Langven.com Forum

Giúp đỡ - Lục lọi - Dân l ng - Lịch
Full Version: The War Phim Tài Liệu Nhiều Tập Của Mỹ
Quán nước đầu làng Ven > Sáng Tác - Thảo Luận - Phổ biến kiến thức > CLB Văn Hoá - Lịch sử
Pages: 1, 2
Phó Thường Nhân
Mất 3 buổi tối ngồi xem 9 tập phim truyền hình của Mỹ về “chiến tranh VN”, gọi theo cách của Mỹ. Còn đối với tôi, thì cuộc chiến tranh này vẫn là “kháng chiến chống Mỹ”, bất luận cả thế giới media phương Tây chỉ gọi nó là chiến tranh VN. Cùng một cuộc chiến, nhưng tên gọi khác nhau, cũng thể hiện cách nhìn nhận khác nhau. Cách gọi “chiến tranh VN” xoá nhoà đi điều quan trọng nhất của cuộc chiến, đó là nạn nhân là ai, chính nghĩa ở bên nào. Với cách gọi “chiến tranh VN”, người ta đã đánh đồng nạn nhân và kẻ xâm lược, rồi đi tới một nhận thức chung chung là “chiến tranh là man rợ, ai cũng là nạn nhân”, xa vào cái nguyên lý vớ vẩn kiểu như “vào chùa không dám đánh con muỗi vì là sát sinh, theo tư duy phật giáo, để rồi bị truyền bệnh sốt xuất huyết”. Với tôi, chiến tranh là điều bị bắt buộc, không ai muốn. Nhưng cũng chính vì thế không thể có sự lẫn lộn giữa kẻ xâm lược và người bị xâm lược.
Hãy tưởng tượng, trong tương lai, VN bị TQ bành trướng tiến đánh, thì các bác đang nỉ non theo cách nhìn lịch sử Mỹ, có đồng ý là VN và TQ đều là nạn nhân của “chiến tranh tàn ác” không. Tôi chắc rằng người ta sẽ nói không. Vậy điều đúng với TQ cũng đúng với Mỹ và bất cứ nước nào khác xâm lược VN. Việc có một bộ phận người Việt theo Mỹ (hoặc có bộ phận theo TQ rất có thể xẩy ra) không thể khiến người ta đánh đồng nạn nhân và kẻ xâm lược được. Trong các cuộc chiến tranh chống xâm lược của TQ trong lịch sử VN, việc này đều xẩy ra. Ví dụ. Khi nhà Minh xâm lược VN, thì nó cũng dựng lên nguỵ quan, ví dụ như Lương Nhữ Hốt. Khi nghĩa quân Lê lợi đánh quân Minh, thì cũng đánh cả nguỵ quân, ví dụ khi đánh đồn Nghệ An, chứ không phải chỉ quân Minh. Kháng chiến chống quân Nguyên thì có Trần Ích Tắc. Khi Quang Trung đánh quân Thanh thì có một bộ phận chính quyền vua Lê. Điều khác duy nhất giữa các cuộc kháng chiến này và cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước, đó là tài liệu còn ít, và tầng lớp nguỵ quan này huặc vị tiêu diệt, hoặc hoà vào dân bản địa TQ, không để lại dấu vết. Ví dụ, Nguyễn Lượng, một nhân vật kháng Thanh bảo vệ nhà Minh, mà các bác có thể đọc được trong dã sử kiếm hiệp TQ, có gốc là nguỵ quan người Việt mà ra. Ngược lại, cuộc kháng chiến chống Mỹ rất gần, tài liệu của đối phương cực nhiều, không kể “nguỵ quan” số lượng so với toàn dân VN thì nhỏ, nhưng do sống ở Mỹ, họ có điều kiện, có thời gian để “phục thù” bằng miệng, bằng bịa đặt, bằng giấy bút rất dễ dàng.

Không kể có những điều khác quan khác tác động vào. Ví dụ công cuộc đổi mới ở VN, được coi như sự phá sản về lòng tin với những gì là chính thống ở trong nước. Tư tưởng “đen thành trắng”, khiến người ta càng dễ bập vào, chấp nhận sự tuyên truyền đồ sộ, có hệ thống, bền bỉ..của media phương Tây. Chấp nhận nó để được thành ..chí sĩ.

Cuộc sống hiện tại, cũng khiến lớp trẻ thờ ơ với lịch sử hơn. Vì manga, k-pop, ..thú vị hơn.
Bộ phim tài liệu nhiều tập này, không hiểu tại sao nó lại được chiếu vào lúc này, vào thời điểm không phải là năm kỷ niệm các sự kiện được nói tới. Nó cũng được phát chiếu gần như đồng thời ở Mỹ, Đức, Pháp. Đây cũng là hiện tượng lạ. Có thể nó là điều “nhắn nhủ” của hệ thống media phương Tây với tổng thống Mỹ hiện thời trong quan hệ với Triều tiên không ? Tôi không rõ.
Bộ phim là cái nhìn của người Mỹ với cuộc chiến tranh. Và nếu tôi là người Mỹ, thì tôi có thể chấp nhận được nó. Bộ phim không phải chỉ nói tới chiến tranh VN, mà một phần lớn của nó nói tới sự vận động nội tại của nước Mỹ.

Cách dàn dựng của nó, thủ pháp nghệ thuật của nó cũng rất hấp dẫn, hiện đại, trung thành theo cách tư duy của người Anglo-saxon, thường sử dụng các ví dụ kiểu “điền dã”, “grass root”, để minh hoạ, chứ không đi sâu vào phân tích cấu trúc cuộc chiến. Cách thể hiện kiểu này phụ thuộc rất nhiều vào sự chọn lựa “nhân vật nào” của tác giả, chứ nó không phải là khác h quan. Sự chọn lựa nhóm cựu chiến binh Mỹ của họ, với tôi là tương đối chuẩn, thể hiện được toàn cảnh cái nhìn của người Mỹ, cũng như những uẩn khúc của phong trào chống chiến tranh ở Mỹ. Ngược lại sự chọn lựa các nhân chứng Việt nam, không đảm bảo được sự khách quan tương đối này.
Cách thức bình luận, cách chọn sự việc cũng không thể hiện được toàn cảnh, thực chất của cuộc chiến.
Tôi sẽ dần dần chỉ ra những điều theo tôi là khúc mắc này. Dù sao bộ phim cũng có một điều tốt, đó là nó hướng tới một quan hệ thân thiện hơn với VN. Không tạo rào càn tâm lý, chiến tranh tâm lý ngăn cản quan hệ Việt –Mỹ.

Còn người Mỹ hiểu theo kiểu Mỹ không phải là vấn đề. Vấn đề chỉ đặt ra khi là người Việt, mà lại nghĩ như người Mỹ thì mới là dở. Minh là người Việt, thì phải có cách hiểu của người Việt.
Phó Thường Nhân
Để bình luận cái bộ phim này, tôi sẽ nói theo chủ điểm. Những điểm đáng lưu ý. Chủ điểm đầu tiên tôi muốn nói tới là chủ tịch Hồ Chí Minh.
Chủ tịch Hồ Chí Minh là một nhân vật bất khả kháng, khi nói tới lịch sử hiện đại VN. Bác Hồ đã đi vào lịch sử VN, như các vua nhà Trần, như Quang Trung, Lê lợi, ..Ngay cả đối thủ, kẻ thù, cũng không thể bỏ qua, và bắt buộc phải công nhận.Từ đó mà có nhiều thái độ. Thái độ đầu tiên thường là thoá mạ, bôi xấu.. Đây chính là hình thức tuyên truyền của Sài gòn ngày xưa, rồi tiếp tới thái độ lợi dụng, rồi kiểu “khen mà là chê”.
Từ khoảng chục năm trở lại đây, thì thái độ lợi dụng thường được thể hiện bằng cách tách rời chủ tịch Hồ Chí Minh và sự việc cách mạng VN. Lấy Bác Hồ đối ngược với Đảng, với các nhân vật lãnh đạo khác, ví dụ trong phim này là ông Lê Duẩn. Một hình thức tương tự như vậy cũng được áp dụng cho ông Võ Nguyên Giáp. Và ở trong bộ phim này cũng thế.
Cách áp dụng ấy cũng đã được phương Tây dùng trong các trường hợp khác, ví dụ Đại tướng Giu cốp của Liên Xô. Theo đó Họ quy công trong chiến tranh thế giới thứ hai cho Giu cốp, ngược lại bôi đen Staline. Đồng thời, dựng lên những vấn đề Giu cốp bị “thất sủng” như thế nào.. Trong khi chiến thắng của Liên Xô là hệ quả của một sự tổ chức chỉ huy của Đảng cộng sản Liên Xô, tinh thần yêu nước của người Sô viết (trong đó có người Nga). Sự chỉ huy tài tình của Giu cốp là một phần đóng góp, nhưng không phải tất cả. Và nếu không có sự tổ chức của Đảng cộng sản Liên Xô, thì chiến thuật chiến lược của ông Giu cốp cũng không thực hiện được.
Cách làm này rất lợi, vì nó vừa có thể giải thích những điều không thể che dấu được, phải công nhận, đồng thời chia rẽ đối phương, vặn vẹo theo ý họ muốn nói.
Còn kiểu “khen mà chê” là thế nào. Ở đây họ dùng hai nhân vật, nhà văn Nguyên Ngọc và một bà Dương Bạch Mai nào đó. Một người là người VN, một người là người Mỹ gốc VN. Để cho ai không xem cái phim này, tôi nói ngắn gọn tóm tắt ở đây là họ nói gì. Theo bà Mai, thì chủ tịch Hồ Chí Minh đã tạo ra hình ảnh là một người không lập gia đình, cống hiến toàn bộ công sức cho đất nước. Còn theo ông Nguyên Ngọc, thì chủ tịch Hồ chí Minh đã lợi dụng tính cách văn hoá người Việt trọng tuổi già, nên ông đã để râu, rồi xưng là Bác, nhân đó mà lợi dụng sự kính trọng của người ta. Tóm lại theo cả hai người, thì chủ tịch Hồ chí Minh đã “dùng thủ thuật” để tạo nên sự kinh trọng cho mình. Và từ đó sẽ tạo cho người xem phim “phản cảm”, dù người làm phim không thể không công nhận chủ tịch Hồ Chí Minh được kinh trọng, và là một nhân vật bất khả kháng trong lịch sử VN hiện đại. Nhưng họ giải thích sự kinh trọng ấy bằng một cách bóp méo, sai sự thực.
Với bà Mai thì đó là chuyện thường, vì bà ta không bao giờ và chưa bao giờ là công dân của nhà nước VN hiện tại. Cuộc đời bà ta gắn liền với chế độ thực dân cũ, là bộ phận của nó. Vì thế cho nên, cảm nhận của bà ta là cảm nhận của một người Mỹ, người Pháp bình thường, dù bà ta nói tiếng Việt. Tôi nói rõ ràng ở đây là người Mỹ bình thường, chứ không phải là người Mỹ thông thái, hiểu biết, trí thức, có thể học hỏi được. Đây cũng là tình trạng chung của Việt kiều ở nước ngoài, trong khi ở trong nước hay gắn cho họ sự thông thái do có cái mác Việt kiều. Vì vậy thái độ của bà ta với lịch sử VN không có gì đặc trưng để mà nói tới cả.
Với ông Nguyên Ngọc thì đáng nói hơn. Vì ông ta là nhà văn, mà lại là một nhà văn cách mạng. Và với vị thế một nhà văn, tất hiên ông ấy cũng là người tìm hiểu văn hoá, thế tại sao tư duy của ông ấy cũng tụt xuống cái mức như một người Mỹ tầm thường kiểu như bà Mai. Phải chăng cái mác trí thức Việt kiều, của những người Việt kiều cực kỳ bình thường, một người Mỹ bình thường lại trở thành chân trời trí thức của trí thức VN trong nước bây giờ. Tôi không hiểu.
Tại sao tôi nói những điều bình luận về Bác Hồ là sai sự thực. Bởi cái lẽ nó thế này. Bác Hồ thực ra là một nhà cách mạng già. Khi cách mạng tháng 8 thành công năm 1945, Bác đã trên 50. Nhưng vào thời điểm này, Bác Hồ vẫn chưa là “cha già dân tộc”. Chuyện đó chỉ xẩy ra sao năm 1954. Lúc này Bác đã hơn 60 tuổi. Theo quan niệm Nho giáo, “lục thập bất đáo công đường” (sáu mươi tuổi thì không tới công đường nữa, tức là về hưu), thì bác già thật, chứ không phải là giả danh. Và việc gọi là “Bác”, thực ra là trẻ hoá. Chứ độ tuổi này, người ta có thể xưng “ông”. Tóm lại việc Bác Hồ để râu, được gọi là Bác, không phải là thủ thuật gì cả. Mà chỉ là phong tục tập quán VN bình thường. Giả dụ lúc ấy, mà bác Hồ muốn người ta gọi mình là “chú”, là “anh” ..thì mới là chuyện nực cười giống như bà già 60 mặc váy mini.
Theo như ông Nguyên Ngọc, Bác Hồ để râu, xưng Bác là để được mọi người kính trọng tạo hình ảnh. Nhưng tạo hình ảnh để làm gì ? bởi vì cũng vào thời điểm này, quyền lực trong Đảng được chuyển cho người trẻ hơn là ông Lê Duẩn. Chẳng nhẽ người làm chính trị tạo hình ảnh để mất quyền.
Bác Hồ là một nhà chính trị đặc biệt, chẳng những trong lịch sử VN mà cả lịch sử thế giới cũng không có nhiều. Với bác Hồ có thể có những nhân vật tương đương như Đờ Gôn (Pháp), Nasser (Ai cập), Sukarno (Indonesia), Găng đi (Ấn độ), Mustapha Kemal (Thổ). Những nhân vật cực lớn này, có nhiều người được coi là cha của dân tộc, ví dụ như Găng đi, hay Kemal, mà người Thổ vẫn gọi là Ataturk (Ata là cha, turk là người Thổ), dù lúc mất ông ta mới trên 50. Chính vì thế mà bác Hồ cũng được gọi là “cha già dân tộc”, nhưng danh hiệu này cũng rất ít khi được dùng. Tóm lại, sự kính trọng chủ tịch Hồ chí Minh, danh xưng là Bác thực ra không có gì là thủ thuật, ảo thuật, mà chỉ là sự kính trọng tự nhiên.
