sách đó nhiều bài kinh hướng dẫn hành giả qua tu tập, phần đông được an trú chứng ngộ bằng thượng trí, chứng đắc cứu cánh viên mãn, đạt tới cõi niết bàn. Ví dụ như bài MÃLUNKYÃPUTTA đại kinh (Trung bộ kinh tập 2 bài số 64) để dẫn chứng, xin được tóm tắt bài kinh đó như sau:

“Một thời Thế Tôn trú tại tịnh xá của ông Cấp Cô Độc. Thế Tôn hỏi các chúng Tỳ kheo có thọ trì năm hạ phần kiết sử do Ngài giảng dạy hay không. Được hỏi như vậy, Tỳ kheo MÃLUNKYÃPUTTA nói: Con có thọ trì năm hạ phần kiết sử do Thế Tôn giảng dạy (5 hạ phần kiết sử là: thân kiến, nghi hoặc, giới cấm thủ, tham dục, sân nhuế). Đức Thế Tôn hỏi MÃLUNKYÃPUTTA: vì cớ gì, vì ai mà ông thọ trì năm hạ phần kiết sử? Có phải các tu sĩ ngoại đạo cật vấn ông về ví dụ đứa con nít còn ngây thơ, trong trắng thì làm sao biết được thân kiến, nghi hoặc, giới cấm thủ, tham dục, sân nhuế? Thật sự các tùy miên này sống tiềm tàng trong nó”.

Được nghe nói như vậy ông Anan thỉnh Phật thuyết giảng năm hạ phần kiết sử cho các Tỳ kheo thọ trì. Đức Thế Tôn đã giảng cho các Tỳ kheo nguyên nhân dẫn đến năm hạ phần kiết sử và cách thức đoạn từ năm hạ phần kiết sử.
Đức Thế Tôn nói: “Và này, Ananda thế nào là lộ trình đưa đến sự đoạn tận năm hạ phần kiết sử?

Ở đây A Nan Đa, vị Tỳ kheo do viễn ly các sanh y trước, do đoạn trừ các bất thiện pháp, do làm cho an tịnh các thân ác hành một cách toàn diện, ly dục, ly bất thiện pháp, chứng và trú thiền thứ nhất, một trạng thái hỷ lạc do ly dục sinh, có tầm có tứ. Diệt tầm và tứ chứng và trú thiền thứ hai, một một trạng thái hỷ lạc do định sanh, không tầm không tứ, ... nội tĩnh nhất tâm, chứng và trú thiền thú ba ... Chứng và trú thiền thứ tư. Vị này chánh quán mọi sắc pháp, thọ pháp, tưởng pháp hành pháp, thức pháp là vô thường, khổ như bệnh, như cục bướu, như mũi tên, như điều bất hạnh, như bệnh chướng, như kẻ địch, như phá hoại, là không là vô ngã. Vị này giải thoát tâm khỏi các pháp ấy. Sau khi giải thoát tâm ra khỏi các pháp ấy, vị ấy hướng tâm vào các Bất tử giới (trạng thái thân tâm bất động) và nghĩ rằng đây là tịch tịnh đây là vi diệu, tức là sự an chỉ tất cả hành, sự xả ly tất cả ý, sự ái diệt, vô tham, đoạn diệt, Niết bàn. Nếu an trú vững chắc ở đây, vị này đạt đến sự đoan tận, thời do sự tham pháp, hỷ pháp của mình, do sự đoạn tận năm hạ phần kiết sử, vị ấy được hóa sinh ở cảnh giới đoạn tận năm hạ phần kiết sử. Ở đây vị ấy tiếp tục đoạn tận các lậu hoặc và nhập Niết bàn, không phải trở lui đời này nữa”.

Con đường đi đến sự giải thoát là con đường thực hiện tam vô lậu học Giới, Định, Tuệ mà trong bài kinh đã chỉ ra cho chúng ta rất rõ. Khi chúng ta thực hiện giữ giới là để xa rời các nương tựa trước đây đã làm cho chúng ta tham đắm và chấp trước (viễn ly các sanh y trước).

Do giữ giới, chúng ta xa rời những ham muốn, xa rời được các pháp ác, chúng ta bắt đầu đã làm chủ tâm mình.
Do giữ giới, chúng ta đã sống một nếp sống có đạo đức hơn.

Do tu tập các loại thiền định của Phật (Tứ Thánh Định) chúng ta đang tập làm chủ cái thân của mình để an tịnh các thân hành một cách toàn diện và liên tục.

Khi đã nhập được vào Tứ thiền, thân và tâm trở thành bất động trước các pháp, vì lúc đó đã an chỉ tất cả hành, viễn ly tất cả ý (lúc đó trạng thái của thân không còn thở ra thở vào, tai không còn nghe thấy âm thanh bên ngoài nữa). Nhập được vào trạng thái này, chúng ta không còn tham ái nữa (còn tham ái là còn động dục, dục sẽ tạo nghiệp làm nhân, làm duyên đưa chúng ta đi luận hồi tái sinh, chịu đau khổ).

Nếu an trú vững chắc trong Tứ thiền, hành giả hướng tâm tới sự đoạn tận các lậu hoặc, đoạn trừ các kiết sử trói buộc, hành giả hướng tâm đến Tam minh thực hiện giai đoạn cuối cùng của tam vô lậu học. Đó là tuệ chứng ngộ vô thượng trí, chứng đắc cứu cánh viên mãn, thể nhập vào Niết bàn ngay trong cuộc sống.

Giáo pháp của Như lai là để thực hành, chứ không phải là lý thuyết.

Nếu bằng con đường học vấn như các nhà Đại thừa hiện đang làm (mở những lớp đại học Phật giáo để học cách kinh điển). Bằng con đường nhận thức đó các vị chẳng bao giờ nếm được mùi vị giải thoát. Không những thế các vị còn đang và sẽ hại những người khác, khiến cho biết bao phật tử bị lầm lạc đường tu.

Từ khi có các trường đại học Phật giáo ra đời thì những nơi này chỉ đào tạo các ông tiến sĩ, cho nên những bậc Thánh Tăng A La Hán vắng bóng, không còn nữa. Vì thế mà các ông Tăng tiến sĩ sống bừa bãi, phạm giới, phá giới, sống một đời sống phi phạm hạnh.

Con đường chứng chân lý và giải thoát là con đường thánh đạo tám ngành của đức Phật đã đề ra gồm có: Chánh kiến, Chánh tư duy, Chánh ngữ, Chánh nghiệp, Chánh mạng, Chánh tinh tấn, Chánh niệm, Chánh định. Trên các con đường đó hành giả phải rèn luyện tu tập kiên trì thì sự chứng ngộ chân lý chắc chắn sẽ xảy ra.

Là một người trước đây bị nhiễm độc do kinh sách của Đại thừa đã làm tôi dở sống dở chết, tụng kinh, niệm Phật, bái sám, ngồi thiền hoài hoài mà cuộc đời vẫn cứ khổ. Nay nhờ có nhân duyên gặp Thầy sáng, con đường tu của tôi đã rõ ràng, hiểu đúng hơn, hiểu rộng thêm về đạo Phật. Được Đại sư hướng dẫn, sự tu tập của tôi có được chút kết quả khiêm tốn.
Thấy rõ được cái đúng và lợi ích thiết thực của chánh pháp và cái nguy hại của tà pháp, tôi vô cùng thương những người còn bị kinh sách phát triển làm ảnh hưởng sai lệch đường tu.

Với những hiểu biết còn nông cạn tôi viết những suy nghĩ này mong rằng những ai đó có thiện duyên với tôi, đồng cảm với tôi thì những suy nghĩ này, nhận thức này cũng giúp được một phần lợi ích bé nhỏ.
Mong rằng những bậc cao minh hơn tôi chỉ dạy cho tôi những chỗ còn thiếu hiểu biết để tôi càng ngày được hoàn thiện hơn.

Xin chân thành tri ân!
Phó Thường Nhân
Lâu lắm rồi không tham dự vào một chủ đề phật giáo, hôm nay đọc cái bài trích dẫn này phì cười nên vào bình một chút.
Vê mặt lịch sử thì rõ ràng là các kinh đại thừa không phải do phật Thích Ca, tức là Hoàng tử Sakiamuni viết, chữ Phật ở đây thường được chỉ những người đã giác ngộ thành phật. Ví dụ như kinh A Di đà, phật A di đà cũng là một người (hoàng tử) giác ngộ được mà thành, nhưng dấu vết lịch sử bằng xương bằng thịt thật thì không có. Như vậy nó đặt ra vấn đề là có chấp nhận hay không, nếu chấp nhận thì là người theo đạo Phật, không chấp nhận thì chỉ là người ngoài cuộc tham khảo viết về đạo Phật, vì anh đã dùng một hệ quy chiếu khác nhìn vào rồi, như vậy chỉ là người ngoại đạo. Việc chấp nhận này giống như khi học toán phải chấp nhận tiên đề. Là những điều không chứng minh được. Ngay cả toán là môn khoa học cứng còn thế, nữa là một tín ngưỡng tôn giáo.
Tất nhiên bạn dinglangven dừng lại ở đó, thì không phải là người theo đạo phật, chỉ là người tìm hiểu đạo phật thôi.
Khi người ta theo đạo phật, thì sẽ dùng triết lý phật để kiến giải ngộ, tức là dùng nó làm thế giới quan, nhân sinh quan, nếu nói theo ngôn ngữ hiện đại, rồi từ cái nhân sinh quan (quy luật quan hệ con người với con người), thế giới quan(dùng phật giáo xét đoán hiện tượng) sẽ tạo ra tín (tin tưởng), hạnh (giữ đạo đức tương đương với giới) rồi nguyện (hành động để người người sẽ thành phật, hay nói gọn lại là thương người). Nhưng điều tôi nói ở đây chính xác là tịnh độ tông, nhưng các tông phái khác, dù cách thức có khác nhau, cũng đều có cái gì tương đồng như thế. Nó chỉ có kinh luận bám vào là khác nhau thôi.
Ở đây người ta nhận thấy nó có hai tầng một phần dạng lý thuyết (kiến giải ngộ), một phần hành động tuân theo cái lý thuyết ấy (tín hạnh nguyện). Kinh bát nhã tâm kinh là nằm ở phần lý thuyết, nó dẫn tới vô chấp, bất nhị, vô ngã.. rồi từ cái lý thuyết ấy người thấm nó sẽ tự động (nếu đã ngấm ở mức thượng thặng) thành một cách thức ứng sử tự nhiên. Ví dụ nếu ngấm nó thì có bị chọc giận cũng không tức, có vấn đề không nản chí..v..v.. Nhưng nó phải là tự nhiên, chứ còn nếu bị chọc giận mà tự nén giận vì phật bảo thế thì lại không phải. Chính vì thế nó mới là đại thừa, vì hành sử được như thế thật khó.
Nhưng cái công án mà người ta dùng là vì thế , ở trong thiên tông, để tìm hiểu xem trong khi tu tập đã đạt được mức độ thượng thặng chưa. Nếu được rồi thì người ta vẫn sinh sống bình thường, ăn cơm uống nước, chấp nhận các ứng xử xã hội bình thường chứ không phải là làm lộn tùng bậy lên rồi nói là vì ngộ, làm thế thì chỉ là ma.
Nếu không có căn cơ như thế, thì tốt nhất là học tiểu thừa, bát chính đạo, tứ diệu đế, vì nó giống giới hạn đạo đức hơn. Hiện tại một người phật tử VN thường có nhiều môn phái một lúc, chỉ nhìn quyển “kinh nhật tụng” của phật tử VN là thấy, trong đó nó có Tâm kinh là bát nhã, kinh A di đà là tịnh độ, kinh Phổ môn là từ Diệu Pháp liên hoa, … Thông thường người ta để tâm kinh ở cuối cùng, ở trước đó là các kinh khác. Tại sao lại thế ? vì nó có ý nghĩa nói rằng nếu ta phải chấp hành nghi lễ nghiêm chỉnh theo các kinh khác, thì cuối cùng vẫn phải ngộ được cái không mới là hoàn chỉnh tâm linh phật giáo. Ngược lại bám vào cái “không không sắc sắc “ ấy, rồi bám vào nó phá luật phá giới, bám vào câu chữ “chém tổ chém phật”, nói là tôi ngộ thì lại là ma. Cái sự tinh tế của nó là ở đó.
Phó Thường Nhân
Vừa viết xong, vì thấy thiếu nên viết thêm một tí nữa. Nếu Dinglangven mà tu tập theo thầy, học bát chính đạo, thì dù nó là tiểu thừa, vẫn đúng là một phật tử “chánh hiệu con nai vàng”. Ngược lại nếu đem cái đấy ra khoe, rồi bảo các người khác “chỉ có ta đây là đúng” thì lại là ma .. tại sao ? Nếu Dinglangven mà trả lời được, thì sẽ là phật tử, ngược lại thì có nghiền đêm ngày bát chính đạo mà không trả lời được thì vẫn là ma. (Ma ở đây là tu sai).
DinhLangVen
QUOTE(Phó Thường Nhân @ Nov 17 2016, 11:15 PM)
Vừa viết xong, vì thấy thiếu nên viết thêm một tí nữa. Nếu Dinglangven mà tu tập theo thầy, học bát chính đạo, thì dù nó là tiểu thừa, vẫn đúng là một phật tử “chánh hiệu con nai vàng”. Ngược lại nếu đem cái đấy ra khoe, rồi bảo các người khác “chỉ có ta đây là đúng” thì lại là ma .. tại sao ? Nếu Dinglangven mà trả lời được, thì sẽ là phật tử, ngược lại thì có nghiền đêm ngày bát chính đạo  mà không trả lời được thì vẫn là ma. (Ma ở đây là tu sai).
*





Chào bác Phó Thường Nhân,

Em có đem cái gì ra khoe đâu, mà em cũng không cho rằng “chỉ có ta đây là đúng”, Em chỉ đưa lên một bài viết mà em thấy có nhiều thứ đáng suy ngẫm để mọi người tham khảo.

Tuy không đem cái gì ra khoe hay không cho chỉ có ta đây đúng, nhưng em vẫn thừa nhận em là ma bác nhé hypocrite.gif

Cám ơn bác đã vào trao đổi.
Phó Thường Nhân
Nhân cái chủ đề này, tôi viết ở đây chút ít nhận thức phật giáo của tôi. Coi như để mọi người tham khảo.