Cùng thời điểm này, ở VN, có hiện tượng tạo hình ảnh thật. Đó là ở miền Nam, với ông Ngô Đình Diệm. Vào cuối thập niên 50 (1955-1960), có sự chỉ đạo của Ngô Đình Nhu, tạo phong trào, “tôn vinh Ngô tổng thống”. Thời kỳ đó, vào rạp xem phim ở Sài gòn, trước khi xem phim phải hát bài tôn vinh Ngô Đình Diệm. Tuyên truyền của chế độ miền Nam, còn đi xa tới mức coi Ngô Đình Diệm là người “đánh Pháp, giành độc lập”. Trong khi chính quyền miền Nam là chính quyền kế thừa chính quyền thực dân Pháp, đồng thời vì Việt Minh mà Pháp mới phải rút, để Mỹ thế chân. Chứ Ngô Đình Diệm làm được cái gì.
Mặc dù được tuyên truyền dữ dội, ông Ngô Đình Diệm cũng không thể trở thành “cha già dân tộc” được, vì như tục ngữ nói. Có bột mới gột nên hồ. Thủ thuật tuyên truyền, dù xảo quyệt tinh vi thế nào cũng phải có thực chất mới chấp nhận được.
Phó Thường Nhân
Chủ điểm thứ hai tôi muốn nói tới là quan niệm thắng thua. Trong bộ phim tài liệu này, và các bộ phim khác của Mỹ hay phương Tây làm ra, thường làm cho người xem thấy nếu tính về từng trận đánh thì Mỹ luôn thắng. Nhưng tổng kết cuối cùng, không thể không công nhận lại là thua. Như vậy là nghịch lý. Hãy thử lập một công thức toán, gọi mỗi trận đánh là a, b,c. Nếu Mỹ thắng thì giá trị lớn hơn không (>0), nếu thua, thì nhỏ hơn không (<0), thì người ta sẽ thấy thế này.
a > 0, b > 0, c > 0, nhưng a+b+c <0. Để giải thích cái nghịch lý này, người ta thường đổ lỗi cho nội tình nước Mỹ, về phong trào chống chiến tranh ở Mỹ, về sai lầm khi tiến hành chiến tranh. Trong bộ phim này, tư duy nó cũng thế. Những dẫn chứng mà phim tài liệu Mỹ thường nói tới là cuộc tổng tấn công và nổi dậy năm 1968, rồi chiến dịch Quảng Trị vào mùa hè 1972, coi đó là những dẫn chứng điển hình về chiến thắng của Mỹ.
Ở đây tôi không tranh luận để tìm cách chứng minh VN luôn thắng, cái tranh cãi thắng thua này thực ra là chuyện trẻ con. Tôi hoàn toàn có thể chấp nhận Mỹ thắng năm 1968, rồi 1972, vì trong một cuộc chiến tranh, không thể có chuyện chỉ có thắng, mà phải có thua. Người ta vẫn nói “thất bại là mẹ thành công”. Nhưng vì là người theo dõi lịch sử toàn thế giới, không chỉ lịch sử VN. Tôi không khỏi so sánh cuộc chiến tranh của Mỹ ở VN, và các cuộc chiến tranh mà Mỹ tiến hành sau đó. Ví dụ cuộc chiến tranh ở I rắc. Trong cuộc chiến tranh ở I rắc, Mỹ đã rút kinh nghiệm từ cuộc chiến tranh ở VN, như tôi đã từng đề cập tới trong các chủ đề khác. Vì thế, tất cả những lý do mà theo Mỹ đã khiến họ thua ở VN, đều không có, đã được loại bỏ. Nhưng Mỹ cũng không thắng. Ở I rắc cũng không có những chiến dịch khổng lồ, để hai bên đấu lực như ở VN. Cuộc tái chiếm thành phố Falouja, có thể coi là một hình dạng mờ nhạt của cuộc tổng tiến công nổi dậy năm 1968, nhưng về quy mô thì không là gì.
Chính vì thế mà tôi mới đặt lại câu hỏi. Cái Mỹ gọi là thắng có thực là thắng không. Hay nói cách khác, phải chăng quan niệm thắng thua của Mỹ là sai.Quan niệm thắng thua của Mỹ là gì ? đó là quan niệm body count (đếm xác chết). Trong một trận đánh, nếu tỉ số đối phương chết nhiều hơn mình, và họ bỏ trận địa, thì đối với Mỹ nghĩa là thắng. Nhưng thực ra đó không phải là thắng,người chiến thắng là người chủ động, làm chủ được tình hình và lực lượng không bị tan rã. Người thắng là người chủ động đánh, chủ động rút, và lực lượng không bảo giờ bị tan rã tới mức không hồi phục được. Nếu nhìn nhận như thế, thì cái phép toán ở trên trở thành lô gíc. Bởi vì Mỹ không thắng năm 1968, cũng như không thắng năm 1972. Như vậy cái Mỹ gọi là thắng, thực ra là chỉ là thiệt hại của đối phương. Nó chỉ nói lên được tính chất ác liệt của cuộc chiến tranh, sự hi sinh của người nhân dân VN, sự man rợ do vũ khí Mỹ gây ra. Chứ không phải là thắng.
Lấy ví dụ, trong bộ phim tài liệu này về năm 1968. Những hình ảnh được đưa lên chủ yếu là ở Sài gòn, Huế. Trong đó Sài gòn, chủ yếu là xung quanh Đại sứ quán Mỹ. Ở Huế là quanh thành cổ. Nó là những điểm nóng, nhưng không nói lên được bức tranh tổng quan. Đây cũng là hạn chế của kiểu phim tài liệu “kiểu Mỹ”, làm theo kiểu “điền dã”, “phỏng vấn” này. Vì nó lấy cái cây, che đi cái rừng.Thiệt hại của VN là rất lớn hơn 8 vạn chiến sĩ, du kích, đổi lại với thiệt hại của người Mỹ (400 người) Mỹ không tính thiệt hại của “đồng minh” Việt nam cộng hoà. (Đây là theo số liệu của Mỹ). Chính vì tính theo kiểu body count này, mà người ta dẫn tới kết luận là Mỹ thắng. Nhưng ngay sau đó, cũng chính trong bộ phim này cũng nói, bộ tổng tư lệnh Mỹ ở miền Nam đòi tăng thêm quân. Như vậy là chiến thắng kiểu gì. Vì nếu đã thắng, thiệt hại ít thế, thì sao lại phải tăng quân, tăng viện.
Trong bộ phim này cũng nói, điểm đỉnh của việc quân Mỹ tham chiến ở miền Nam là vào tháng tư năm 1969, lúc số lượng lính Mỹ ở VN đạt đỉnh cao nhất. Nói cách khác, “chiến thắng 1968” cách đó 1 năm rưỡi, không cải thiện tí nào thực trạng chiến trường có lợi cho Mỹ cả.
Với phân tích của tôi, cuộc tổng tấn công và nổi dậy năm 1968 có ý nghĩa đặc biệt, và là bước nguặt của cuộc chiến. Không phải vì như người Mỹ nói là họ thắng trên chiến trường nhưng thua vì chính trị trong nước, mà vì cách tiếp cận cuộc chiến thay đổi. Từ năm 1960, khi có đồng khởi, cho đến năm 1968. Kháng chiến chủ yếu là chiến tranh du kích, nổi dậy. Nhưng cách đánh này không đủ. Không đủ mạnh để làm chủ các đô thị, và giả dụ có giải phóng được, thì cũng chưa giữ được. Không giữ được, không đánh được, không phải vì chính quyền miền Nam được dân ủng hộ, mà là vì hoả lực và sự hiện diện của quân đội Mỹ. Và qu ả thực, chỉ có thể giải phóng đô thị, khi “Mỹ cút”. Thành phố đầu tiên được giải phóng là vào năm 1974, thành phố Phước Tuy (tôi nhớ tên không rõ) ở về phía Tây Ninh.
Từ năm 1968 đến 1972, điều quan trọng nhất là sự lớn lên của bộ đội chủ lực. Chiến dịch năm 1972 là chiến dịch đối đầu của bộ đội chủ lực là chính. Nhưng vào thời điểm này, bộ đội chủ lực vẫn bị áp chế bởi hoả lực Mỹ. Vì thế vấn đề giải phóng đô thị (ở đây là thành cổ Quảng Trị) không thực hiện được.
Thay đổi cách đánh này cũng ảnh hưởng trực tiếp tới nhãn quan quốc tế của nhà nước VN. VN được hai nước ủng hộ là chính : TQ và Liên Xô. Trong thời kỳ đầu kháng chiến chống Mỹ, sự ủng hộ của TQ là chính. Vì nó vừa liên quan tới an ninh trực tiếp của TQ, và cũng vì Liên Xô muốn “chung sống hoà bình” với Mỹ, nên chỉ ủng hộ cầm chừng. Vào năm 1969, khi quan hệ Trung-Xô thành đối kháng, thì vai trò của Liên Xô với VN tăng lên. Không chỉ vì TQ tìm cách bắt tay với Mỹ, mà còn vì TQ không đủ sức để giúp VN trang bị quân đội chủ lực kiểu hiện đại. Không kể với cách mạng văn hoá, bắt đầu từ năm 1966 (kết thúc năm 1970), chiến lược của ngay quân đội TQ cũng là một dạng chiến tranh du kích.
Sự tin tưởng vào “chính quy hiện đại” kiểu Liên Xô, đã khiến cách nhìn nhận về TQ sai đi. Tất nhiên, người TQ đóng góp vào điều này là chính, vì họ đã bắt tay với Mỹ trên lưng VN. Nhưng có thể điều này đã đóng góp một phần khiến quan hệ quốc tế của VN từ chỗ “đa phương”, cân bằng giữa TQ và Liên Xô, lại ngả về phía Liên Xô, ít nhất là vể nhận định chủ quan của chính mình. Còn tất nhiên một quan hệ phải có hai phía, chứ không phải chỉ mình muốn là đủ.
Trở lại với câu chuyện thắng-thua Mỹ -VN. Với tôi Mỹ không thắng ở VN, dù là ở phương diện tổng quát(toàn bộ cuộc chiến) hay cục bộ (một trận đánh, một chiến dịch). Nhưng VN cũng không thắng Mỹ, mà chỉ đuổi được Mỹ đi thôi.Nói như bác Hồ nói là “đánh cho Mỹ cút”. Nếu VN mà thắng Mỹ, thì quân đội VN phải duyệt binh ở thủ đô Mỹ, lật đổ chính quyền Mỹ. Hiển nhiên điều đó không xẩy ra, vì cuộc chiến tranh của Mỹ ở VN là cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước của người Việt, không phải là cuộc chiến tranh xâm lược nước Mỹ của người VN. Ở đây không có Vietnam War, chỉ có kháng chiến chống Mỹ cứu nước mà thôi. Một lần nữa, người ta không thể đánh đồng người bị xâm lược, và kẻ xâm lược được. Nhưng điều này, không thể đòi hỏi được ở người làm phim Mỹ, cho người Mỹ, mình chỉ xem ké để xem nó nói gì thôi.
Phó Thường Nhân
Chủ điểm thứ Ba, tôi muốn nói tới là vấn đề Mỹ, VNCH, bản chất nhà nước VNCH.Từ sau năm 75 đến nay, đặc biệt trong lề trái, thường nói rằng cuộc kháng chiến chống Mỹ là cuộc nội chiến, rằng bản chất cuộc chiến tranh là một dạng cuộc chiến uỷ nhiệm, trong đó “miền Bắc xâm lược miền Nam”, là Liên Xô đánh nhau với Mỹ bằng người Việt. Là chủ nghĩa cộng sản xâm lược. Bộ phim tài liệu này của Mỹ, dù là người Mỹ làm, cũng không dám nói như thế mà nó cho người ta thấy rõ ràng, là cuộc chiến bắt đầu bằng sự vùng dậy của nhân dân miền Nam, dù trong phim không nói lý do. Vì thế việc lề trái mập mờ với cái nhãn hiệu “nhà nước VNCH” làm như nó đại diện, hay quản lý toàn bộ miền Nam, từ vĩ tuyến 17 vào trong là không phải. Từ năm 1960, chính quyền miền Nam chỉ quản lý được 1/3 đất đai. Chủ yếu là các đô thị, đặc biệt là vùng Sài gòn chợ lớn. Củ Chi chỉ cách Sài gòn 30 km đã là vùng giải phóng. Còn sở dĩ làm sao mà chính quyền VNCH còn giữ được các đô thị đó là do sự hiện diện của nửa triệu quân Mỹ và tiền viện trợ Mỹ. Còn tại sao không giải phóng được đô thị, thì tôi đã nói ở trên, đó là hình thức tác chiến kiểu du kích, nổi dậy không thể giữ được đô thị trước một đối thủ giầu có về súng đạn, hoả lực. Gần 50 năm sau, cái thực tế ấy vẫn đúng. Ví dụ hiện tại, IS có tinh thần rất cao, nhưng không thể trụ được trước hoả lực của Mỹ ở Mô xun, hay hoả lực Nga ở Alep.
Chính quyền VNCH từ đâu mà ra. Thực ra nó là chính quyền thực dân Pháp để lại. Nó được Pháp thành lập vào năm 1948, sau chiến dịch tấn công lên Việt Bắc vào năm 1947 thất bại, Pháp đã dựng ra nó để có cớ nhận viện trợ Mỹ tiếp tục chiến tranh ở VN. Quốc trưởng (tổng thống) chính là Bảo Đại, một ông vua bù nhìn thời Đông Dương thuộc địa. Sau năm 1954, Pháp thất bại phải rút đi, thì chính quyền này được “đá lại” cho Mỹ, thực ra hai năm cuối của cuộc kháng chiến chống Pháp, thì Mỹ đã chi trả 60% chi phí cuộc chiến cho Pháp, nên có thể coi giai đoạn này là giai đoạn chuyển giao. Vì nó là công cụ xâm lược của Mỹ, dưới lý do chống cộng sản, nên lúc cần “chính danh” thì Mỹ đưa ra như một “đồng minh”, nhưng trong thực tế, thì chính quyền Sài gòn chẳng là gì đối với họ. Vì thế trong tất cả các phim tài liệu, sách vở, ngay cả phim thương mại, giải trí. Hình ảnh VNCH chỉ là đĩ điếm, má mỳ, quân đội Mỹ hoạt động ở miền Nam như chỗ không người không chủ (bởi họ là chủ). Để tìm hiểu, nên xem các phim mà Mỹ làm về sự tham gia chiến tranh của họ ở châu Âu, ngay cả khi họ vào đất Đức, tức là đối thủ của Mỹ, người ta cũng không bao giờ thấy những cảnh như thế. Ngay trong bộ phim này, sự thể hiện đó cũng rõ ràng. Bộ phim có nói những tình tiết rất thú vị. Khi Mỹ đổ quân vào miền Nam đầu tiên, vào năm 1965 ở Đà nẵng, chính quyền Sài gòn phải đọc báo Mỹ mới biết..quân Mỹ đang đổ bộ vào đất nước của mình. Hay lúc Mỹ rút, ký hiệp định Paris vào năm 1973, sự phản ứng của ông Thiệu không làm cho Mỹ dừng bước. Và khi Mỹ rút chỉ hơn 1 năm rưỡi sau, thì chính quyền miền Nam đổ. Điều lo ngại nhất của Nixon khi ký hiệp định Paris năm 1973, là chính quyền Sài gòn đổ quá sớm, khiến cái trò hề “nhà nước VNCH” lộ quá nhanh. Nhưng thái độ của Mỹ như thế, nói khá chuẩn bản chất cái nhà nước này thế nào.
Nhưng nếu chỉ quan niệm, nhà nước VN CH là bù nhìn thì không đủ, mà phải xem bản chất riêng của nó ra sao. Bởi vì trong nhiều trường hợp, một nhà nước gọi là bù nhìn, có thể thoát khỏi vị thế đó, nếu giai cấp, lực lượng được dựng lên là tiến bộ, vì cũng có những lực lượng tiến bộ, do tương quan lực lượng, quá yếu cũng không giành chính quyền được. Vì chính nghĩa không phải là bên thắng cuộc, như một nhân chứng VN được tác giả bộ phim mang ra là ông Huy Đức. Người ta có thể lấy dẫn chứng là nhà nước Cam pu chia hiện tại. Chính quỳên của ông Hun Sen, đầu tiên tồn tại được là có sự giúp đỡ của VN, nhưng khi VN rút đi, chính quyền Cam pu chia vẫn tồn tại, tìm lại được vị trí của mình trong thế giới. Đây là ví dụ điển hình của một nhà nước phụ thuộc, được dựng lên, trở thành độc lập. Tất nhiên người ta có thể lấy lý dó đó là do VN giúp đỡ nhân dân Cam pu chia một cách thật sự, không phải là một cuộc xâm lược, nhưng bản chất của những người tạo ra một chế độ cũng rất quan trọng. Bù nhìn hay không nó cũng nằm ở đây.
Về bản chất, chính quyền Ngô Đình Diệm là chính quyền của giai cấp phong kiến, được thực dân Pháp cưu mang giữ lại. Trong một nhà nước độc lập thời cận đại, giai cấp phong kiến không, dù có độc lập cũng đã là phản động, bây giờ ông lại là “chó giữ nhà” cho thực dân Pháp còn lại thì lại càng phản động hơn.
Thời đệ nhị cộng hoà, sau khi Ngô Đình Diệm bị Mỹ lật đổ, bản chất nhà nước là một nhóm quân phiệt,đứng đầu lực lượng vũ trang do Mỹ đặt ra, trang bị để đánh thuê cho nó. Tính tích cực của nó cao hơn tính chất phong kiến của thời Ngô Đình Diệm, nhưng nó cũng không phải là một nhóm vũ trang độc lập (giống như quân đội Pê ru, hay quân đội Ai cập, hay quân đội Miến, Thái, Indo..), mà vẫn chỉ là nhóm đánh thuê.
Chính sử ở VN hiện tại, chỉ đề cập tới nhà nước VNCH như một chính thể bù nhìn. Điều đó không sai, nhưng bỏ quên tính chất phản động do tính chất giai cấp của nó mang lại, thì lại thiếu. Chính vì sự bỏ quên này, mà cái bức tranh của nhà nước VNCH không đầy đủ, khiến người ta ngộ nhận là nếu nó còn tồn tại thì có thể như Hàn quốc, Đài loan.. chỉ vì lý do nó được Mỹ ủng hộ.
Phó Thường Nhân
Trước khi viết tiếp một số điều về VNCH, không có trong phim tài liệu Mỹ, để mọi người có cái nhìn hoàn chỉnh hơn. Tôi trở lại câu chuyện “Bác” của Bác Hồ, vì tự dưng nhân dịp Trung thu năm nay, chủ tịch nước Trần Đại Quang, cũng viết một bức thư gửi thiếu niên, nhi đồng toàn quốc. Bức thư ấy có thể gọi là bản cóp pi hoàn chỉnh cách viết của Bác Hồ ngày xưa, ngay cả cái câu cuối cùng cũng như vậy. Và tất nhiên chủ tịch nước Trần Đại Quang, xưng là Bác.
Tôi tất nhiên giờ không còn là “nhi đồng thối tai”, nhưng khi đọc bức thư ấy cũng không khỏi ngỡ ngàng. Về thực tế, chủ tịch Trần Đại Quang có thể xưng mình là Bác với nhi đồng, có thể xưng ông cũng được, vì ông đã vào đội tuổi 60, thế hệ 5X, không có gì là sai. Nhưng trong lịch sử chính trị VN, danh từ nhân xưng chung “Bác” đã gắn liền với Bác Hồ, thành danh từ nhân xưng riêng. Khi đọc bức thư gửi nhi đồng này. Tự nhiên tôi lại nhớ tới câu thơ của nhà thơ Tố Hữu viết về anh Nguyễn văn Trỗi. Trong đó có câu “Trước khi hi sinh Anh gọi bác ba lần”. Tự nhiên phì cười vì liên tưởng tới việc người ta có thể lầm tưởng chữ “Bác”, nói tới Bác Hồ, trong câu thơ được gán cho bác Trần Đại Quang, do tình trạng hiểu biết lịch sử yếu kém hiện nay ở VN,râu ông nọ cắm cầm bà kia, thì đúng là cười ra nước mắt (vì ngộ nghĩnh) . Tất nhiên có điều an ủi là hiện nay, để cập nhật lịch sử VN, giới “thời thượng” , “trí thức” thích sử dụng tài liệu Anh-Mỹ-Pháp một cách mù quáng hơn, thích nói ngược hơn. Nên khả năng nhớ thơ Tô Hữu lại viết về anh Nguyễn Văn Trỗi, thì xác xuất để chuyện đó xẩy ra cũng hơi kém, nên sự lầm lẫn khó xẩy ra. Nhưng qua câu chuyện này, tôi muốn nói lên một điều là. Không phải cứ tự xưng là Bác mà được. Sự tôn kinh chủ tịch Hồ Chí Minh, được gọi là Bác là do trong dân mà ra, khiến cái đại từ nhân xưng này thành một thứ đại từ nhân xưng riêng, gắn liền với chủ tịch Hồ Chí Minh. Đây là hiện tượng rất ít khi xẩy ra trong lịch sử VN và ngay cả lịch sử thế giới. Nó cũng giống như việc Mahama (đại hồn, đại thần) được dùng để gọi Găng đi, hay Ata (là cha) mà người Thổ gọi Mustapha Kemal mà tôi nói tới.
Chủ tịch nước Trần Đại Quang đã làm việc có ý nghĩa, đó là nối lại một truyền thống có từ đầu cách mạng tháng Tám, khi kế tục Bác Hồ viết thư cho nhi đồng. Nhưng nếu chọn được một cái phỏm kiểu khác, thì có lẽ thú vị hơn. Nhưng quả thật cũng khó. Vì nếu không xưng là Bác thì cách viết nào hợp lý. Chẳng nhẽ “chủ tịch nước ôm hôn các cháu” ??
root
Đồng chí chủ tịch nước đau ốm đã lâu, cố gắng lắm mới xuất hiện một lúc vào ngày 2/9. Có nhiều tin đồn xuất hiện về chuyện vắng mặt của đ/c. Việc viết thư Trung Thu chắc do thư ký của đ/c chấp bút thôi!
Phó Thường Nhân
@root,
Tôi không phải là người quan tâm bình luận thời sự, đặc biệt thời sự kiểu “nhìn qua lỗ khoá”. Tôi cũng không phải là fan cuồng kiểu phân tích, như các đài báo phương Tây vẫn sử dụng với các nước XHCN cũ, với Triều Tiên, rồi VN. Đối với tôi, kiểu phân tích ấy nhiều khi chỉ thể hiện một dạng bịp bợm, chiến tranh tâm lý. Việc các loại đài media kiểu đài RFI, BBC, châu Á tự do tiếp tục cái khuôn kiểu này từ thời chiến tranh lạnh chỉ chứng tỏ họ không bao giờ ngừng hoạt động tuyên truyền mà thôi.
Cách nhìn của tôi là qua phân tích cái khung, những điều kiện bắt buộc. Nếu mà là sự kiện, thì là sự kiện dài hơi, theo tinh thần duy vật lịch sử. Vì tất cả những nhận thức, thông tin này chính xác hơn, chuẩn hơn. Có ý nghĩa hơn. Cách phân tích ấy là của chủ nghĩa Mác – Lê nin.
Còn việc tôi bình luận có liên quan tới ông Trần Đại Quang là vì bức thư của ông “kiểu viết Bác Hồ, ngay cả cách xưng hô” trên báo lề chính bình thường, dưới khía cạnh văn hoá, nhân vì tôi bình luận về ông Nguyên Ngọc ở trên, nên viết ở đây.
Trước khi rút ra một chủ điểm tiếp theo, tôi viết tiếp một chút ở đây những điều bộ phim không nói tới về chính thể VNCH.
Bộ phim không đề cập tới chính thể này ra đời thế nào, Ngô Đình Diệm đã lên năm quyền ra sao, trong khi đó sự ra đời của chính thể này chính là Mỹ tạo ra. Tất nhiên người làm phim có quyền chọn lựa điều mình muốn nói, chính vì thế mà không bao giờ có sự khách quan trong lịch sử. Nếu lịch sử là khách quan, thì nó chỉ là một đống sự kiện lổn nhổn không đầu không đuôi. Để cho cái đống sự kiện khách quan này trở thành lịch sử, tức là một story (câu chuyện) thì phải gắn kết các sự kiện với nhau. Sự gắn kết này phụ thuộc vào nhận thức của tác giả, vì nó là sự đánh giá. Nhân thức này phụ thuộc vào nhiều yếu tố mà tác giả nằm trong đó như : cộng đồng dân tộc, tôn giáo, ý thức hệ tư tưởng, kinh nghiệm sống cá nhân, kiến thức... Lịch sử càng gần với khách quan hơn, khi tác giả bỏ qua được quyền lợi cá nhân, có một phương pháp làm việc khoa học,..v..v..Nhưng khách quan hay không cũng không phải là chính nghĩa. Đã nói tới chính nghĩa tức là nói tới sự chọn lựa. Với người VN bình thường, như tôi chẳnghạn, thì chính nghĩa là nhìn lịch sử qua số phận, vận mệnh của cộng đồng dân tộc. Nhưng nhân vật nào làm cho cộng đồng VN mạnh lên, tồn tại, phát triển thì đó là chính nghĩa. Ngược lại thì là phi nghĩa. Vì thế không có chuyện lịch sử kiểu “bên thắng cuộc”. Thắng hay thua lịch sử cũng chỉ có một bên chính nghĩa. Vn là nước ảnh hưởng nhiều của Nho giáo. Nhà nho phân biệt điều này rất rõ. Chính nghĩa là Vương Đạo (đạo của vua), phi nghĩa là BÁ ĐẠO (đạo của cường hào ác bá). Bá đạo dù có thắng cuộc, có cường bạo cũng không có chính nghĩa.
Vào thời điểm chia cắt đất nước vào năm 1954, chính quyền miền Nam có rất nhiều lợi thế so với chính quyền Việt Nam dân chủ cộng hoà ở miền Bắc. Nó thể hiện ở những điểm sau.
1- Trong kháng chiến chống Pháp, chiến trường chính là ở miền Bắc. Sự tàn phá ở miền Bắc nhiều hơn trong Nam.
2- Điều kiện thổ nhưỡng ở miền Nam cũng thuận lợi hơn miền Bắc. Ở miền Bắc, ngay cả bây giờ cũng vậy, việc phát triển kinh tế chỉ có thể trông chờ vào công nghiệp hoá, dịch vụ, sức lao động. Trong miền Nam điều kiện phát triển nông nghiệp thuận lợi hơn. Hiện nay với dân số 90 triệu người, thì Bắc Nam là như nhau lợi thế thời xưa không còn, nhưng vào năm 1954, khi dân số toàn VN chỉ có xấp sỉ 30 triệu, (miền Nam khoảng 14 triệu), thì nông nghiệp có thể là sức đẩy tích luỹ để công nghiệp hoá rất tốt ở miền Nam.
3- Miền Nam thừa hưởng cả một bộ máy nhân sự trí thức có sẵn từ thời thực dân. Những trí thức này, sau khi trừ bì chính sách đào tạo què quặt của thời thực dân Pháp vì được đào tạo chủ yếu về nhân văn ít trọng kỹ thuật, cũng vẫn là vốn quý để khởi điểm.
4- Nước ủng hộ miền Nam là nước Mỹ, với tiềm lực vô tận tính ở thời điểm đó. Lúc đó nước Mỹ chiếm tới Ba phần 4 ( 3 / 4) tổng sản phẩm kinh tế TOÀN THẾ GIỚI.
5- Khi hiệp định Giơ nép vơ được ký kết, thực ra nó không phản ánh tương quan lực lượng thực tế trên chiến trường mà nó phản ánh tương quan lực lượng trên toàn thế giới, giữa Liên Xô-TQ một bên, Mỹ-Pháp phương tây một bên. Nếu tính tương quan lực lượng trên chiến trường, thì vùng giải phóng phải tiến tới vĩ tuyến 13, tức là khoảng Bình định, Phú Yên. Thay vào vĩ tuyến 17, sông Bến Hải. Bởi vì gần như toàn bộ khu Năm (Quảng Nam Quảng Ngãi, Bắc Tây nguyên) là vùng giải phóng. Không kể các căn cứ địa ở U minh, ở miền Đông Nam bộ,.. Sau này khi kháng chiến bùng nổ, bắt đầu bằng đồng khởi năm 1960, thì những vùng kháng chiến cũ này lại trở lại thành vùng giải phóng. Chị ĐẶng Thuỳ Trâm có thể vào làm Y tá ở Đức Phổ (Quảng Ngãi), Củ chi có địa đạo, Mỹ tho là vùng giải phóng..thực ra chỉ là sự thể hiện lại tượng quan lực lượng trên chiến trường từ kháng chiến chống Pháp đã có. Nhưng điều này chỉ có từ năm 1960. Còn từ năm 1954, chính quyền miền Nam đã có quyền quản lý toàn bộ đất đai, từ vĩ tuyến 17 trở vào trong. Lợi hơn nữa. Với ràng buộc tập kết của hai bên, các lực lượng kháng chiến chống Pháp đã phải rút ra Bắc. Điều thuận lợi của chính quyền miền Nam này, không phải đánh đấm gì cũng có. Nhưng dùng được nó không lại là chuyện khác. Và chính vì nó không dùng được, mà sự phản động của chế độ này hiện ra.