Khi bắt đầu nghiên cứu đạo Phật, cách tiếp cận của tôi hơi bị giống quá trình dịch kinh ở TQ. Đó là nó không có tính biên niên, theo kiểu kinh phật ra đời trước thì mình đọc trước, có sắp sếp theo thứ tự, mà tuỳ theo nhân duyên hoàn cảnh các tác phẩm phật giáo tới với mình. Như vậy nó đặt ra vấn đề xếp sắp chúng ra sao, vì nếu tách rời thì chúng nhiều khi đối kháng nhau. Đây cũng là vấn đề xẩy ra trong quá trình dịch kinh ở TQ, vì kinh phật thâm nhập vào TQ, tuỳ theo sư là ai, và họ mang theo kinh nào. Không kể tôi gặp vấn đề ngôn ngữ, như đã nói, vì tôi đọc bằng tiếng Pháp đầu tiên.
Vào thời điểm tôi bắt đầu, thì ở Pháp chủ yếu có sách về Thiền, và sách của các sư gốc Tây tạng. Quyển sách đầu tiên tôi đọc về đạo Phật, là của một nhà sư Tây Tạng. Phật giáo Tây Tạng là mật tông, nhưng cái phần “bí mật” họ chỉ dậy truyền thừa, có thầy có trò, còn những gì họ viết cho công chúng nói chung, thì không có gì là (bí) mật. Vì có mật thì mất miếng ăn. Kết quả, nó là cuốn sách về các nguyên tắc phật giáo nguyên thuỷ. Sau cùng họ lồng thêm một phần giới thiệu “mật tông”, theo đó thì mật tông là chuyển đổi năng lượng của “Tham, sân, si” thành tu. Họ gọi là transformation. Nhưng chính xác thế nào thì không rõ.
Sau đó tôi có đọc về Thiền, của một thiền sư Nhật, mà giờ tôi quên mất tên. Ông ta sang Mỹ rồi châu Âu truyền bá về Thiền. Khó khăn nhất với tôi trong khi đọc là vấn đề chuyển đổi ngôn ngữ ra tiếng Việt.
Sao đó tôi đọc một số bản kinh nguyên thuỷ được dịch ra tiếng Pháp. Đây không phải là những bản kinh nổi tiếng nhất của phật giáo nguyên thuỷ, mà là một tuyển tập, nhưng lý do vì sao chọn lựa thì tôi không rõ. Khi đọc, tôi cũng thử dịch kinh ra tiếng Việt. Và ở đây tôi cũng vấp phải vấn đề ngôn ngữ.
Rồi sao đó, tôi có được một bản trung quán luận của ngài Long Thọ, bằng tiếng Pháp. Rồi kinh Pháp bảo đàn của Huệ Năng tổ thứ 6 của Thiền, rồi kinh Kim cương.
Trên đây là những sách đọc mà còn để lại ấn tượng, còn sách đọc mà sau quên mất thì nhiều hơn rất nhiều.
Những sách đó giúp tôi có được một chút hiểu biết về phật giáo, nhưng nó chủ yếu là triết học,giáo lý. Ở đây nó cũng lẫn lộn Đại thừa (Thiền, Trung quán luận, ..) với phật giáo nguyên thuỷ (qua sách cuả mật tông). Nhưng bây giờ tôi nhận thức được thế, chứ trong quá trình này thì không sắp xếp được. Nhưng tôi nhận thấy rất rõ, là những điều tôi biết, hoàn toàn khác cách bà tôi thờ phật.
Khi về VN, lên chùa Quán Sứ, rồi qua các hiệu sách, tôi thu thập được kha khá một số kinh sách phật giáo. Trong đó có Thiền Uyển Tập Anh, Kinh Pháp Cú, Lăng già , A di đa, Phổ Hiến, Di giáo, Tứ thập nhị chương, ..
Ở các chùa VN bên Pháp, tôi cũng kiếm được một số bài giảng của Thầy Thích Thanh Từ
Tôi cũng kiếm được bộ lịch sử Phật giáo VN của Nguyễn Lang (tức là Thích Nhất Hạnh), một quyển lịch sử phật giáo do nhà xuất bản xã hội in, và đây là cái nhìn từ bên ngoài vào Phật giáo, khác với bộ của Nguyễn Lang là nhìn từ trong ra.
Rồi tôi có sách của học giả Nguyễn Hiến Lê, một người viết nhiều về Thiền, về tôn giáo ..
Tôi cũng sưu tập các quyển kinh nhật tụng qua các thời kỳ. Quyển kinh nhật tụng cũ nhất mà tôi có ra đời vào khoảng những năm 1930. Tôi sưu tập kinh nhật tụng để xem lịch sử niềm tin của phật giáo VN thay đổi thế nào theo thời gian. Nói chung, kinh nhật tụng chủ yếu là kinh tiểu A di đà, sau đó là kinh phổ môn (tức là một chương của Pháp Hoa), và sau đó là Tâm kinh. Như vậy, người ta có thể hiểu rằng, thờ phật ở VN qua các thời kỳ, chủ yếu là tịnh độ, nhưng nó cũng luôn có phần “bát nhã ba la mật”. Cái phần “bát nhã ba la mật” này là cửa để đi vào Thiền, nhưng Thiền không hiện ra như một tông phái. Còn kinh phổ môn thì là bổ sung cho kinh Adi đà, chứ không phải là VN trọng kinh Pháp Hoa.
Hiển nhiên những điều này khác rất nhiều với Phật giáo được trình bầy bằng tiếng Pháp mà tôi học được.
Từ khi internet phát triển, thì việc kiếm kinh sách không phải là điều khó. Chỉ còn lại vấn đề là tiếp cận thế nào thôi. Những sách tôi kể trên, hầu như đều có trên mạng. Đặc biệt, nhờ mạng, mà tôi kiếm được một số đầu sách của Thầy Thích Như Điển, một nhà sư ở Đức, dịch các sách về các tông phái ở Nhật bản do người Nhật viết.
Hiện nay thì tôi đã đủ sức để chuyển đổi từ ngữ khi đọc đạo Phật không bằng tiếng Việt, cũng như có cách sắp xếp để không bị lẫn lộn. Đạo Phật của tôi vừa có phần tin phật (Adi đà), Tin kinh (Pháp Hoa), vừa có phần triết (Thiền, phật nguyên thuỷ).
Phó Thường Nhân
Một trong những vấn đề tôi gặp là vấn đề ngôn ngữ. Tôi nói vài ví dụ cơ bản, để chứng minh rằng ngôn ngữ khác nhau có thể dẫn tới đạo khác nhau. Ví dụ từ passion được dùng trong tiếng Pháp thay cho từ Tham (trong Tham Sân Si). Điều này làm tôi cực kỳ thắc mắc, vì từ passion không chỉ có nghĩa xấu, mà còn có nghĩa tốt, vì người ta có thể hiểu nó như nhiệt thành. Sau nay, trong những sách gần đây hơn, thì người ta dịch chính xác hơn Tham là Avidité. Chính vì dịch Tham là passion, mà người ta mới quan niệm phật giáo là thờ ơ, trốn đời, sống lờ nhờ…
Một chữ nữa khi tôi đọc về Thiền. Trong Thiền có hai khái niệm cực quan trọng, là cái đế của tông này, theo tôi hiểu đó là KHÔNG (VÔ) và CHẤP. Khái niệm CHẤP, tiếng pháp dịch là attachement. Từ này có nghĩa là ràng buộc. Nhưng CHẤP không phải là ràng buộc, nó vừa có nghĩa như chọn lựa vừa có nghĩa như định kiến. Kết quả, nếu bằng tiếng việt, dùng từ CHẤP, thì người ta tiến tới dễ dàng khái niệm VÔ-NHỊ , BẤT NHỊ(vì nó là không chọn lựa) là cái đế của NGỘ, và nó dựa vào chữ KHÔNG. Ngược lại non-attachement (là từ tương đương của VÔ NHI), thì không thể hiện được điều này.
Một từ nữa cũng đặt vấn đề đó là từ NHÂN DUYÊN, tiếng pháp là production conditionnée. Bản thân cái cụm từ này đã được nặn ra cho phật giáo, vì thế đọc người ta đã khó hiểu. Nó thể hiện được từ NHÂN (được coi là điều kiện : conditionnée), nhưng từ production thì không thể hiện được từ DUYÊN, tức là hiện tượng để các NHÂN gặp được nhau. Phật giáo, khi nói tới sự tồn tại hình thành của một sự vật thì có hai phần phần 1-điều kiện (cái giống như lô gíc chủ nghĩa Mác), 2- Hiện tượng là thời điểm để các điều kiện gập nhau mà tạo ra sự vật. Nếu đi xa hơn nữa, thì người ta còn thấy không chỉ nhân duyên tạo nên sự vật, mà sự tồn tại của nó còn phụ thuộc vào CĂN – TRẦN – CẢNH, hiểu đơn giản là công cụ để nhận biết (CĂN) phụ thuộc vào chủ quan, điều kiện không gian nhận biết (TRẦN), và cái NHÂN DUYÊN trên kia tương đương với CẢNH, có thể coi như sự vật “khách quan” (tôi để khách quan trong nguặc để nói lên tính tương đối của nó).
Như vậy tiếng pháp người ta dịch sai. Tôi không rõ, có thể vì họ dịch từ tiếng phạn hay pali, thì nghĩa nó như thế. Và việc dịch này phụ thuộc vào sự hiểu biết đạo phật của người dịch nữa. Nhưng từ đây nó chỉ ra một điều rằng, nhận thức phật giáo ở VN phụ thuộc vào ngữ nghĩa của từ Hán Việt, và việc chọn những từ Hán –Việt này lại là nhận thức của các nhà sư dịch kinh.
Chính những điều này đã khiến tôi chọn lựa cách tiếp cận bằng tiếng Việt là chủ.
Tôi sẽ nói tiếp tôi nhận được gì từ Thiền, và tại sao tôi lại từ Thiền tới tịnh độ và Thiên Thai.
Phó Thường Nhân