Sự phản động này thể hiện như thế nào. Trước khi nói đến nó. Phải giải quyết một vấn đề trước nữa, đó là chính quyền miền Nam được Mỹ dựng lên, phải chăng tất cả chính sách của nó là Mỹ quyết định. Đặc biệt vào giai đoạn 1954-1960. Vì kháng chiến chống Mỹ chỉ bùng nổ thực sự vào năm 1960, với phong trào Đồng Khởi (viết tắt của Đồng thời khởi nghĩa trên toàn miền Nam)
(còn tiếp)
Phó Thường Nhân
Thời điểm đầu tiên, khi Mỹ bắt đầu tiếp quản chính quyền thực dân Pháp là lúc tất cả tay chân của thực dân Pháp, được Mỹ coi là không tin cậy, phải ra đi. Đầu tiên là Bảo Đại, ông vua bù nhìn, rồi đến các lực lượng giáo phái bao gồm Bẩy Viễn, Hoà Hảo, Cao đài. Và việc này được Ngô đình Diệm thổi lên là dân tộc, vì “đánh Pháp”. Trong thực tế, các lợi ích kinh tế của thực dân Pháp, ví dụ như đồn điền cao su, vẫn được giữ nguyên. Vào thời điểm 1955-1960, thì Mỹ chủ yếu giúp xây dựng lại quân đội miền Nam, thay thế tầng lớp sĩ quan Pháp rút đi (vì nó vốn là quân đội thuộc địa), bằng các tầng lớp sĩ quan người Việt. Các nhân vật như Thiệu,Kỳ, Minh “lớn”, Nguyễn Khánh, Chánh Thi..v.v..được đẩy lên. Họ vốn là sĩ quan trong quân đội thuộc địa Pháp, Nguyễn Văn Thiệu chẳng hạn, đã từng là tiểu đoàn trưởng, chỉ huy một tiểu đoàn người Việt (ta gọi là nguỵ quân), tham gia càn quét ở đồng bằng Bắc bộ trong kháng chiến chống Pháp. Sau này, số phận tầng lớp sĩ quan này cũng khác nhau, tuỳ theo quá khứ có gắn bó chặt chẽ quá với Pháp không. Vì thế Nguyễn Cao Kỳ không thể trở thành tổng thống được, vì đã từng lấy vợ Pháp. Tương tự như vậy với Nguyễn Khánh, rồi Minh “lớn”, người trở thành tổng thống cuối cùng của chế độ miền Nam. Việc trang bị lại quân đội thực dân Pháp để lại này, đã giúp Mỹ nắm trực tiếp quân đội miền Nam, qua mặt các “lực lượng chính trị” xung quanh gia đình họ Ngô, để đẩy nó lên trong thể chế được gọi là cộng hoà thứ hai ở miền Nam (thời tổng thống Thiệu). Vì thế bản chất chế độ của nhà Ngô là phong kiến. Còn bản chất cái cộng hoà thứ hai ở miền Nam là một nhóm tướng lĩnh được Mỹ nắm trực tiếp.
Chính vì thế trong giai đoạn đầu 1955-1960, chính sách xã hội ở miền Nam, thể hiện bản chất giai cấp của nó, vì ảnh hưởng chỉ đạo của Mỹ không lớn, nó chỉ cần ông chống cộng thôi. Chính chính sách xã hội của chính quyền miền Nam vào thời kỳ này đã thể hiện sự phản động của giai cấp nắm quyền, là địa chủ, dẫn đến sự vùng lên của nhân dân miền Nam.
Sự phản động quyết định nhất đó chính là cải cách điền địa ở miền Nam vào năm 1959. Theo đó, ruộng đất trong các vùng giải phóng cũ, phải trả lại cho địa chủ, đồng thời người nông dân phải hoàn lại tô thuế cho địa chủ trong giai đoạn kháng chiến chống Pháp (vì thời gian này, chính quyền cách mạng đã thực hiện giảm tô cho người nông dân).
Để hiểu câu chuyện này tôi sẽ so sánh nó với .. thời sự Việt Nam ngày nay, và sau đó so chính sách đó với những nước đang phát triển, tương đồng với VN vào thời điểm đó.
Cách đây mấy tháng có sự kiện ở Đồng Tâm,gần Hà nội, mà câu chuyện là tranh chấp đất đai giữa quân đội và nhân dân. Cách đây mấy năm có vụ ông Vươn ở Hải phòng. Hai sự kiện này có tính cục bộ, do giấy tờ địa phương lằng nhằng gây ra, chứ không phải là chính sách nhà nước. Mặc dù thế hai vụ này cũng nổi trội so với các rối loạn khác bởi tính chất vũ trang, bạo động của nó. Bây giờ hãy tưởng tượng mức độ của nó gấp 1000 lần như thế, vì là chính sách nhà nước, và nó động tới cỡ 1 triệu héc ta đất trên toàn lãnh thổ, chứ không phải chỉ vài chục héc ta, thì các bác sẽ thấy được sự rung động ở miền Nam khi có cải cách điền địa năm 1959. Ở miền Nam vào năm 1959, 80% dân là nông dân.
Khủng hơn nữa, là sau đó, chính quyền Ngô Đình Diệm đã trấn áp bằng khủng bố, mang máy chém xuống trị dân, với cáo buộc vu họ là cộng sản, với luật 10/59. Quả thật đúng là nông dân đã hưởng lợi ích do cách mạng tháng 8 mang lại, nhưng hãy thử xem ở những nước khác, thuộc thế giới thứ 3, chính quyền không có dấu vết cộng sản gì cả, họ làm thế nào với vấn đề ruộng đất.
Ở Ai cập, chính quyền Nasser, cũng vào thời điểm này chia lại ruộng đất cho nông dân. Ở Thái lan, dù không có chia lại ruộng đất thì chính quyền Thái cũng hạn chế sở hữu đất và giảm tô. Ở Thái chính sách này không được thực hiện triệt để, giữa các vùng miền Bắc Thái, Đông Thái, Trung Tâm Thái do sự phản ứng của địa chủ từng vùng này khác nhau, do chính quyền trung ương của nó không ép được, mà hậu quả dẫn tới bây giờ, đó là nguồn gốc sự chia rẽ áo vàng, áo đỏ hiện tại. Nhưng dù sao đi nữa, bất cứ là dạng chính quyền nào, dù là cộng sản hay dân tộc, người ta nhất định phải xoá bỏ giai cấp địa chủ. Chỉ có cách thức là khác nhau mà thôi. Ở miền Nam thì làm ngược lại. Củng cố địa chủ phong kiến.
Tính chất phong kiên của chế độ miền Nam còn thể hiện ngay vào bộ máy nhà nước. Về mặt hình thái, chế độ này là chế độ đại nghị tư sản, như các bác lề trái, chí sĩ, “đa nguyên đa đảng” hô hào đòi áp dụng vào VN hiện tại. Nhưng nó không hoạt động như thế mà bị khống chế, tê liệt bởi gia đình Ngô Đình Diệm, thông qua 4 người anh em, mà chức vụ không liên quan gì đến nhà nước này cả, không có chính danh. Như Ngô Đình Thục, được coi là lãnh chúa Nam Bộ, chỉ có chức vụ là giám mục ở Vĩnh long. Ngô đình Cẩn , lãnh chúa miền Trung thì tạo ra một hệ thống công an mật riêng. Ngô Đinh Nhu, và vợ chỉ là cố vấn của Ngô Đình Diệm, nhưng thực tế là điều khiển nhà nước. Còn một ông nữa, thì làm đại sứ ở Mỹ. Vậy tại sao một chế độ, về hình thái “tiến bộ” như thế lại sinh hoạt như một triều đại phong kiến. Với tôi, bởi vì cái đế để cho hình thái đại nghị này hoạt động không có.
Chính quyền miền Nam lúc đó có thể làm khác không ? Tại sao nó không giữa nguyên hiện trạng, thậm chí có thể mở rộng cái thành quả cách mạng tháng 8 này cho toàn bộ nông thôn miền Nam, còn tầng lớp địa chủ bị mất đất, mất tô thì nhà nước có thể bồi thường bằng tiền, và biến họ thành tư sản. Tôi nghĩ chính quyền Diệm hoàn toàn có thể vay tiền Mỹ làm điều này, và Mỹ có thừa tiền để cho vay, tại sao không làm.Người ta chỉ có thể giải thích bằng bản chất giai cấp. Và nếu Ngô Đình Diệm làm thế, thì ông ta và những người theo ông ta cũng là vĩ nhân, dù khởi điểm yếu kém. Nhưng nhà Ngô có làm được thế đâu, không những chỉ vu oan “việt cộng” cho dân thường, thực chất chỉ để cướp đất người ta mà lại còn phân biệt tôn giáo. Sự sụp đổ của chế độ Ngô đình Diệm khởi đầu bằng một việc lãng nhách. Đó là việc cấm người theo đạo Phật làm lễ phật đản, mà việc cấm này cũng không phải là theo luật lệ gì mà ra, mà chỉ vì các nhân sự là người công giáo, hoặc muốn nịnh Ngô Đình Diệm, Ngô Đình Cẩn mà làm ra thế. Tức là nguyên cớ của nó hoàn toàn là phong kiến. Một thứ phong kiến hủ lậu
Phó Thường Nhân
Sự tàn bạo của chiến tranh. Chiến tranh là tàn bạo, khốc liệt, bởi nó là giải pháp cuối cùng để giải quyết một mâu thuẫn. Trong khoảng thời gian 1945-1991, ở VN liên tục có một chuỗi chiến tranh: kháng chiến chống Pháp, kháng chiến chống Mỹ, chiến tranh chống TQ bảo vệ biên giới, chiến tranh lật đổ chế độ diệt chủng Pôn pốt ở Cam pu chia. Mỹ, Pháp, TQ, Khơ me đỏ đều tàn ác. Nhưng sự tàn ác và man rợ khác nhau. Tàn ác của Khơ me đỏ là man rợ kiểu trung cổ lạc hậu, tàn ác của TQ là thâm hiểm tỉ mỉ, do vì đồng chủng đồng văn hiểu biết văn hoá nhau, còn tàn ác của Pháp, Mỹ là tàn ác kiểu hiện đại, của các xã hội có điều kiện kỹ thuật tân tiến, của xã hội công nghiệp hoá. Về cơ bản sự tàn bạo của thực dân Pháp và đế quốc Mỹ là giống nhau, chỉ khác nhau có mấy điểm sau:
- Pháp hoàn toàn có nhận thức về sự tàn ác này, vì với bản chất thực dân, Pháp hoàn toàn hiểu những cớ chiến tranh của nó là sai. Ngược lại Mỹ lại hoàn toàn tin vào sự can thiệp của Mỹ ở VN, ít nhất vào thời gian đầu, là đúng.
- Thực dân Pháp cũng tra tấn người, đốt nhà, thực hành chính sách như Mỹ. Nhưng Pháp giấu đi, không bao giờ trưng ra. Ngược lại, media Mỹ lại được đăng tương đối thoải mái những sự việc này. Phải sau cuộc chiến tranh ở VN, Mỹ mới rút kinh nghiệm không cho media tiếp cận như vậy nữa. Vì thế tội ác của Mỹ ở Vn có bằng chứng hình ảnh rất dồi dào. Tất nhiên, do điều kiện kinh tế yếu hơn Mỹ, nên tội ác của thực dân Pháp không hiện đại, máy móc, cơ khí.. như tội ác của Mỹ ở VN.
Mặc dù vậy, tội ác chiến tranh của Mỹ ở VN cũng có những điều mà Pháp không có. Và đây là những đặc trưng của nó.
1- Sự tàn bạo bởi chính sách đếm xác chết. Như tôi đã nói ở trên. Tư duy điều khiển quân đội, tiến hành chiến tranh bằng cách đếm xác chết, đã khiến cho sự tàn bạo của lính Mỹ ở Vn tăng nhiều lần. Do chiến tranh không có giới tuyến, bất kỳ một người VN nào, dù là trẻ con, phụ nữ, cũng có thể là kẻ thù, cộng với tinh thần thương mại của người lính Mỹ mà việc thảm sát dân thường,rồi vu cho là Việt cộng, để tính vào body count lấy thưởng dễ dàng.
2- Cuộc chiến tranh mang mầu sắc phân biệt chủng tộc. Lính Mỹ ở VN có thể rất tàn bạo, vì đối diện với họ là một nền văn hoá khác, con người khác. Cuộc chiến tranh Mỹ tiến hành ở Vn có mầu sắc như Mỹ tiêu diệt người da đỏ thế kỷ XVIII.
3- Cuộc chiến tranh mang mầu sắc xâm lược thuộc địa. Điều này thể hiện rất rõ trong việc sự hiện diện của lính Mỹ làm băng hoại xã hội miền Nam như thế nào, bằng việc tạo ra một nền kinh tế phục vụ cho sự ăn chơi của quân đội Mỹ. Chẳng phải chỉ ở Sài gòn mới có điều đó mà nó còn lây sang Băng cốc, Ma ni la.
4- Chiến tranh càng tàn khốc, dã man, khi lính Mỹ mất hết ảo tưởng “chính nghĩa”. Càng về giai đoạn cuối của cuộc chiến tranh,sự dã man của quân đội Mỹ ngày càng tăng. Người ta có thể thấy điều này, trong những phim thương mại Mỹ dựng về VN, ví dụ Apocalyps now, mà ba điều tôi nói trên đây, được “thẩm mỹ hoá”.
Nhưng điều ở trên, người ta sẽ thấy rất rõ khi so sánh sự hiện diện của quân đội Mỹ tại VN, với sự hiện diện của họ ở châu Âu trong đại chiến một và hai.
Phó Thường Nhân
Sự dã man của quân đội Mỹ, được thể hiện một cách rất bình thường đời thường, như ăn uống thở hít. Trong bộ phim, có hai ví dụ gây ấn tượng với tôi nhất. Đó là hình ảnh “truyền hình trực tiếp” cảnh lính Mỹ đốt nhà, và vì ta là người Việt, mình có thể nghe trực tiếp những lời người dân kêu than, trong khi người Mỹ chỉ có thể nghe lời dịch, tường thuật. Những lời nói đó chứng tỏ rất rõ ràng Mỹ đang sát hại dân thường. Ví dụ thứ hai là lời thuật của một người lính Mỹ gốc Nhật,hiện tại là thẩm phán ở California. Anh ta kể rằng vì là gốc châu Á, nên xin cơm của người dân để ăn. Chính bởi vì xin cơm, và là người châu Á, anh ta mới phát hiện ra rằng cơm đang nấu cho rất nhiều người, và từ đó phát hiện ra hầm bí mật. Sau khi đã tàn sát những người trong hầm, lính Mỹ đã vứt xác của họ ra giữa đường, để xem phản ứng của người dân, và từ đó tìm bắt thân nhân của những người đã bị giết. Nếu việc giết hại người ta có thể chấp nhận được, vì là hai phía của chiến tuyến. Thì thái độ vừa ăn cơm của người ta, rồi lại giết người ngay được, đã chứng tỏ sự tàn ác đời thường của lính Mỹ.
Việc lính miền Nam, lính Mỹ buộc xác người kéo ra đường để thị uy và nhận dạng, trong văn học cách mạng nói rất nhiều. Người ta thường “buộc tội” văn học cách mạng tuyên truyền, nhưng trong phim này, lần đầu tiên có nhân chứng những chuyện đó là thật.
Người Mỹ tham chiến ở VN làm gì ? vì lợi ích gì ? ở VN ta thường so sánh với nguyên cớ xâm lược của thực dân Pháp. Nhưng cuộc xâm lược của thực dân Pháp và Mỹ khác nhau. Với thực dân Pháp, đó là công cuộc tìm kiếm thị trường, vì thế cuộc xâm lược của thực dân Pháp là “lấy mỡ nó rán nó”, bằng cách mỗi lần áp đặt được một hiệp định không bình đẳng với chính quyền nhà Nguyễn, thực dân Pháp lại lấy nhân lực, vật lực, cộng tiền bồi thường của nhà Nguyễn để tiếp tục chiến tranh. Với Mỹ, con bài của Mỹ là bàn cờ toàn thế giới. Lúc tham chiến, Mỹ không (chưa) thể thu lợi trực tiếp từ VN. Nhưng cuộc chiến tranh cũng mang lại lợi ích cho tổ hợp công nghiệp chiến tranh Mỹ, và tiền tổ hợp công nghiệp chiến tranh này thu được là bằng tiền thuế của người dân Mỹ. Nói cách khác, số tiền Mỹ tiêu vào chiến tranh này có thể coi là tiền tài trợ ngấm ngầm cho công nghiệp Mỹ. Là tiền chùa để công nghiệp Mỹ phát triển công nghệ. Bắt đầu là công nghệ chiến tranh, rồi sau đó chuyển sang dùng vào kinh tế dân sự.
Hầu như tất cả các hãng lớn, là xương sống của kinh tế Mỹ, đều cung cấp phương tiện chiến tranh cho quân đội Mỹ trong chiến tranh ở VN, mà điển hình “nổi tiếng” nhất có lẽ là hãng Monsanto (trước gọi là Dow Chemical), cung cấp thuốc độc da cam, mà thực chất là thuốc diệt cỏ dùng trong nông nghiệp có nồng độ cao hơn.
Chính vì công nghiệp chiến tranh ở Mỹ gắn liền với kinh tế, cho nên quân đội Mỹ được trang bị một cách thừa thãi nhất, phung phí nhất, hệ thống vũ khí cồng kềnh nhất. Vì nó là tiền chùa, càng tiêu thụ nhiều càng tốt. Điều này ảnh hưởng trực tiếp tới quân đội Miền Nam được Mỹ trang bị. Quân đội miền Nam cũng được tổ chức giống như một quân đội tiêu thụ. Quân đội kiểu này, chỉ có thể tác chiến khi có một nền công nghiệp hùng hậu đằng sau. Chính vì thế mà vào năm 1975, bỏ ngoài vấn đề tinh thần, quân đội VNCH có cực nhiều vũ khí, nhưng vẫn không tác chiến được vì không đủ. Vì để tác chiến phải có không quân. Lấy hoả lực không quân làm chính.
root
QUOTE(Phó Thường Nhân @ Oct 18 2017, 09:43 PM)
Sự dã man của quân đội Mỹ, được thể hiện một cách rất bình thường đời thường, như ăn uống thở hít. Trong bộ phim, có hai ví dụ gây ấn tượng với tôi nhất. Đó là hình ảnh “truyền hình trực tiếp” cảnh lính Mỹ đốt nhà, và vì ta là người Việt, mình có thể nghe trực tiếp những lời người dân kêu than, trong khi người Mỹ chỉ có thể nghe lời dịch, tường thuật. Những lời nói đó chứng tỏ rất rõ ràng Mỹ đang sát hại dân thường.  Ví dụ thứ hai là lời thuật của một người lính Mỹ gốc Nhật,hiện tại là thẩm phán ở California. Anh ta kể rằng vì là gốc châu Á, nên xin cơm của người dân để ăn. Chính bởi vì xin cơm, và là người châu Á, anh ta mới phát hiện ra rằng cơm đang nấu cho rất nhiều người, và từ đó phát hiện ra hầm bí mật. Sau khi đã tàn sát những người trong hầm, lính Mỹ đã vứt xác của họ ra giữa đường, để xem phản ứng của người dân, và từ đó tìm bắt thân nhân của những người đã bị giết. Nếu việc giết hại người ta có thể chấp nhận được, vì là hai phía của chiến tuyến.  Thì thái độ vừa ăn cơm của người ta, rồi lại giết người ngay được, đã chứng tỏ sự tàn ác đời thường của lính Mỹ.
Việc lính miền Nam, lính Mỹ buộc xác người kéo ra đường để thị uy và nhận dạng, trong văn học cách mạng nói rất nhiều. Người ta thường “buộc tội” văn học cách mạng tuyên truyền, nhưng trong phim này, lần đầu tiên có nhân chứng những chuyện đó là thật.
Người Mỹ tham chiến ở VN làm gì ? vì lợi ích gì ? ở VN ta thường so sánh với nguyên cớ xâm lược của thực dân Pháp. Nhưng cuộc xâm lược của thực dân Pháp và Mỹ khác nhau. Với thực dân Pháp, đó là công cuộc tìm kiếm thị trường, vì thế cuộc xâm lược của thực dân Pháp là “lấy mỡ nó rán nó”, bằng cách mỗi lần áp đặt được một hiệp định không bình đẳng với chính quyền nhà Nguyễn, thực dân Pháp lại lấy nhân lực, vật lực, cộng tiền bồi thường của nhà Nguyễn để tiếp tục chiến tranh. Với Mỹ, con bài của Mỹ là bàn cờ toàn thế giới. Lúc tham chiến, Mỹ không (chưa) thể thu lợi trực tiếp từ VN. Nhưng cuộc chiến tranh cũng mang lại lợi ích cho tổ hợp công nghiệp chiến tranh Mỹ, và tiền tổ hợp công nghiệp chiến tranh này thu được là bằng tiền thuế của người dân Mỹ. Nói cách khác, số tiền Mỹ tiêu vào chiến tranh này có thể coi là tiền tài trợ ngấm ngầm cho công nghiệp Mỹ. Là tiền chùa để công nghiệp Mỹ phát triển công nghệ. Bắt đầu là công nghệ chiến tranh, rồi sau đó chuyển sang dùng vào kinh tế dân sự.
Hầu như tất cả các hãng lớn, là xương sống của kinh tế Mỹ, đều cung cấp phương tiện chiến tranh cho quân đội Mỹ trong chiến tranh ở VN, mà điển hình “nổi tiếng” nhất có lẽ là hãng Monsanto (trước gọi là Dow Chemical), cung cấp thuốc độc da cam, mà thực chất là thuốc diệt cỏ dùng trong nông nghiệp có nồng độ cao hơn.
Chính vì công nghiệp chiến tranh ở Mỹ gắn liền với kinh tế, cho nên quân đội Mỹ được trang bị một cách thừa thãi nhất, phung phí nhất, hệ thống vũ khí cồng kềnh nhất. Vì nó là tiền chùa, càng tiêu thụ nhiều càng tốt. Điều này ảnh hưởng trực tiếp tới quân đội Miền Nam được Mỹ trang bị. Quân đội miền Nam cũng được tổ chức giống như một quân đội tiêu thụ. Quân đội kiểu này, chỉ có thể tác chiến khi có một nền công nghiệp hùng hậu đằng sau. Chính vì thế mà vào năm 1975, bỏ ngoài vấn đề tinh thần, quân đội VNCH có cực nhiều vũ khí, nhưng vẫn không tác chiến được vì không đủ. Vì để tác chiến phải có không quân. Lấy hoả lực không quân làm chính.
*



Em không xem phim, nhưng mà đọc đoạn tường thuật phim của bác Phó, thấy chỗ này thú vị hơn cả!
Phó Thường Nhân
@root,
Tôi nghe nói là cái bộ phim này, người ta có thể xem trên youtube, và có người còn hảo tâm dịch thuyết minh bằng tiếng việt. Nhưng tôi là “low tech”, nên chỉ xem lúc nó chiếu ở truyền hình Pháp thôi. Thực ra những điều tác giả phim dựng cũng không có gì là mới, đối với ai tìm hiểu lịch sử VN. Tôi xem, để xem người Mỹ quan niệm thế nào, chứ không phải có sự khám phá gì cả.
Còn tại sao nên tìm hiểu lịch sử VN giai đoạn này, bởi vì nó có tác dụng để hiểu xã hội và thời sự hiện đại. Ví dụ để tìm hiểu Mỹ, vì bất kể thời cuộc xoay chuyển thế nào Mỹ vẫn là một đối tác không kiểu này thì kiểu khác. Hiểu được nó thì không bị lầm lẫn ảo tưởng. Điều này cũng đúng với cả TQ, Nga, Nhật, Pháp, ..v..v..
Lịch sử bao giờ cũng có tác dụng như bài học, đặc biệt với những nước đối tác mà thể chế không thay đổi. Mỹ thời nay hay thời 54-75 vẫn là Mỹ ấy. Chỉ có thời cuộc thay đổi thôi.
Phó Thường Nhân
Lạc đề một chút để làm rõ những điều tôi viết ở trên. Nghiên cứu quan hệ VN-Mỹ của chế độ miền Nam ngay xưa, ta có thể rút ra được gì:
1- Khi quan hệ với VN, mối quan hệ này được đặt trong khuôn khổ lợi ích toàn cầu của Mỹ. Lợi ích toàn cầu này lại chỉ huy lợi ích của Mỹ ở châu Á, lợi ích của Mỹ ở châu Á chỉ huy lợi ích của Mỹ ở VN, thứ đó mới tới lợi ích thực tế của Mỹ ở VN.Khi những cái khung này thay đổi, thì thái độ của Mỹ với VN cũng thay đổi. Người VN không thể bỏ quên mối quan hệ “biện chứng” của những cái khung này lồng vào nhau khi quan hệ với Mỹ.
2- Khi Mỹ đã viện trợ, thì nó cũng đòi chỉ huy. Theo đúng quan niệm thương mại, “ai có tiền người đó chỉ huy”. Khi đã chỉ huy, thì điều Mỹ hướng tới là lợi cho Mỹ nhất, có nghĩa là khả năng đối tác trở thành con tốt, hay tay sai rất dễ dàng. Tất nhiên các nước khác cũng đều có thái độ như thế, nhưng sự thể hiện điều này ở Mỹ là rõ rệt nhất, thô bạo nhất. việc “vắt chanh bỏ vỏ” rất dễ dàng và quyết liệt.
3- Do hình thức viện trợ ngoài mục đích chính trị còn là cách giúp Mỹ tăng trưởng kinh tế, phát triển kỹ thuật bằng “tiền chùa”, nên họ sẽ tìm cách ép “nhập khẩu” tổng thể, từ đó mà nẩy sinh ra một thứ kỹ thuật phức tạp, cồng kềnh, không hợp lý với nước được nhận. Kết quả là viện trợ trở thành cái dây để Mỹ “treo mõm, thít cổ”, tiêu thụ hàng hộ Mỹ, hình thành nên một dạng “phồn vinh giả tạo” không có đế phát triển vững chắc. sự phụ thuộc kiểu này lại cấu kết với sự phụ thuộc số 2 tôi nói ở trên khiến đất nước thành tay sai.
4- Ảnh hưởng văn hoá Mỹ theo chiều hướng xấu. Thế là thế nào. Mỹ có rất nhiều thứ để học, nếu người ta học phương pháp làm việc, tiếp cận, công nghệ…Nhưng thói thường, người ta dễ bị ảnh hưởng văn hoá kiểu thần phục, lười biếng. Từ đó sinh ra dạng trí thức, thân thể VN, đầu óc Mỹ. Nhìn VN như người Mỹ, trong khi mình là người VN. Tự mình mâu thuẫn với chính mình.

Trên thế giới, đa số chơi với Mỹ đều bị thiệt hại, vì sa vào 4 điều trên, vì thế VNCH cũng cùng chung số phận như vậy cũng không có gì lạ. Nhưng có những nước chơi với Mỹ lại chắp cánh cho họ. Tất nhiên số này rất ít. Một ví dụ điển hình đó là Israel. Tất nhiên có một điều mà VN không thể sánh được Israel, đó là nước này có một sức mạnh lobbying rất lớn ở Mỹ, do ảnh hưởng của người Do thái trong lĩnh vực tài chính ở Mỹ. Người Vn ở Mỹ không được như thế. Tệ hại hơn, người nào chui được vào hệ thống chính trị Mỹ, ví dụ thành nghị viên, thì lại ra sức lấy việc chống chính phủ VN, nhà nước VN làm con bài tiến thân, y như thời thực dân bán nước ngày trước. Cái dở hơi của Việt kiều nó là ở đó.

Như vậy muốn chơi với Mỹ tốt, cả hai bên cùng có lợi, thì phải có.
1- Hệ thống chính trị vững chắc, nhất quán, phải tạo được niềm tin trong hệ thống chính trị
2- Tư duy nhìn nhận mọi vấn đề tự chủ, xuất phát từ quyền lợi thực tế của VN
3- Trọng quan hệ thương mại, trao đổi, từ đó mà tăng cường năng lực kỹ thuật công nghệ của chính mình.

Mỹ là nước có tư duy thương mại phát triển cao. Nói theo kiểu các cụ nhà Nho ngày xưa “Vua của nó là nhà buôn” (các cụ nói theo kiểu xấu vì theo quan niệm nhà Nho, sĩ, nông, công, thương thì thương mại là hạng bét vì là hạng lừa gạt. Bây giờ thương gia hay “đại gia” không ở vị thế đó nữa, nhưng tư duy của nó vẫn là phải có đi có lại, và “lừa nhau theo luật” thì vẫn OK), nên phải hiểu là phải có cái gì trao đổi với Mỹ được, thì mới chơi được với nó, chứ không có chuyện “bánh bao”, và phải hiểu nó để khỏi phải chịu cảnh “ bị lừa đúng luật”.