Điều tôi cảm nhất được ở Thiền (hiểu nghĩa ứng dụng đời thường) đó là định tâm. Cái định tâm này giúp khi làm việc mình tập trung, không bị những suy nghĩ tâm lý do Tham sân si cản trở. Một điều tôi cảm được nữa ở Thiền đó là vô chấp (hiểu đời thường là không định kiến), khiến mình mềm dẻo linh hoạt trong việc sử lý sự việc. Một ví dụ. Trước một vấn đề hỏng hóc của máy móc, mà trách nhiệm của tôi phải chữa, thì định tâm giúp cho tôi không bị phân tán tư tưởng suy nghĩ phải đối phó với cấp trên của mình ra sao, người làm cùng thế nào, gạt được sự quấy rầy của khách hàng để tập trung vào công việc. Vô chấp giúp tôi có cái nhìn tổng quan sự việc, tìm nguyên nhân hỏng hóc. Vì nhiều khi mình tưởng hay khẳng định (chấp) nguyên nhân là ở A thì nó lại ở B. Càng chấp càng sai, vì thế phải vô chấp mà lùi ra, mở rộng tầm nhìn rồi từ đó mới có thể xác định vấn đề. Tất nhiên định tâm, hay vô chấp không thể thay thế chuyên môn. Đây không phải là việc “úm ba la tìm ra con gà chết”, nhưng định tâm, vô chấp giúp cho tôi tỉnh táo hơn, vững tin hơn để giải quyết công việc.
Định tâm hiểu theo kiểu tập trung tư tưởng có thể dẫn ta tới nhiều điều thú vị nữa. Mọi người có thể làm một thí nghiệm rất đơn giản, ví dụ ăn cơm tập trung, ăn chậm, nhai kỹ, không nói, không suy nghĩ vẩn vơ (đây cũng là một bài tập thiền cơ bản) thì sẽ nhận được mùi vị miếng ăn hơn là vừa ăn vừa coi tivi, đầu óc hoảng loạn.
Nhưng Thiền không phải chỉ có thế. Mà nó còn là một cách cảm thụ. Ví dụ, đi chơi, ta nằm lăn ra đất, ngẩng mặt lên nhìn tầng xanh, trong khoảng khắc, thấy thế giới vũ trụ mênh mông, mình như hoà tan vào đó. Đấy cũng là cảm giác Thiền , vì nó như là vô ngã. Không còn cái tôi nữa. Chính cái vô ngã tan biến mình này, là một cảm nhận nghệ thuật. Thiền như vậy cũng dính tới cảm giác nghệ thuật, dù cảm giác này ngược lại quan niệm nghệ thuật của phương Tây. Ở phương Tây, từ thé kỷ XVIII, thì nó cứ đào sâu đục sâu vào cái Ngã (cái tôi) để tự sự mà cảm nhận nghệ thuật, chứ không lấy cái sự hoà đồng kia làm chủ thể.
Thiền cũng tạo cho tôi cảm giác hoài cổ, nghệ thuật hoài cổ, khi du lịch đi chơi, qua những di tích, người ta có cảm nhận về vô thường, về sự biến đổi. Cảm giác hoài cổ này không phải chỉ riêng đạo Phật, mà nó còn có cả trong đạo Nho (luân lý mà tôi cũng chịu ảnh hưởng), nhưng ở nhà Nho là hoài cổ như là hoài cổ. Còn với phật giáo thì hoài cổ là cảm nhận biến đổi, vô thường.
Tất nhiên những cảm nhận, và bài học ấy xảy ra một cách tự nhiên, vì nó tự ngấm vào mình, khi tìm hiểu Thiền, lúc nào không biết, chứ không phải lúc gặp những hoàn cảnh như vậy (làm việc, sinh hoạt,đọc sách, đi chơi..) tôi phải mang Thiền luận ra tụng để tìm đáp án.
Thiền hiện tại có hai dạng. Hoặc là Tào Động (Soto tiếng Nhật), hay Lâm Tế (Linji tiếng Nhật). Tào động thì lấy ngồi Thiền, dứt đoạn suy nghĩ. Còn Lâm Tế thì trọng công án. Ưng dụng thiền Tào động của tôi rất dễ dàng, có thể thực hành ngay khi đi Metro, chỉ cần ngồi im, lưng thẳng ,vai thẳng, mắt khép hờ, tĩnh lặng, dứt đoạn suy nghĩ để cho các giác quan của mình tự cảm nhận thế giới bên ngoài, cảm giác thân thể đầu óc như ngôi nhà trống mà cảm giác bên ngoài ùa vào như gió vào nhà trống, không bị ngăn cản bởi tư duy, suy nghĩ của chính mình. Cách này có thể làm mình chống mệt mỏi rất hiệu nghiệm. Nếu ai làm thử thế, thì sẽ thấy là các giác quan của mình rất nhậy bén, dù không chủ ý tập trung. Cách thiền kiểu này, nhà Nho cũng dùng, người ta gọi là tĩnh toạ. Ở VN, đi lại chủ yếu bằng phương tiện cá nhân, thì khó tận dụng thời gian di chuyển để làm kiểu này. Nhưng người ta có thể ngồi thiền như thế ở bất cứ đâu, không nhất thiết phải khoanh chân bằng tròn.
Còn nếu Thiền kiểu Lâm Tế thì đọc công án, hoặc tự mình tạo ra công án. Công án thực ra là một kiểu tập thể dục tư duy. Trong đó chủ điểm của nó không ngoài :khổ, không, vô thường, vô ngã, vô chấp.. nó là sự chiêm nghiệm nhân sinh quan phật giáo. Trước đây, khi tôi đọc bập ngay vào công án, tôi có cảm giác không hiểu gì. Thực ra là không phải. Lý thuyết của nó nằm trong Trung quán luận, trong kinh Duy ma cật, kinh Kim cương.. Nếu ai đọc những kinh sách đó trước, thì thấy công án như là bài tập ứng dụng, để mình hiểu thêm, thấm thía thêm các luận điểm của Thiền Tông, chứ nó không phải là bài học ứng sử để bắt chiếc như con khỉ, con vẹt. Điều mà người ta hay nhầm.
Thiền cũng có thể hiểu như ứng sử tự nhiên, chân thành không tính toán, hồn nhiên như trẻ thơ. Điều mà trưởng thành, người ta rất khó làm, vì bị nhiễm tính phải luôn đối phó.
nguyenducquyzen
QUOTE(Phó Thường Nhân @ Nov 29 2016, 04:03 PM)
Một trong những vấn đề tôi gặp là vấn đề ngôn ngữ. Tôi nói vài ví dụ cơ bản, để chứng minh rằng ngôn ngữ khác nhau có thể dẫn tới đạo khác nhau. Ví dụ từ passion được dùng trong tiếng Pháp thay cho từ Tham (trong Tham Sân  Si). Điều này làm tôi cực kỳ thắc mắc, vì từ passion không chỉ có nghĩa xấu, mà còn có nghĩa tốt, vì người ta có thể hiểu nó như nhiệt thành. Sau nay, trong những sách gần đây hơn, thì người ta dịch chính xác hơn Tham là Avidité. Chính vì dịch Tham là passion, mà người ta mới quan niệm phật giáo là thờ ơ, trốn đời, sống lờ nhờ…
Một chữ nữa khi tôi đọc về Thiền. Trong Thiền có hai  khái niệm cực quan trọng, là cái đế của tông này, theo tôi hiểu đó là KHÔNG (VÔ) và CHẤP.  Khái niệm CHẤP, tiếng pháp dịch là attachement. Từ này có nghĩa là ràng buộc.  Nhưng CHẤP không phải là ràng buộc, nó vừa có nghĩa như chọn lựa vừa có nghĩa như định kiến. Kết quả, nếu bằng tiếng việt, dùng từ CHẤP, thì người ta tiến tới dễ dàng khái niệm VÔ-NHỊ , BẤT NHỊ(vì nó là không chọn lựa) là cái đế của NGỘ, và nó dựa vào chữ KHÔNG. Ngược lại non-attachement (là từ tương đương của VÔ NHI), thì không thể hiện được điều này.
Một từ nữa cũng đặt vấn đề đó là từ NHÂN DUYÊN, tiếng pháp là production conditionnée. Bản thân cái cụm từ này đã được nặn ra cho phật giáo, vì thế đọc người ta đã khó hiểu. Nó thể hiện được từ NHÂN (được coi là điều kiện : conditionnée), nhưng từ production thì không thể hiện được từ DUYÊN, tức là hiện tượng để các NHÂN gặp được nhau.  Phật giáo, khi nói tới sự tồn tại hình thành của một sự vật thì có hai phần phần 1-điều kiện (cái giống như lô gíc chủ nghĩa Mác), 2- Hiện tượng là thời điểm để các điều kiện gập nhau mà tạo ra sự vật. Nếu đi xa hơn nữa, thì người ta còn thấy không chỉ nhân duyên tạo nên sự vật, mà sự tồn tại của nó còn phụ thuộc vào CĂN – TRẦN – CẢNH, hiểu đơn giản là công cụ để nhận biết (CĂN) phụ thuộc vào chủ quan, điều kiện không gian nhận biết (TRẦN), và cái NHÂN DUYÊN trên kia tương đương với CẢNH, có thể coi như sự vật “khách quan” (tôi để khách quan trong nguặc để nói lên tính tương đối của nó).
Như vậy tiếng pháp người ta dịch sai. Tôi không rõ, có thể vì họ dịch từ tiếng phạn hay pali, thì nghĩa nó như thế. Và việc dịch này phụ thuộc vào sự hiểu biết đạo phật của người dịch nữa. Nhưng từ đây nó chỉ ra một điều rằng, nhận thức phật giáo ở VN phụ thuộc vào ngữ nghĩa của từ Hán Việt, và việc chọn những từ Hán –Việt này lại là nhận thức của các nhà sư dịch kinh.
Chính những điều này đã khiến tôi chọn lựa cách tiếp cận bằng tiếng Việt là chủ.
Tôi sẽ nói tiếp tôi nhận được gì từ Thiền, và tại sao tôi lại từ Thiền tới tịnh độ và Thiên Thai.
*


"CHẤP" là từ ngữ thông thường. Đúng gốc là "Kiết Sử" nghĩa là "Bị ràng buộc" hạy bị "trói buộc".
Có 10 kiết sử, bao gồm 5 Hạ phần kiết sử và 5 Thượng phần kiết sử.
nguyenducquyzen
QUOTE(Phó Thường Nhân @ Nov 30 2016, 03:10 PM)
Điều tôi cảm nhất được ở Thiền (hiểu nghĩa ứng dụng đời thường) đó là định tâm. Cái định tâm này giúp khi làm việc mình tập trung, không bị những suy nghĩ tâm lý do Tham sân si cản trở. Một điều tôi cảm được nữa ở Thiền đó là vô chấp (hiểu đời thường là không định kiến), khiến mình mềm dẻo linh hoạt trong việc sử lý sự việc. Một ví dụ. Trước một vấn đề hỏng hóc của máy móc, mà trách nhiệm của tôi phải chữa, thì định tâm giúp cho tôi không bị phân tán tư tưởng suy nghĩ phải đối phó với cấp trên của mình ra sao, người làm cùng thế nào, gạt được sự quấy rầy của khách hàng để tập trung vào công việc. Vô chấp giúp tôi có cái nhìn tổng quan sự việc, tìm nguyên nhân hỏng hóc. Vì nhiều khi mình tưởng hay khẳng định (chấp) nguyên nhân là ở A thì nó lại ở B. Càng chấp càng sai, vì thế phải vô chấp mà lùi ra, mở rộng tầm nhìn rồi từ đó mới có thể xác định vấn đề. Tất nhiên định tâm, hay vô chấp không thể thay thế chuyên môn. Đây không phải là việc “úm ba la tìm ra con gà chết”, nhưng định tâm, vô chấp giúp cho tôi tỉnh táo hơn, vững tin hơn để giải quyết công việc.
Định tâm hiểu theo kiểu tập trung tư tưởng có thể dẫn ta tới nhiều điều thú vị nữa. Mọi người có thể làm một thí nghiệm rất đơn giản, ví dụ ăn cơm tập trung, ăn chậm, nhai kỹ, không nói, không suy nghĩ vẩn vơ (đây cũng là một bài tập thiền cơ bản) thì sẽ nhận được mùi vị miếng ăn hơn là vừa ăn vừa coi tivi, đầu óc hoảng loạn.
Nhưng Thiền không phải chỉ có thế. Mà nó còn là một cách cảm thụ. Ví dụ, đi chơi, ta nằm lăn ra đất, ngẩng mặt lên nhìn tầng xanh, trong khoảng khắc, thấy thế giới vũ trụ mênh mông, mình như hoà tan vào đó. Đấy cũng là cảm giác Thiền , vì nó như là vô ngã. Không còn cái tôi nữa.  Chính cái vô ngã tan biến mình này, là một cảm nhận nghệ thuật. Thiền như vậy cũng dính tới cảm giác nghệ thuật, dù cảm giác này ngược lại quan niệm nghệ thuật của phương Tây. Ở phương Tây, từ thé kỷ XVIII, thì nó cứ đào sâu đục sâu vào cái Ngã (cái tôi) để tự sự mà cảm nhận nghệ thuật, chứ không lấy cái sự hoà đồng kia làm chủ thể.
Thiền cũng tạo cho tôi cảm giác hoài cổ, nghệ thuật hoài cổ, khi du lịch đi chơi, qua những di tích, người ta có cảm nhận về vô thường, về sự biến đổi. Cảm giác hoài cổ này không phải chỉ riêng đạo Phật, mà nó còn có cả trong đạo Nho (luân lý mà tôi cũng chịu ảnh hưởng), nhưng ở nhà Nho là hoài cổ như là hoài cổ. Còn với phật giáo thì hoài cổ là cảm nhận biến đổi, vô thường.
Tất nhiên những cảm nhận, và bài học ấy xảy ra một cách tự nhiên, vì nó tự ngấm vào mình, khi tìm hiểu Thiền, lúc nào không biết, chứ không phải lúc gặp những hoàn cảnh như vậy (làm việc, sinh hoạt,đọc sách, đi chơi..) tôi phải mang Thiền luận ra tụng để tìm đáp án.
Thiền hiện tại có hai dạng. Hoặc là Tào Động (Soto tiếng Nhật), hay Lâm Tế (Linji tiếng Nhật). Tào động thì lấy ngồi Thiền, dứt đoạn suy nghĩ. Còn Lâm Tế thì trọng công án. Ưng dụng thiền Tào động của tôi rất dễ dàng, có thể thực hành ngay khi đi Metro, chỉ cần ngồi im, lưng thẳng ,vai thẳng, mắt khép hờ, tĩnh lặng, dứt đoạn suy nghĩ để cho các giác quan của mình tự cảm nhận thế giới bên ngoài, cảm giác thân thể đầu óc như ngôi nhà trống mà cảm giác bên ngoài ùa vào như gió vào nhà trống, không bị ngăn cản bởi tư duy, suy nghĩ của chính mình. Cách này có thể làm mình chống mệt mỏi rất hiệu nghiệm. Nếu ai làm thử thế, thì sẽ thấy là các giác quan của mình rất nhậy bén, dù không chủ ý tập trung. Cách thiền kiểu này, nhà Nho cũng dùng, người ta gọi là tĩnh toạ. Ở VN, đi lại chủ yếu bằng phương tiện cá nhân, thì khó tận dụng thời gian di chuyển để làm kiểu này. Nhưng người ta có thể ngồi thiền như thế ở bất cứ đâu, không nhất thiết phải khoanh chân bằng tròn.
Còn nếu Thiền kiểu Lâm Tế thì đọc công án, hoặc tự mình tạo ra công án. Công án thực ra là một kiểu tập thể dục tư duy. Trong đó chủ điểm của nó không ngoài :khổ, không, vô thường, vô ngã, vô chấp.. nó là sự chiêm nghiệm nhân sinh quan phật giáo. Trước đây, khi tôi đọc bập ngay vào công án, tôi có cảm giác không hiểu gì. Thực ra là không phải. Lý thuyết của nó nằm trong Trung quán luận, trong kinh Duy ma cật, kinh Kim cương.. Nếu ai đọc những kinh sách đó trước, thì thấy công án như là bài tập ứng dụng, để mình hiểu thêm, thấm thía thêm các luận điểm của Thiền Tông, chứ nó không phải là bài học ứng sử để bắt chiếc như con khỉ, con vẹt. Điều mà người  ta  hay nhầm.
Thiền cũng có thể hiểu như ứng sử tự nhiên, chân thành không tính toán, hồn nhiên như trẻ thơ. Điều mà trưởng thành, người ta rất khó làm, vì bị nhiễm tính phải luôn đối phó.
*