Phó Thường Nhân
Dàn nhân chứng. Trước khi chiếu phim này, truyền hình Pháp có quảng cáo đó là một bộ phim dàn dựng công phu, và có tới hơn một trăm nhân chứng khác nhau, đặc biệt đó là những nhân chứng “đời thường”, chứ không phải là những yếu nhân, những người có chức vụ, vai trò quyết định trong cuộc chiến tranh. Theo như giải thích, lý do là người ta muốn dựng bộ phim gần với sự thật nên không muốn phỏng vấn những nhân vật cốt yếu, vì những người này có thể nguỵ biện để biên minh cho những quyết định của mình, làm sai sự thật. Thực ra đây là cách làm phim cổ điển của Mỹ, vì trước đây rất lâu, tôi đã từng xem bộ phim Mỹ dựng chung với Liên Xô về chiến tranh thế giới thứ II, thì cách làm phim của họ cũng tương tự như vậy. Tức là dàn cảnh qua những nhân vật “quần chúng” để dựng phim. Với tôi là người ảnh hưởng của chủ nghĩa Mác –Lê nin, luôn đi tìm quy luật, nguyên tắc thông qua hiện tượng, rồi sau này tôi có ảnh hưởng phụ của văn hoá châu Âu quan tâm tới nội dung chính trị của câu chuyện, thì cách làm phim này không đủ. Nó chỉ dựng lên được một hình ảnh xã hội học của câu chuyện. Bởi hiển nhiên, một người lính bình thường như trong phim này, là người “bị điều khiển”, không phải là người điều khiển. Rồi bản thân người điều khiển cũng hoạt động trong một cái khung văn hoá, tâm lý, kinh tế, xã hội nhất định (điều mà theo truyền thống Mác –Lê nin người ta tìm hiểu) và là tù binh của nó. Nếu hiểu như vậy thì cách làm phim kiểu “điền dã”, “phỏng vấn” này rất là hời hợt. Không kể người ta dễ manipulate nó nhất. Vì sao ? bởi nhân chứng là những con rối trong tay người dựng phim. Và người dựng phim sẽ sử dụng nhân chứng theo ý của mình, cắt xén, trích đoạn nhưng điều hợp lý với họ. Tóm lại, thông qua nhân chứng, không phải người ta có được một sự thật khách quan, mà thực ra là kịch bản mà người làm phim đã có sẵn.
Tại sao Mỹ lại có truyền thống làm phim ảnh kiểu này. Có lẽ bởi cái đế của văn hoá Mỹ là chủ nghĩa cá nhân tổng thể, và cũng vì chủ nghĩa kinh nghiệm kiểu Anh-Mỹ.
Tất nhiên trong bộ phim vẫn có những phần “voix off”, giải thích kể chuyện bù vào cái phần nó không đi tìm bản chất kia. Và cách làm phim này cũng có cái lợi thế là dễ hấp dẫn.
Với tôi dàn nhân chứng về người lính Mỹ có lẽ đầy đủ nhất. Tất nhiên vì tôi không phải là người Mỹ, cũng không ở Mỹ nên không thể có cơ sở để xem nó chính xác đầy đủ thế nào. Còn về phía nhân chứng VN, thì có ít hơn bao gồm : 1 người lính VNCH miền Nam tham gia trận Bình Giã hay Ấp bắc (tôi nhớ không rõ), 1 người du kích, 1 bà mẹ anh hùng, 2 người bộ đội chính quy (1 người là bộ đội miền Bắc tham gia trận đụng độ đầu tiên với Mỹ ở chiến trường miền Nam tại Playcu), 2 nữ thanh niên xung phong (1 người là lái xe đường Trường sơn), ông Huy Đức, ông Nguyên Ngọc, ông Bảo ninh. Trong đó ba ông cuối có thể coi là đóng phe phê phán, và họ cũng có được nhiều thời gian nhất, tương đương với những người còn lại (tất nhiên đây là cảm nhận của tôi nên có thể không chính xác, chứ tôi không có đồng hồ bấm giây để xem mỗi nhân vật được người làm phim dành cho bao nhiêu phút).
Nhân chứng VN làm tôi cảm động nhất có lẽ là người du kích miền Nam, vì đó là nhân chứng từ những ngày đầu đồng khởi, và là một câu chuyện của một gia đình có 7 anh em đi theo cách mạng. Những nhân chứng VN “lề phải” của cuốn phim, cũng nói rõ ràng sự thật, đó là chính phủ miền Nam không có chỗ dựa trong dân, là một chính phủ hoàn toàn “nhân tạo” (hay Mỹ tạo). Ngược lại 3 nhân chứng có thể tạm coi là lề trái, là nhằm vào những tư duy kiểu “chiến tranh là dã man” (Bảo Ninh), hay “nhân dân bị tuyên truyền” (Huy đức), hay Bác hồ “đóng giả ông già” (Nguyên Ngọc).
Những gì Bảo Ninh nói, thì nó cũng giống như trong cuốn tiểu thuyết “Nỗi buồn chiến tranh” của ông. Trong ba nhân vật, thì tôi có nhiều cảm thông với ông nhất, bởi vì dù ông ấy có nói chiến tranh là dã man, ông ấy cũng nói lên được là cuộc chiến tranh không phải là người VN tạo ra, mà người Việt chiến đấu vì lòng yêu nước. Tất nhiên câu nói ấy chỉ được đưa thoảng qua thôi. Nhưng đấy cũng là điều ông ấy đã từng nói trong cuốn nỗi buồn chiến tranh, cũng một cách rất thoảng qua.
Những gì Huy Đức nói cũng đã được thể hiện trong hai cuốn “sử liệu” của ông ấy viết gần đây. Có lẽ cách nhìn nhận của ông ấy là đáng ngạc nhiên nhất. Nhưng có gì tôi sẽ nói sau.
Phó Thường Nhân
Trong bộ phim tài liệu truyền hình Mỹ này, ông Huy Đức được phong chức sử gia. Nhưng theo nhận xét của cá nhân tôi, thì ông ấy có thể được coi là nhà báo điều tra, chứ không thể là sử gia. Sự khác nhau nó là ở chỗ, nếu là một nhà sử học, thì người ta phải có phương pháp kiểm chứng văn bản, chọn lọc dữ liệu. Để chọn lọc được dữ liệu thì ông ấy phải có một cái backgoup về triết học nhận thức ở đằng sau. Gần đây ông ấy có viết hai quyển sách có nội dung về lịch sử hiện đại ở VN, nhưng vì thiếu hai điều tôi nói trên, nên những gì ông ấy viết chỉ có thể coi là sử liệu thô, nếu muốn sử dụng thì phải kiểm chứng, so sánh, đối chiếu..Ngay trong đầu cuốn đầu tiên, ông ta đã đưa ra một cái danh sách dài dằng dặc những người ông ấy cám ơn, khiến tôi cảm tưởng rằng phải có chuyện gì uẩn khúc đằng sau, có thể ông ấy moi móc ăn trộm tài liệu của người ta, rồi bây giờ cài đặt tên người ta vào đấy để tạo “ô dù “ giả tạo, gây chuyện đã rồi. Khi đọc hai quyển đấy, ngay trang đầu tiên, khi ông ấy dẫn sự kiện nói tới việc ông Võ văn Kiệt (nếu tôi nhớ không nhầm) đi nhờ một cái xe bọc thép 113, với những lời bình luận kiểu “ chiến thắng ăn may”, giống như kiểu chiến thắng mùa xuân năm 1975 là trò chơi sổ xố, may mà được.. đã khiến tôi đọc được vị tư duy của ông ta. Mỗi người đều có tư duy của mình, không ai có thể cấm, nhưng nhận thức như thế về màu xuân năm 1975 thì lại là sai. Vì ở đây không có sự ăn may, mà là hệ quả cuả một cuộc kháng chiến 30 năm. Có rất nhiều tài liệu chứng minh điêù này. Cách viết của Huy Đức chính là ví dụ điển hình của việc bóp méo sự thật theo kiểu dàn dựng lịch sử kiểu Mỹ mà tôi nói ở trên. Nó sai ở chỗ này, việc ông Kiệt ngồi cái xe 113 do một người lính VNCH đầu hàng lái có thể có thật, nhưng nó có đặc trưng thành một sự kiện đặc biệt, để đánh giá một sự kiện lịch sử thì không phải. Như vậy ông ấy là nhà báo (vì moi được cái chuyện ông Kiệt đi xe 113, có thể vì do biết ông Kiệt hay nghe hơi nồi chõ đâu đó) , nhưng không phải là nhà sử học (vì từ hiện tượng lại dẫn tới kết luận sai). Cũng chính vì thế mà tôi mới nói là cách dàn dựng lịch sử kiểu Mỹ hời hợt, và muốn sử dụng được nó, thì người viết phải có một căn bản triết học, văn hoá, nhận thức cực kỳ vững.. Điều mà ông Huy Đức không có, theo nhận xét của tôi, vì theo ông ấy cứ “bên thắng cuộc” là có thể muốn nói thế nào cũng được, rồi ông ấy lại tự đặt mình vào vị trí tố cáo “bên thắng cuộc” ấy. Tức là đúng sai tương đối, như vậy là sai.
Còn cái chuyện thắng cuộc thua cuộc thế nào thì tôi đã nói ý tôi rồi. Điêù quan trọng là chính nghĩa. Nếu có chính nghĩa thì thua vẫn là anh hùng, mà thắng thì là vương đạo. Không có chính nghĩa thì thua là đạo tặc, thắng thì là bá đạo. Mà chính nghĩa thì phụ thuộc vào thế đứng của người ta ở cộng đồng nào và những giá trị nhân bản đi liền với nó.
Trong bộ phim này, người ta trích lời ông ấy nói, đại ý rằng người dân VN (ông ấy muốn nói người miền Bắc) vì tin theo tuyên truyền của nhà nước mù quáng, mà không nhận thức được rằng hậu quả (tức là những dã man tàn ác của chiến tranh) chính họ phải hứng chịu. Ông ấy cũng dẫn chứng tuyên truyền rằng , báo ở miền Bắc chỉ nói đến chiến thắng mà không bao giờ nói tới thiệt hại. Hình ảnh cuối cùng của ông ấy được dẫn trong phim là việc ông ấy mặt mày ngơ ngơ, nói về làng mình bị bom Mỹ tàn phá, nhưng ông ấy nói như phóng viên VTV truyền hình trực tiếp nói về “thiệt hại của cơn bão số 10 vừa đi qua làng ta gây ra”. Chứ tuyệt nhiên không nói tới lý do tại sao làng ông ấy bị tàn phá cả, hoàn toàn không có một lời lên án Mỹ, hay đấy chính là thiệt hại do người VN cuồng tín nghe theo tuyên truyền theo như suy nghĩ của ông ấy, thì tôi cũng không rõ.
Tất nhiên, như tôi đã nói, nhân chứng trong phim là con rối của người làm phim, nên không thể loại trừ là người làm phim cắt xén, đưa nội dung họ muốn, khiến những nhân chứng của Huy Đức bị bóp méo, không đúng như ông ấy muốn nói, vì có thể ông ấy nói nhiều hơn, dài hơn.
Phó Thường Nhân
Tuyên truyền là bộ phận quan trọng của chủ nghĩa Mác-Lê nin. Bởi vì giai cấp công nhân không phải là giai cấp công nhân nếu người ta không nhận thức được giai cấp của mình. Tuyên truyền không phải là đánh lừa mà là giải thích, chỉ ra cái cơ cấu ngầm nằm dưới các hiện tượng xã hội, kinh tế, tâm lý. Tuyên truyền ở đây rất gần với cách thức tìm hiểu khoa học, để chỉ ra sự thật. Như vậy tuyên truyền không phải là xấu.
Giai cấp tư sản cũng có tuyên truyền, tất cả những gì mà các báo chí phương Tây đưa tin, nói tới cũng là tuyên truyền. Nhưng theo quan niệm tư sản, ở đây tuyên truyền là xấu, Vì họ vỗ ngực tự gán cho họ nói họ khách quan là tự do ngôn luận,. Thực sự những tin tức đưa cũng không khách quan, mà nó nhằm vào tạo dư luận, tâm lý để đạt được tới những lợi ích nhóm của một nhóm tư sản này so với nhóm tư sản khác ,nếu là trong một nước, huặc là lợi ích của tư sản nước này, so với tư sản nước khác. Nó cũng quảng bá, đưa tin để bảo vệ những giá trị của giai cấp tư sản nói chung, và lợi dụng những giá trị này để thao túng, điều khiển, xâm thực các nước đang phát triển ở Á –Phi – Mỹ la tinh, bằng cách ép buộc những nước này dùng những giá trị ấy, nhưng theo định nghĩa của họ, họ là người cấp cho chứng chỉ các nước Á-Phi –Mỹ la tinh có đạt được những giá trị ấy không. Nếu nước nào không làm theo điều có lợi cho họ mà lợi cho dân tộc mình, thì họ nói là không dân chủ, độc tài. Ngược lại làm hại cho dân tộc mình, nhưng có lợi cho họ, thì sẽ được họ phong cho đủ các loại mỹ từ..v..v.. hữu danh vô thực.
Sự xâm thực tư tưởng này, sẽ tạo ra một giới trí thức “đầu Ngô mình Sở” trong các nước Á-Phi-Mỹ Latin, và đấy là điều tai hại.
Vậy người ta phải làm thế nào. Cách đơn giản nhất với các trí thức của thế giới thứ ba, là lấy mỡ nó rán nó.Có nghĩa là học phương Tây, nhưng đảo lại hệ quy chiếu. Lấy lợi ích dân tộc mình làm trung tâm, khúc xạ những giá trị của phương Tây theo lợi ích của mình. Điều này các nhà Nho VN đã làm từ lâu. Là nhà Nho, họ học tất cả các giá trị nhân văn mà Nho giáo mang lại, nhưng Nho giáo TQ nó không có chữ QUỐC, tinh thần nho giáo trung hoa là một giá trị phổ quát (universal) mà chữ QUỐC không có ý nghĩa gì cả. Bằng cách đặt các giá trị Nho giáo (Nhân, nghĩa, lễ, trí, tín), tam cương ,ngũ thường trong vòng của chữ QUỐC, các nhà Nho VN đã VN hoá Nho giáo cho mình. Tất nhiên ngoài điều đó còn những điều khác, như cảm nhận số phận, nguồn gốc phát nguyên (các nhà Nho VN đều là nông dân có trí thức, nông dân đi học chữ, khác với nhà Nho TQ phát xuất từ đô thị, là thị dân, hay Địa chủ mà ra) cũng đóng góp vào điều này.
Trở lại với tuyên truyền. Nước tuyên truyền hiệu quả nhất, hiểu theo nghĩa xấu, chứ không phải đi tìm sự thật là nước Mỹ. Tại sao lại thế. Bởi vì 1. Mặc dù thực chất là tuyên truyền, nhưng người bị tuyên truyền lại cứ tưởng là khách quan. Thế mới là giỏi, vì lừa mà người ta không biết. 2. Mọi nguồn tin trên thế giới này, chủ yếu là từ các tổ chức thông tấn media Mỹ đưa ra. Mỹ không những là một cường quốc về tài chính, quân sự, công nghiệp, mà còn là một đế quốc thông tin. Điều mà người ta ít để ý.