Bác Phó có thâm nhập về Thiền, nhưng tiếc là bác tự giới hạn mục đích của mình trong việc học Thiền, nên không thể đạt đến đỉnh cao của Thiền.
Phó Thường Nhân
@QuyZen,
Bác nhận xét rất chính xác. Tôi bắt đầu « ngâm cứu » Thiền từ lâu, bắt đầu từ cuối thập niên 80, thế kỷ trước. Đây không phải là một công cuộc học hành để thi lấy điểm, hay để khoe, mà để chiêm nghiệm cho chính mình.Vì thế tôi ngâm cứu, rồi lại dừng để chiêm nghiệm, rồi lại tiếp. Đại khái giống như kiểu người nghiện thuốc lá, không thể cai, còn tại sao nghiện thì không biết, có thể là vì nhân duyên. Tất nhiên cái so sánh này là rất chấp, nhưng nó đúng là như thế. Thiền đồng hành với cuộc đời. Như vậy thời gian « ngâm cứu » nó thì lâu, nhưng không phải là học. Tôi cũng không định một chương trình, kiểu như người ta học đại học phật giáo ở VN. Kinh phật, sách luận lý đến với tôi từ từ, tuỳ duyên, tuỳ hoàn cảnh. Cách « học phật » của tôi rất giống quá trình dịch kinh ở TQ, khi đạo phật thâm nhập vào Đông Á. Hiện nay, nhờ có internet, mà người ta có thể trong một thời gian cực ngắn, tải về rất nhiều kinh sách phật giáo. Nhưng với tôi vẫn không chịu học « có hệ thống », vì với tôi, nhân duyên và chiêm nghiệm rất là quan trọng. Đây là một điểm khiến phật giáo khác tất cả các đạo khác trên thế giới, đó là nó không có sự bắt buộc, vì là nhân duyên, và cũng không thể cưỡng bức , vì nó là chiêm nghiệm, bậc cao hơn của chiêm nghiệm là NGỘ. Hai điểm này vừa là điểm sáng của Phật giáo, vừa là yếu điểm của nó.
Trở lại với Thiền nói riêng. Mặc dù theo nó lâu thế, tôi cũng không dám nói là mình NGỘ,chỉ có được những giây phút thăng hoa. Và không phải tôi tự ý đặt cho mình giới hạn, mà thực ra vì mình chỉ chiêm nghiệm được chừng đó. Điều đó khiến tôi đi tới các tông phái khác, như Tịnh độ, Pháp Hoa, nhưng không có chuyện bỏ Thiền. Với tôi trong phật giáo không bao giờ có đối kháng. Và nếu tôi có phê phán gì Thiền, thì không phải Thiền tông có yếu điểm, mà sự chiêm nghiệm của chính mình có yếu điểm. Tức là do nhân duyên của chính mình thôi.
Phó Thường Nhân
Trước khi nói tại sao tôi đi tới Tịnh độ, tôi tóm tắt trước hai cái khái niệm mà người ta hay hiểu sai trong Thiền khi áp dụng vào đời thường.
Khi Thiền nói VÔ CHẤP thì nó không phải là BẤT CHẤP hiểu theo nghĩa đời thường, tức là coi thường luân lý lễ nghĩa ứng sử, làm loạn tùng bậy. Nó có tác dụng không làm người ta không mắc kẹt vào những nghi lễ này một cách hình thức mà không hiểu bản chất tại sao lại làm thế. Vì cái bản chất này quyết định cái nghi lễ được đặt ra, cái đạo đức mình phải theo.
Khi Thiền nói KHÔNG (VÔ) thì không phải là ngược với có. Mà nó là bản thể của SẮC (nghĩa là hình tướng). Thiền nói riêng , đại thừa nói nói chung là một loại triết học hiện tượng, trong đó SẮC là hiện tượng, KHÔNG là bản thể. Khi sự vật chưa xuất hiện vì chưa có NHÂN DUYÊN thì nó là KHÔNG. Khi nó có NHÂN DUYÊN để xuất hiện thì là SẮC. Ví dụ kiểu thô sơ cho dễ hiểu. Hai người đang giận nhau mà cơn giận chưa bùng nổ thì là trạng thái KHÔNG, nhưng có nhân duyên để bùng nổ, ví dụ nhân dịp đám dỗ, uống rượu say sưa rồi bung thả những điều ấm ức bùng ra thành cơn giận thật sự thì nó là trạng thái SẮC. Đám giỗ là NHÂN (điều kiện xuất hiện), uống rượu say sưa buông thả là DUYÊN. Tiềm năng cơn giận khi chưa có nhân duyên là KHÔNG (vì KHÔNG xẩy ra), cơn giận là SẮC (hiện tượng).
Còn tại sao tôi nói là ví dụ thô sơ, vì cái KHÔNG trong đại thừa còn to hơn cái không mà tôi dẫn làm ví dụ trên. Cái KHÔNG này người ta chỉ chiêm nghiệm được khi NGỘ, khi mà không còn cái tôi (vô ngã), không còn chấp (vô chấp), và đồng thời nhận dạng được vạn vật là luôn biến đổi là hiện tượng (vô thường). Sự chiêm nghiệm này không phải là lô gíc, không thể dùng suy luận, cũng không phải là cảm giác. Nó chỉ hiện ra được lúc người ta vì một trạng thái tâm lý nào đó, dứt được dòng suy nghĩ, vượt lên trên. Ông Suzuki, gọi nó bằng tiếng Anh là intution, có thể dịch là linh cảm. Nhưng tôi không cho là đúng.
Vì thế để học được Thiền thì cách tốt nhất là có thầy, và cách học là một cuộc đối thoại Thầy –Trò, trong một khung cảnh mà người ta có thể có điều kiện quên cái tôi (Ngã). Một ví dụ là các Thiền Viện Nhật bản, trong đó nội quy nó rất chặt chẽ, mục đích là làm người ta có điều kiện quên cái tôi. Chẳng những Thiền viện dùng cách đó, mà ngay cả quân đội cũng dùng cách đó. Vì thế kỷ luật Thiền Viện có cái gì đó như kỷ luật quân sự. Kế đó đối thoại Thầy trò cũng không phải là hội thoại, mà có thể dùng hành động, tác động trực tiếp, làm trò « giật nẩy mình tỉnh mộng », tức là dứt dòng suy nghĩ lô gíc mà NGỘ.
Khi tôi chiêm nghiệm phật giáo, vì là « cư sĩ tự xưng », nên tôi không thể có những điều kiện tối ưu ở trên. Không kể khi học qua sách vở, thì nhất định phải tư duy. Học Thiền, tôi không có được điều kiện « dĩ tâm truyền tâm », « bất lập văn tự », nhưng điều mà chỉ có đi tu mới có được và cũng phải có duyên gặp được Thầy thật, thầy tốt. Điều mà trong thế giới hiện tại hơi hiếm.
Tất nhiên, có trường hợp tự NGỘ được. Nhưng nó đặt ra vấn đề là phải có người CHỨNG. Trong điều kiện « cư sĩ tự xưng », tôi cũng không thể có điều đó.
Như vậy, điều kiện sinh hoạt bình thường, điều kiện « cư sĩ », đã là điều ngăn cản tôi tiếp cận Thiền tối ưu nhất.
Một điều khác, là người thích sách vở, tôi là người thích tư duy. Đã tư duy phải dùng tới ngôn ngữ.Ở đây cái tố chất của chính tôi, ngăn cản tôi tiếp cận thiền tối ưu nhất, vì tôi luôn thông qua phương tiện tư duy.
Cái cách tiếp cận « bất ngôn » này, cũng không phải là điều đặc biệt của riêng Thiền, mà nó là của chung những người làm nghệ thuật, yêu nghệ thuật, ví dụ kiến trúc sư, hoạ sĩ, nhạc sĩ.. vì họ có thể cảm nhận trực tiếp không thông qua ngôn ngữ, vì công cụ của họ là âm thanh, không gian, mầu sắc…
Vì thế Thiền cũng ảnh hưởng tới cảm thụ nghệ thuật.
Với những hạn chế của tôi ở trên, Thiền còn dẫn tôi tới một điều hại nữa là « ba phải » (đây là mặt hại của vô chấp dùng sai), trong đời không phải lúc nào ba phải cũng tốt. Chính vì thế mà tôi nhận thấy, để cho Thiền có thể phát huy tác dụng với chính mình, trong điều kiện của tôi, thì nó phải có cái gì đó làm khung. Rồi trong cái khung đó mới dùng Thiền. Chứ không dùng Thiền làm khung được. Cái khung ấy, tôi tìm thấy trong Nho giáo.
Phó Thường Nhân
Tôi chưa bao giờ nói tới Nho giáo ở trong làng ven, nhưng thời gian tôi tìm hiểu Nho giáo cũng đồng thời với Phật.Khi tôi còn bé, ở với ông bà, vì hồi đó là chiến tranh chống Mỹ phải đi sơ tán. Bà tôi thờ Phật, nhưng những quy định, ứng xử trong nhà là do ông đặt ra theo đạo Nho. Cả ông bà tôi, có lẽ không ai đọc kinh phật hay đọc tứ thư của đạo Nho. Người duy nhất đọc có lẽ là ..tôi, và là sau này, khi tôi đã lớn. Nhưng trước khi đọc, tìm hiểu có ý thức, thì tuổi thơ của tôi in đậm hành vi ứng xử của đạo Nho, và tâm linh của đạo Phật. Tôi đã biết đến Nho Phật trước khi có ý thức. Tôi chắc , trường hợp của tôi không phải là ngoại lệ đặc biệt.
Khi bắt đầu tìm hiểu, tôi đặt ra nguyên lý « Tâm Phật, Thân Nho » hay là « Trong Tâm dĩ Phật, xử thế tuỳ Nho ». Phật là bản chất, Nho là ứng xử, hành vi. Nho làm khung cho Phật. Khi ứng xử theo Nho thì lấy tâm đạo Phật làm gốc.
Điều này cũng không có gì là đặc biệt. Một lần tôi về Vn, lúc lang thang ở chùa Thiên Mụ, Huế, tôi tình cờ mua cuốn sách giới thiệu ngôi chùa. Chùa Thiên Mụ là chùa quan trọng từ thời chúa Nguyễn. Và theo tác giả, chúa Nguyễn đã cư xử với đạo Phật theo hình thức « Cư Nho, Mộ Thích » (sống trong đạo Nho, yêu thích đạo Phật). Một hình thức kết hợp giống như tôi nói ở trên nhưng có phần trọng Nho hơn, vì chúa chỉ « thích » đạo Phật thôi chứ không lấy đạo Phật làm TÂM.
Khi ông Ngô Đình Diệm xây dinh độc lập. Những chấn song trang trí bên ngoài của nó là hình gióng trúc. Theo cái quan niệm người quân tử là « dóng thẳng lòng không » (dóng thẳng là chính trực, một tính chất của nhà Nho, còn lòng không là TÂM KHÔNG, tức là phật). Ngô đình Diệm theo đạo Thiên chúa, dù ứng sử cũng có phần Nho giáo, còn ruột ông ta là Thiên chúa, nhưng Nho Phật vẫn đan xen vào nhau, một cách vô thức, thông qua ý tưởng của người kiến trúc sư.
Nói thế để chứng minh rằng Nho Phật, đặc biệt là phật giáo Đại thừa đan xen nhau. Phật giáo Đại thừa hầu như không bao giờ tồn tại như một tôn giáo duy nhất. Nó bao giờ cũng đi cùng hoặc Bà la môn giáo (khi vào Đông Nam Á) hay sống cùng với đạo Nho (ở Đông Á).
Với tôi, đây là điều giải thích, tại sao phật giáo Đại Thừa trọng HUỆ (tức là trí tuệ) mà ít để ý tới lập nguyên tắc đạo đức (GIỚI), vì những điều này đã được Bà la môn giáo, hay Nho giáo làm. Điều mà phật giáo Đại thừa làm, là thức tỉnh lương Tâm, để những nguyên tắc này không chỉ là hình thức, mà thực sự là sự chiêm nghiệm, giác ngộ.
Đến đây thì các bác có thể hiểu là tại sao ở ĐNA, từ thế kỷ XV, phật giáo lại là phật giáo Nguyên Thuỷ, trong khi trước đó từ thế kỷ thứ IV đến thế kỷ XV thì đạo phật ở đây là Đại Thừa. Bởi vì từ thế kỷ XV, đạo Bà la môn bị tuyệt diệt, nó có nguyên nhân nhưng tôi không nói ở đây, vì quá xa chủ đề. Đạo Bà la môn tuyệt diệt, vì thế Đại thừa cũng đổ theo, vì chỉ có phật giáo nguyên thuỷ, với giới luật chặt chẽ là khả dĩ thay thế được. Nhưng ở Đại Việt, thì điều này không xẩy ra, vì xã hội được Nho giáo quy định chặt chẽ. Có một thời Nho giáo độc tôn ở Vn, đó là sau khi kháng chiến chống quân Minh thắng lợi. Nhưng chỉ sau 2 đời vua, thì đạo Nho dù là triết thuyết chính trị của nhà nước, cũng không còn độc tôn, dẫn đến sự hưng thịnh trở lại của Đại thừa, nhưng không còn là hình thức Thiền Tông mà là tịnh độ.
Ngày nay, Nho giáo đã tuyệt diệt như là một triết thuyết chính trị, nhưng tư duy, tâm lý của nó vẫn phảng phất trong xã hội, trở thành một bộ phận của văn hoá ứng xử vô thức. Sự tệ hại, tha hoá đạo đức ở VN ngày này cũng có nguyên nhân một phần là trong công cuộc thay đổi, đổi mới, phát triển kinh tế, người ta đã đánh rơi mất những giá trị Nho giáo trong văn hoá ứng sử. Vì thế đã học Phật, thì phải biết cả Nho nữa nó mới đầy đủ.
NVT2002
Bác Phó đã từng nói về Nho giáo ở langven rồi mà, nhiều chỗ lắm.
Thí dụ 1 chỗ (@click here)
nguyenducquyzen
QUOTE(Phó Thường Nhân @ Dec 5 2016, 11:39 AM)
@QuyZen,
Bác nhận xét rất chính xác. Tôi bắt đầu « ngâm cứu » Thiền từ lâu, bắt đầu từ cuối thập niên 80, thế kỷ trước. Đây không phải là một công cuộc học hành để thi lấy điểm, hay để khoe, mà để chiêm nghiệm cho chính mình.Vì thế tôi ngâm cứu, rồi lại dừng để chiêm nghiệm, rồi lại tiếp. Đại khái giống như kiểu người nghiện thuốc lá, không thể cai, còn tại sao nghiện thì không biết, có thể là vì nhân duyên. Tất nhiên cái so sánh này là rất chấp, nhưng nó đúng là như thế. Thiền đồng hành với cuộc đời. Như vậy thời gian « ngâm cứu » nó thì lâu, nhưng không phải là học. Tôi cũng không định một chương trình, kiểu như người ta học đại học phật giáo ở VN. Kinh phật, sách luận lý đến với tôi từ từ, tuỳ duyên, tuỳ hoàn cảnh. Cách « học phật » của tôi rất giống quá trình dịch kinh ở TQ, khi đạo phật thâm nhập vào Đông Á. Hiện nay, nhờ có internet, mà người ta có thể trong một thời gian cực ngắn, tải về rất nhiều kinh sách phật giáo. Nhưng với tôi vẫn không chịu học « có hệ thống », vì với tôi, nhân duyên và chiêm nghiệm rất là quan trọng. Đây là một điểm khiến phật giáo khác tất cả các đạo khác trên thế giới, đó là nó không có sự bắt buộc, vì là nhân duyên, và cũng không thể cưỡng bức , vì nó là chiêm nghiệm, bậc cao hơn của chiêm nghiệm là NGỘ. Hai điểm này vừa là điểm sáng của Phật giáo, vừa là yếu điểm của nó.
Trở lại với Thiền nói riêng. Mặc dù theo nó lâu thế, tôi cũng không dám nói là mình NGỘ,chỉ có được những giây phút thăng hoa. Và không phải tôi tự ý đặt cho mình giới hạn, mà thực ra vì mình chỉ chiêm nghiệm được chừng đó. Điều đó khiến tôi đi tới các tông phái khác, như Tịnh độ, Pháp Hoa, nhưng không có chuyện bỏ Thiền. Với tôi trong phật giáo không bao giờ có đối kháng. Và nếu tôi có phê phán gì Thiền, thì không phải Thiền tông có yếu điểm, mà sự chiêm nghiệm của chính mình có yếu điểm. Tức là do nhân duyên của chính mình thôi.
*