Lấy một số ví dụ “lừa” như thế nào. Ví dụ sự kiện Vịnh Bắc Bộ, ở đây Mỹ là kẻ gây hấn, nhưng Mỹ đã tự biến mình thành nạn nhân. Ví dụ. Thuốc độc da cam. Báo chí miền Bắc, mà theo ông Huy Đức là tuyên truyền kiểu xấu, là media đầu tiên tố cáo việc này từ những năm 60,70. Nhưng lúc đó, báo chí phương Tây coi nó là tuyên truyền (kiểu xấu), lại còn kiếm được cả một ông Việt kiều ở Pháp là kỹ sư hoá học, ông Bửu Lộc hay gì đó (tôi không nhớ tên), để ông ta dẫn chứng khoa học là đấy không phải là thuốc độc. Mãi đến khi, chính những người linh Mỹ tiếp xúc với loại thuốc độc này có vấn đề, và vì họ là người Mỹ mới kiện được chính phủ Mỹ, thì việc này mới được đưa ra ánh sáng. Mỹ cũng đánh I rắc, với chứng cớ sản xuất vũ khí huỷ diệt, trong khi điều đó hoàn toàn không đúng. Hiện tại hình ảnh Triều Tiên, I ran, được Media Mỹ bóp méo khiến người ta không thể biết sự thật đến đâu.
Để tránh điều này, thì phải làm thế nào, thì phải đa dạng nguồn thông tin đưa ra. Chính vì thế tôi mới nói cách đây rất lâu ở đây, là một nước đang phát triển như VN, phải đa dạng nguồn thông tin đến từ tất cả các nước, tất cả đều là tuyên truyền. Nhưng dùng tuyên truyền bên này trung hoà bên kia, tìm mâu thuẫn của chúng với nhau, rồi từ đó mà rút ra nhận thức.
Với Tuyên truyền hiểu theo kiểu VN, tức là tuyên truyền để tìm hiểu sự thật, thì tuyên truyền chỉ có hiệu quả khi nó đúng đắn. Và cũng đừng nghĩ rằng nhận thức của người dân chỉ đến từ tuyên truyền.
Thời kháng chiến chống Mỹ. Mỹ bỏ xuống một số lượng bom đạn gấp 2 lần tổng số bom đạn dùng trong đại chiến thế giới II. Số bom đạn này được bỏ trên một diện tích 0,33 triệu Km2 (là diện tích Vn) so với tổng diện tích chiến trường đại chiến, nếu chỉ tính ở châu Âu là 8 triệu Km2. Có 3 triệu người chết trong cuộc chiến tranh trên tổng số 30 triệu dân, trung bình 1/30. Dù không nói thiệt hại người dân vẫn biết, làm sao mà dấu được. Như vậy tuyên truyền ở miền Bắc, chỉ có tác dụng làm cho người dân không ngã lòng, không tan rã, ô hợp, chứ không phải che đi sự thật hay là nguyên nhân chính. Một điều nữa là người dân miền Nam, là những người chịu ảnh hưởng của tuyên truyền VNCH, sao họ lại nổi dậy, trong khi tuyên truyền miền Nam được bậc thầy về tuyên truyền là Mỹ dậy. nhưng tuyên truyền sai với sự thật, sai với cái người dân nhìn thấy thì nó thế. Chiến trường miền Nam là chiến trường chiến tranh nhân dân, hình thế cài răng lược. Khi đã ra trận, khả năng đe doạ bằng kỷ luật không thể thay thế được sự nhận thức của từng cá nhân. Nếu chỉ do tuyên truyền, hiểu kiểu tuyên truyền láo toét, thì có cái gì ngăn cản được người ta bỏ đi.
Như vậy cái điều ông Huy Đức nói là sai. Chính xác hơn, ông ta đã gắn những tư duy thời đổ vỡ về sau, cũng không phải ai cũng có cái tư duy ấy, mà nó là một dạng tư duy lề trái, rồi chụp lên tất cả là không phải. Có thể là do ông ấy ngấm tuyên truyền của miền Nam cũ,qua sách báo của họ ông ta được tham khảo, mà như ông ta đã tự sự là giúp cho ông ta nhận thức lúc về Sài gòn, ở đường Lý Chính Thắng. Còn tại sao cái tư duy ấy xuất hiện thì nó cũng có lý do.
Phó Thường Nhân
Tư duy thời đổ vỡ. Thời đổ vỡ là khái niệm tôi đặt ra, khi nghiên cứu nghiệp dư lịch sử tư tưởng VN. Điểm khởi đầu của nó có thể đặt vào năm 1986, nếu xét tới việc chạm đáy của hình thái kinh tế bao cấp kiểu cũ. Nhưng cũng có thể đặt nó vào năm 1988, nếu xét tình hình thế giới là năm Liên Xô tan rã. Thời đổ vỡ đã kết thúc chưa, với tôi là chưa, nhưng nó đã vào giai đoạn cuối. Nói là chưa, bởi VN chưa hình thành được một hệ thống tư tưởng của người VN, không nhất thiết phải là của chính phủ, nhà nước, vì tư tưởng của người Vn còn phụ thuộc nhiều vào tuyên truyền của lề trái. Chỉ khi nào người dân có sức đề kháng với lề trái, không còn phụ thuộc vào bên ngoài, thì mới có thể nói giai đoạn này chấm dứt. Còn nói nó vào giai đoạn cuối, vì trong quá trình toàn cầu hoá, người VN càng ngày càng sẽ được miễn dịch với tuyên truyền lề trái, vì nó không đúng với thực tế. đồng thời thực tế quan hệ với những nước là nguồn gốc của lề trái (Mỹ, phương Tây) sẽ làm cho người ta bớt ảo vọng, ảo tưởng và nhìn vấn đề thực tế hơn.
Tư duy thời đổ vỡ nó được đóng khung bởi các vấn đề sau:
1- Sự chuyển đổi từ kinh tế bao cấp (được coi là thất bại), sang kinh tế thị trường, trong đó thị trường cá thể được lề trái thổi phồng lên thành cứu cánh duy nhất cho nền kinh tế VN. Sự chuyển đổi này cũng khiến sự hoạt động kinh tế của từng người thay đổi, nó dẫn đến sự “tự lo” của mỗi người, theo kiểu “độc lập tự lo hạnh phúc”, nhưng chưa tìm được một cơ chế tư duy để cái tự do cá nhân này không làm hại tập thể cộng đồng mà củng cố nó.
2- Sự sụp đổ của Liên Xô, dẫn người ta đặt câu hỏi về chủ nghĩa xã hội. Đánh đồng chủ nghĩa xã hội, với mô hình của Liên Xô. Từ đó nó lại ngoặc vào điều 1 ở trên, tức là quy cho tự do cá nhân tổng thể sẽ là con đường là cứu cánh của sự phát triển.
3- Việc toàn cầu hoá đã dẫn VN có quan hệ nhiều hơn sâu rộng hơn với các nước phương Tây, đặc biệt là những nước đã từng là “cựu thù”, như nước Mỹ. Mặc dù chính sách của VN là “khép lại quá khứ, hướng tới tương lai”, nhưng trong quan hệ, sự đánh giá quá khứ không thể giống nhau. Nhưng do sức mạnh kinh tế, “sức mạnh mềm” của Mỹ, đã khiến người ta có xu hướng chấp nhận cách lý giải quá khứ của những nước này, coi nó là chuẩn, từ đó lật ngược tư duy, “lấy trắng làm đen, lấy đen làm trắng”, rồi lại coi đó là “khách quan”.
4- Trong những nước này có một số lượng Việt kiều rất lớn. Về đa số Việt kiều không quan tâm tới chính trị. Nhưng số nào quan tâm tới chính trị, hoặc tham gia vào được chính trường của những nước phương Tây, dù là ở vị trí rất thấp, họ cũng sử dụng việc chống nhà nước Vn làm cần câu cơm. VN vì thế có nhiều Việt kiều, nhưng lại không có lobbying cho mình, khác với những nước khác. Vấn đề này là câu chuyện lịch sử.
Từ trên cái khung ở trên mà xuất hiện tư duy đổ vỡ. Mà một hình thức đơn giản nhất của nó là bập vào những tuyên truyền cũ của VNCH ngày xưa, hay là của những nhân vật lề trái, rồi lại cho nó là đúng.

Phó Thường Nhân
Lâu lắm tôi mới quay lại chủ đề này, nhưng vì tôi không chỉ víêt theo tính thời sự, nên mặc dù cuốn phim tài liệu này chiếu đã lâu, vào thời điểm tôi lập chủ đề, nên viết tiếp về sau cũng không sao. Nhất là những câu chuyện có tính lịch sử. Tiếp ở đây, như đã nói, tôi viết một chút về ông Lê Duẩn, như đã hứa. Bộ phim tài liệu này, có lẽ là bộ phim đầu tiên của phương Tây có đề cập tới ông Lê Duẩn. Vì thông thường họ chỉ nói tới hai người đó là chủ tịch Hồ Chí Minh và đại tướng Võ nguyên Giáp. Có thể vì hiện tại họ tiếp cận được với tài liệu từ phía VN. Nhưng điều đó không làm cho nhận thức của họ về ông Lê Duẩn hay lịch sử VN hiện đại chính xác hơn, bởi vị thế đứng và hệ quy chiếu của họ là người Mỹ. Điều này thì tôi đã nói nhiều lần, nên không nói lại. Hình ảnh ông Lê Duẩn được họ đưa ra chủ yếu là negative, nó vừa nhằm vào cá nhân ông, vừa vào hoạt động chính trị của ông. Về hoạt động chính trị, thì ông được coi là nhóm Hardliner (cực đoan quyết chống Mỹ), và đánh giá sự « lên ngôi » của ông trong đảng như một quá trình đáp trả lại từ phía VN sự leo thang chiến tranh của Mỹ. Về cá nhân thì chỉ trích ông kiểu, con cái ông đi học Liên Xô mà không vào chiến trường chiến đấu. Tất nhiên bộ phim cũng nói là tất cả các đời tổng thống Mỹ về sau : Clinton, G.W. Bush cũng là loại trốn quân dịch, cho nên cái phần cá nhân này có thể coi là cách họ nhìn nhận cho tất cả mọi nhân vật chính trị. Ngược lại về hoạt động chính trị của ông thì phần nhiều là không đúng, vì trung thành với cách nhìn nhận từ phía Mỹ, họ luôn coi trong đảng có hai phái : chủ chiến hay chủ hoà, hoặc theo Liên Xô hay theo TQ, rồi từ đó mà vặn vẹo câu chuyện. Trong cái cách nhìn này thì đại tướng Võ Nguyên Giáp được coi là nạn nhân của ông Lê Duẩn, vì ông vừa là phái theo Liên Xô, và đồng thời là chủ hoà. Từ đó mà họ kênh vai trò của đại tướng Võ Nguyên Giáp lên, kiểu như « trung thần bất hạnh », đồng thời cũng hạ giá ông với kiểu bình phẩm « chiến thắng vì thí quân thí tướng ». Nhưng cái « concept » nhìn này thật ra không đúng.
Sau khi đổi mới vào năm 1986 (tức cũng là năm ông mất), thì kinh tế VN dần dần khá lên. Đồng thời với sự sụp đổ của Liên Xô và phe XHCN cũ (1988-1991), đã khiến cho ngay ở tại VN, sự nhìn nhận với ông Lê Duẩn cũng đặt ra nhiều câu hỏi. Vì giai đoạn 1979-1986, kinh tế xuống dốc, chiến tranh biên giới bảo vệ tổ quốc với TQ, đánh tập đoàn khơ me đỏ Pôn pốt – Yeng sa ri ở Cam pu chia, và đặc biệt vấn đề kinh tế thời kỳ này, khiến người ta dễ đánh giá sai về ông.
Đầu năm nay, nhân dịp kỷ niệm 110 ngày sinh của ông, nhà nước VN có tổ chức kỷ niệm long trọng, nhưng khi nói về ông thì cũng chỉ nói tới kháng chiến chống Mỹ. Còn trước đó, nếu có nói tới ông trên báo thì là dạng ..phỏng vấn con của ông. Và các bài trả lời phỏng vấn này, thông qua các cảm nhận cá nhân gia đình của hai người con ông (tôi có đọc hai bài phỏng vấn với hai con của ông trên báo) thì phần nào như biện hộ cho ông.
Với tôi thì vai trò của ông Lê Duẩn khác rất nhiều. Ở VN, chính thống thường nói tới « chủ nghĩa Mác-Lê nin và tư tưởng Hồ chí Minh », còn đối với tôi thì có một học phái Mác-Lê nin của VN, mà người mở đầu là chủ tịch Hồ chí Minh. Nhưng Bác Hồ không phải là một nhà lý luận, cho nên tư tưởng Hồ chí Minh chủ yếu thể hiện qua ứng sử, các giải quyết công việc đối nội đối ngoại, cũng như công văn, văn bản, và một ít báo chí Bác viết với mục đích tuyên truyền giáo dục. Ngược lại có hai nhà tư tưởng lớn đó là ông Trường Chính, và người thứ hai là ông Lê Duẩn. Ta có thể thêm vào danh sách này đại tướng Võ nguyên Giáp (về mặt chiến tranh nhân dân), hay thủ tưởng Phạm văn Đồng, ông Nguyễn Văn Linh và một số học giả mác xít khác ở VN ví dụ như ông Trần văn Giầu..
Dòng mác xít VN là dòng mác xít Nho giáo. Và trên cơ sở ấy nó tương đối gần với chủ nghĩa Mao. Nhưng nó không phải là chủ nghĩa Mao, vì nó có ảnh hưởng đậm nét của chủ nghĩa Mác từ Liên Xô, hay một phần từ Tây Âu (Pháp). Ảnh hưởng của Pháp không nhiều, nhưng nó là giai đoạn mở đầu. Còn sở dĩ nó là mác xít Nho giáo, vì người ta đến với chủ nghĩa Mác-Lê nin từ nhận thức Nho giáo (và cũng có cả phần Phật giáo), nhưng từ Nho giáo là chủ yếu.
(còn tiếp)
Phó Thường Nhân
Thế nào là chủ nghĩa Mác Lê nin Nho giáo. Bởi vì chủ nghĩa này đã áp dụng vào một nước có truyền thống văn hoá xã hội kiểu Nho giáo, do những trí thức kế thừa truyền thống Nho giáo áp dụng. Từ cái đế nhận thức về cộng đồng, về đạo đức, về ứng sử, về nhân sinh quan, thế giới quan từ Nho giáo mà các trí thức này đã hiểu chủ nghĩa Mác –Lê nin, rồi từ đó ứng dụng nó. Sự ứng dụng này lại gặp phải sự phản ứng (thuận hay nghịch) của một xã hội vốn có kỷ cương nho giáo khiến nó thành công hay không thành công.
Rất nhiều khái niệm quan trọng như : tương quan lực lượng (quan niệm : thế, lực, chiều hướng phát triển), hay thời cơ là những điều đạo Nho mang vào chủ nghĩa Mác. Nhưng điểm này là trọng tâm của triết học Nho giáo, mà người ta có thể nghiên cứu nó qua kinh Dịch, và Dịch học chính là lô gíc học của Nho giáo. Tất nhiên Nho giáo không chỉ có thế mà nó còn có một nền tảng đạo đức, nó đã được đưa vào chủ nghĩa Mác –Lê ở VN thông qua các khái niệm đạo đức cách mạng : cần, kiệm, liêm, chính. Hay khái niệm Trung-Hiếu (ví dụ quân đội : Trung với Đảng, hiếu với Dân).
Khi nói tới chủ nghĩa Mác-Lê nin Nho giáo ở VN, điều đó không có nghĩa là người theo đạo Phật, đạo Thiên chúa không thể theo nó, bởi vì Nho giáo ở VN từ thời thuộc Pháp không còn tồn tại như một hệ thống quản lý, có ban có bệ, mà là tập tục truyền thống. Sự ảnh hưởng đó hoàn toàn tự nhiên.
Trong các nhà chính trị VN, thì ông Lê Duẩn là người ít chịu ảnh hưởng Nho giáo trực tiếp nhất trong quan niệm học thuyết chính trị, do truyền thống gia đình (nguồn gốc nông dân nghèo), con đường học tập tự học là chính thông qua hoạt động cách mạng (nếu so ông với ông Trường Chinh, hay ông Phạm văn Đồng). Nhưng quan niệm, cách sống cá nhân người ta vẫn nhận thấy một hình thức Nho giáo nông dân. Ông Lê Duẩn cũng không phải là một trí thức Pháp học (như ông Phạm văn Đồng, Nguyễn Khắc Viện, Võ nguyên Giáp).
Trong lễ kỷ niệm 110 năm ngày mất của ông, ở VN hiện tại có phát triển tư duy của ông, tổng kết thành các khái niệm : tình thương, lẽ phải, lao động. Điều này có lẽ không sai, nhưng tôi không phân tích ở đây, vì đặc sắc của « tư tưởng Lê Duẩn » với tôi nằm trong học thuyết chính trị. Tôi tóm gọn ở đây :
1- Quan niệm ba dòng thác cách mạng thế giới : phong trào giải phóng dân tộc, phong trào công nhân thế giới, khối các nước XHCN cũ
2- Quan niệm đấu tranh vũ trang kết hợp với đấu tranh chính trị thành « ba mũi giáp công » : chính trị, quân sự, ngoại giao.
3- Quan niệm đấu tranh tổng lực trên cả ba vùng : rừng núi, đồng bằng, thành thị.
4- Quan niệm khởi nghĩa vũ trang kết hợp với đấu tranh chính trị ở miền Nam, xây dựng XHCN ở miền Bắc rồi tiến tới thống nhất đất nước.
5- Quan niệm xây dựng nhà nước : Đảng lãnh đạo, Nhà nước quản lý, Nhân dân làm chủ.
6- Quan niêm : xây dựng phát triển công nghiệp nặng, phát triển công nghiệp nhẹ một cách hợp lý.
Ông Lê Duẩn viết không nhiều. Và nhiều thứ là công văn, văn bản. Về mặt lý thuyết thì có thể tìm hiểu ông qua các tác phẩm : Thư gửi miền Nam, Đề cương đấu tranh cách mạng ở miền Nam, rồi « vì độc lập tự do, vì chủ nghĩa xã hội tiến lên giành những thắng lợi mới ». Trong ba tác phẩm tôi vừa nói, thì tôi chỉ có quyển cuối cùng, nó cũng mỏng chỉ có gần 200 trang, trong đó ông Lê Duẩn phát triển lý thuyết về xây dựng chủ nghĩa xã hội, kinh tế. Nhưng hai tác phẩm đầu thì tôi không có. « Đề cương » là bản tham luận của ông ở đại hội đảng lần thứ III, vào năm 1960, khi ông được bầu giữ chức Tổng bí thư, và như vậy « Đề cương » trở thành đường lối chủ đạo của cách mạng VN cho tới khi thống nhất đất nước vào năm 1976. Có lẽ quyển « Thư gửi miền Nam » là tác phẩm đặc sắc nhất, nhưng đáng tiếc là tôi không có, vì không có cơ hội để mua nó. Hi vọng rằng một lúc nào đó, tôi sẽ kiếm được nó.
May mắn là người ta có thể dùng lịch sử VN hiện đại, giai đoạn kháng chiến chống Mỹ, chống TQ để xem nhưng lý thuyết này được đưa vào thực hành thế nào. Tác dụng ra sao. Lịch sử thế giới hiện đại, cũng giúp ta cập nhật được chúng để xem những quan niệm trên cái gì vẫn còn là « khủng » là chân lý cái gì đã trở thành nhân chứng lịch sử. Như vậy tôi sẽ phân tích những điều trên, lần lượt bằng dẫn chứng các sự kiện lịch sử, chứ không phân tích lý thuyết tại sao lại thế. Đơn giản là tôi không đủ sách. Không kể giữa sách vở và ứng dụng, nó luôn luôn có khoảng cách, nên xem xét nó đi vào cuộc sống thực như thế nào, thú vị hơn.
(còn tiếp)
Phó Thường Nhân
Về điều một, quan niệm ba dòng thác cách mạng. Có lẽ không cần phải nói, chỉ bằng trực quan, bất kỳ một người bình thường nào cũng thấy quan niệm này đã thành một nhân chứng lịch sử. Thế giới hiện tại khác xa cái mô hình này. Mô hình thế giới hiện tại có lẽ là mô hình « xuân thu –chiến quốc » hơn là mô hình ba dòng thác cách mạng. Chính vì thế mà tôi mới mở chủ đề « xuân thu – chiến quốc » để tìm ra một mô hình mới trong quan hệ quốc tế, đáng tiếc là tôi không có đủ thời gian và có chiều sâu nhận thức để viết. Nhưng ta cũng nên lần theo ba dòng thác cách mạng thời đó (tức là giữa thế kỷ XX) để xem điểm kết thúc nó ở đâu.
1- Về phong trào giải phóng dân tộc. Cho đến đầu thế kỷ 21, thì về cơ bản toàn thế giới đã được chia thành các quốc gia, trong khi nửa thế kỷ trước, toàn bộ châu Phi, một phần lớn Đông Nam Á, Ấn độ, Trung đông vẫn còn là thuộc địa. Hiện nay, thế giới có bộ mặt hơi giống giữa thế kỷ XIX, khi các quốc gia, các vùng kinh tế phải đối mặt với sự xâm lược từ bên ngoài hay nội loạn, mà hậu quả của nó là quốc gia bị chia xẻ, bị đe doạ mất chủ quyền, hay là nội chiến (có sự tham dự hay tổ chức từ bên ngoài), trong một mối quan hệ hút đẩy chống đối lẫn nhau cuả những « nước lớn » (tôi để nước lớn trong ngoặc kép, bởi vì chỉ riêng việc có tồn tại khái niệm này, đã nói lên hiểm hoạ bị xâm lược, chiếm đoạt vẫn là hiểm hoạ tiềm năng trên toàn thế giới). Tôi nói hơi giống, vì bây giờ số lượng các nước đông đảo hơn, cơ chế tổ chức liên quốc gia nhiều hơn, nhưng việc giữ được chủ quyền quốc gia, bảo đảm việc quản lý tốt nhà nước để phát triển kinh tế, làm sao để phát triển kinh tế hiệu quả mang lại lợi ích cho toàn dân vẫn là câu hỏi phải được đặt ra, và vẫn có tính thời sự. Nói một cách khác, phong trào giải phóng dân tộc phải đối mặt với một vấn đề khác đó là giữ được chủ quyền chính trị đã đạt được, đồng thời giành được chủ quyền về kinh tế trong một nền kinh tế được toàn cầu hoá.
2- Về phong trào công nhân thế giới. Nói là thế giới nhưng chủ yếu là về các nước phương Tây, nơi khởi nguyên của chủ nghĩa Mác. Phong trào công nhân ở đây hoàn toàn tan rã, do không còn công nhân. Tại sao lại thế ? bởi đây là hệ quả của 3 điều. a)việc toàn cầu hoá đã dẫn tới hệ quả là các nước phương Tây di chuyển sản xuất sang các nước châu Á-TBD, dẫn tới việc số lượng công nhân giảm. b)Đây cũng là hệ quả của phong trào giải phóng dân tộc, vì các đế quốc thuộc địa kiểu cũ không còn nữa, khiến phương Tây không thể áp đặt chính sách bóc lột kiểu cũ trực tiếp như thời giữa thế kỷ 19, đầu 20. C) sự tiến bộ kỹ thuật, lẫn việc xuất hiện các sản phẩm cần nhiều sức lao động, lắp ráp, đã khiến dẫn tới việc nếu họ tổ chức sản xuất ở trong nước thì không thể cạnh tranh, không có lãi về kinh tế. Ba cái điều a,b,c này có liên quan với nhau tác động lẫn nhau, giới hạn ở đây không cho phép tôi phân tích kỹ. Nhưng việc toàn cầu hoá, đã dẫn tới việc sự phân biệt giầu nghèo ở trong các nước phương Tây rõ rệt hơn. Và mâu thuẫn giữa lớp người lao động « cổ trắng » (dân văn phòng, kỹ thuật..) với chủ tư bản sẽ tăng lên, nếu sự bần cùng hoá tầng lớp người này tiếp tục tăng lên dưới tác động của toàn cầu hoá. Lớp người này, vốn là tiểu tư sản, thị dân. Họ chính là cái đế của nền dân chủ tư sản hiện tại (đa nguyên đa đảng) ở phương Tây từ thập niên 50 của thế kỷ trước. Như vậy nó mở ra hai khả năng. A) nếu quá trình bần cùng hoá tiếp tục, thì thế giới tư bản hiện tại sẽ phải thay thế thể chế hiện tại bằng một hình thức nhà nước phát xít hơn. B) nếu quá trình này được hãm lại với việc tổ chức lại sản xuất bằng tự động hoá, thì nguy cơ một hệ đế quốc kiểu mới sẽ xuất hiện.
3- Khối XHCN cũ. Sự tan rã của Đông Âu, rồi Liên Xô đã dẫn tới sự tiêu diệt của trào lưu này. Trong đó sự tan rã của Đông Âu là hệ quả của sự tan rã của Liên Xô. Hiện nay Đông Âu là một bộ phận của EU. Nhưng chuyển từ phụ thuộc Liên Xô tới phụ thuộc EU thì cũng như tránh vỏ dưa lại gặp vỏ dừa. Các nước này khi vào EU đã phải chấp nhận hình thức tổ chức nhà nước kiểu đa nguyên đa đảng của Tây Âu, cũng giống như xưa khi họ ở trong khối XHCN thì phải chấp nhận mô hình của Liên Xô, và bây giờ hay ngay xưa thì họ chỉ có được « chủ quyền hạn chế ». Điều đáng chú ý là những nước tương đối mạnh trong nhóm này (Ba lan, Hung, Tiệp) thì đều có những hành động hạn chế mô hình dân chủ của EU áp đặt. Với Hung và Ba lan là việc kiểm soát nhà nước chặt chẽ hơn, « độc tài » hơn. Với Tiệp là không chịu chui đầu vào cái tròng đồng tiền euro. Còn các nước như Rumani, bun ga ri thì chế độ đa nguyên đa đảng này dẫn tới việc vô hiệu hoá bộ máy nhà nước, tham nhũng lan tràn, đời sống cùng khổ. Sự sụp đổ của Liên Xô, được phương Tây cho là sự sụp đổ của CNXH. Trong thực tế nó là sự sụp đổ của một hình thức quản lý kinh tế và quá trình xây dựng CNXH của Liên Xô thực chất là một quá trình công nghiệp hoá không phải do giai cấp tư sản thực hiện.
Hiện tại tư duy XHCN trên thế giới ở vào giai đoạn thoái trào. Trào lưu chung coi trọng sự phấn đấu « mỳ ăn liền », mỗi người phải tự cố gắng cho chính mình hơn là coi trọng cộng đồng. Nhưng nó cũng sẽ tiến tới cái giới hạn của nó, tức là sự phân liệt giai cấp quyết liệt, dẫn tới sự cùng khổ cuả số đông, huỷ hoại môi trường, và từ đó mà làm thụt lùi sự phát triển chung. Vì thế sớm hay muộn một hình thái XHCN mới như một hình thái kinh tế sẽ phải nẩy nở, nếu loài người không tự huỷ diệt mình bằng chiến tranh trước khi điều đó xẩy ra.
Ở VN, CNXH vẫn là tư duy tốt cho phát triển, công nghiệp hoá, đô thị hoá. Bởi VN công nghiệp hoá không qua giai cấp tư sản. Tầng lớp doanh nhân VN được tạo ra bởi chính sách nhà nước. Và điều quan trọng nhất là CNXH sẽ giúp VN phát triển tốt hơn, nhanh hơn mang lại lợi ích cho mọi người. Trong chủ đề « CNXH » tôi có nói tới điều này. Hãy giả sử VN lấy Mỹ làm mô hình, thì không thể nào phát triển được. Vì sao ? vì Mỹ có 300 triệu người, bóc lột cả thế giới 5 tỉ người mà không đảm bảo được cuộc sống phồn vinh cho tất cả mọi công dân của họ. Điều họ hoàn toàn có thể làm, chỉ do cái mô hình xã hội không muốn thế mà thôi. Vậy VN, chỉ có tự bóc lột chính mình, làm sao có thể làm điều đó, nếu không đẩy sự bóc lột quyết liệt hơn nữa, dã man hơn nữa lẫn nhau. Điều mà văn hoá Nho giáo, Phật giáo của VN vốn nặng tính cộng đồng không chấp nhận được.
(còn tiếp)
Pages: 1, 2
Quán nước đầu làng Ven > Sáng Tác - Thảo Luận - Phổ biến kiến thức > CLB Văn Hoá - Lịch sử
Bạn đang xem phiên bản gọn nhẹ của diễn đ n dưới dạng text, để xem các b i viết với đầy đủ mầu sắc v hình ảnh hãy nhấn v o đây !
Invision Power Board © 2001-2018 Invision Power Services, Inc.