Chào bác Phó.
Tôi cũng không định một chương trình, kiểu như người ta học đại học phật giáo ở VN. ----> em không ủng hộ cái lối học này vì nó chả có chút ý nghĩa gì cả. Chỉ là một loại đời trong đạo.
Theo em thấy bác học theo lối nghiên cứu và ứng dụng.
Cách học của em cũng gần tương tự của bác, nhưng em có điểm khác bác là em xác định mục đích ngay từ đầu và việc học, nghiên cứu Thiền, Phật pháp là nhằm mục đích đó. Do vậy em không dừng lại ở chỗ nghiên cứu xem họ dạy cái gì mà em còn hướng đến chỗ làm rõ sự thật của vấn đề là như thế nào? ---> Cái này là tự em giải quyết, Kinh, Sách, Thầy, Tổ chẳng giúp gì cho em được. Khi đã rõ sự thật, thì em biết những điều là Thầy, Tổ nói, hay kinh, sách viết đó, nó đúng chỗ nào? nó sai chỗ nào? Cách học của em là vậy. Không đi với lòng tin mà phải đi với sự rõ biết
NVT2002
Lúc đầu em tìm hiểu Phật Pháp bằng cách xây dựng nên các mô hình logic trong đầu óc. Những mô hình này sẽ kết nối được các khái niệm và logic của Phật Pháp thành một hệ thống giúp em hiểu được Phật Pháp. Nhưng mà sau một thời gian thì em nhận ra là cái mà mình xây dựng được cũng chỉ là của người khác, chả giúp ích được gì cho mình trong cuộc sống.

Theo em cách duy nhất để hiểu được Phật Pháp là phải trở thành nhà phát minh, đi phát minh lại những thứ mà người khác đã phát minh ra rồi. Bởi vì người ta không có cách nào để truyền được cho nhau cái thực hiểu bằng con đường ngôn ngữ. Vì vậy mỗi người muốn thực hiểu thì chỉ có mỗi cách đi từ số 0, tự khám phá lại kiến thức bằng năng lực của bản thân thôi.
Pages: 1, 2
Quán nước đầu làng Ven > Sáng Tác - Thảo Luận - Phổ biến kiến thức > Thiền Học & Tôn Giáo
Bạn đang xem phiên bản gọn nhẹ của diễn đ n dưới dạng text, để xem các b i viết với đầy đủ mầu sắc v hình ảnh hãy nhấn v o đây !
Invision Power Board © 2001-2018 Invision Power Services, Inc.