Langven.com Forum

Full Version: Con Gái Có Thờ Cúng Bố Mẹ được Không ?
Quán nước đầu làng Ven > Sáng Tác - Thảo Luận - Phổ biến kiến thức > CLB Văn Hoá - Lịch sử
Pages: [<<], [<], 1, 2, 3, [4]
Phó Thường Nhân
Nếu tôi có thể khuyên được, và nếu nvt biết ông ấy, thì có thể nói những lời giải thích dưới đây.
Về cơ bản, thì việc đọc một đoạn kinh trong lễ cầu siêu là đúng. Chỉ có điều ông ấy lấy từ quyển Tây Du Ký thì lại sai, vì đây không phải là kinh, và tác giả Ngô Thừa Ân chỉ viết dưới một dạng giả danh kinh thôi. Ngay trong cái đoạn ấy cũng có chỗ sai. Đó là nó viết « Nam mô A di đà phật », rồi sau đó lại có « Nam mô Vô lượng thọ bồ tát ». Điều này chứng tỏ đoạn kinh này là Fake, vì Vô lượng thọ chính là tên dịch nghĩa của phật A di đà ra chữ Nho. Phật A di đà khi dịch nghĩa ra chữ Nho thì có hai nghĩa « Vô lượng thọ » (nghĩa là tồn tại vĩnh viễn) và « Vô lượng quang » (nghĩa là Ánh sáng vĩnh hằng). Bản thân bản kinh Đại A di đà, trong đó có 48 lời nguyện của Phật A di đà cũng được gọi là « Vô Lượng thọ kinh ». Không bao giờ một kinh lại lẫn lộn linh tinh bồ tát với phật như vậy, còn ở đây là sáng tác của tác giả Ngô Thừa Ân thì không sao, vì nó là tác phẩm văn học, không phải là kinh.
Vì nvt nói tới vấn đề này, thì tôi cũng nói một chút về lễ nghi, tâm linh phật giáo. Với kinh phật người ta có thể có hai thái độ : đọc kinh và tụng kinh. Tụng kinh lại chia làm hai đó là tụng kinh và trì chú.
Điểm khác nhau là đọc kinh (như trường hợp của tôi và nhiều người học phật giáo khác), là để hiểu triết lý nhân sinh quan phật giáo. Còn ngược lại tụng kinh hay trì chú thì có tính chất tâm linh, nghi lễ.
Khi người phật tử tụng kinh (thường là những người có nguyện cư sĩ), thì vấn đề không phải là để hiểu mà để có công đức. Điều này các kinh thường nói rất rõ, ví dụ trong kinh Pháp Hoa, thường có những đoạn nói nếu giữ, viết, chép kinh này thì công đức vô hạn. Các kinh khác cũng có những nội dung như vây, thường là vào chương cuối của kinh. Như vậy tụng kinh là để lấy sức mạnh thiêng liêng huyền bí của kinh, không phải để hiểu, vì thế người ta cứ tụng cho hết một hơi, gõ mõ, rung chuông rồi lại tiếp mà không quan tâm tới ngắt câu kiểu ngữ pháp.
Còn trì chú, cũng là một kiểu tụng kinh, nhưng ở đây người ta hiểu nó như mật tông.Thường người ta không trì chú hết mà chỉ lấy một đoạn. Đoạn này có giá trị như một lời chú. Vì trì chú là phải đảm bảo cả Thân, Khẩu, Ý. Có nghĩa là người ta phải ngồi đúng thế, niệm câu chú (ỏ đây là một đoạn kinh), và tay phải bắt ấn.
Hình thức trì chú này, có cái gì đó tương đương với « tổng trì tam ma địa », như tôi nói tới trong Thiền Vạn Hanh. Có điều Thiền sư Vạn Hạnh « bùa chú » như thế để lấy sức mạnh tâm linh cho mình. Còn người thầy cúng thì làm điều đó cho người đã mất.
Vậy đoạn kinh đó, thường người ta lấy đoạn nào. Họ thường lấy đoạn đầu tiên của một bản kinh, vì trong chương đầu tiên này thường là giới thiệu các Phật, bồ tát, thiên vương ..v..v..đến nghe phật giảng kinh. Người ta thường gọi là một hội. Ví dụ các Bồ tát, thần, ..đến nghe kinh A di đà, thì là hội Liên Hoa, nghe kinh Pháp Hoa thì là hội Pháp Hoa, nghe kinh Hoa Nghiêm thì là hội Hoa Nghiêm.
Đây thường là những kinh dùng để trì chú, vì nội dung của kinh nói tới sự cứu vớt của phật và đời sống vĩnh hằng, phù hợp với cầu siêu. Tuỳ người ta có cảm nhận với kinh nào, thì lấy hội kinh đấy, và có thể gộp chúng lại cũng không sao. Ví dụ hội Pháp Hoa có thể hợp với hội Hoa Liên.
Một khi đã có danh sách các bồ tát dự hội rồi, thì chỉ thêm chữ « Nam mô vào đầu mỗi tên » là dùng trì chú được. Nam mô có nghĩa là « in the name of.. ». Bằng cách trì chú này, ta sẽ có sức mạnh thiêng liêng của hội kinh, và kinh phù hộ cho mình, cho thân chủ.
Hiện tại cũng có một kinh nguyên ở dạng này, đó là kinh trong đó có 500 tên hiệu của phật bà quan âm, mà người ta hay đọc khi đi hội chùa Hương.
Như vậy, nếu muốn chuẩn, không gán ghép tên linh tinh thì làm như thế. Hiện nay còn có thêm một tục mới, tôi thấy ở Pháp, nhưng thực ra nó phát xuất từ Đài loan. Đó là khi nhà sư cầu siêu, thì yêu cầu những người nhà thân chủ đội quyển kinh lên đầu.
Như vậy, lễ cầu siêu thường có là lời khấn cầu siêu cho thân chủ, tiếp đó là các lời khấn cho nghi lễ dâng thức ăn, trà, nước, .. cho người đã mất, trì trú một đoạn kinh cầu siêu (mà cách lập nó tôi nói ở trên), kết thúc bằng tụng tâm kinh (sắc bất dị không..). Nếu là nghi lễ kéo dài, thì đoạn kinh cầu siêu có thể đọc đi đọc lại, càng nhiều lần càng tốt.
NVT2002
Ông thày cúng đó đã ngoài 70, và lễ cầu siêu diễn ra từ 8h
sáng đến 11h trưa. Ông ấy chắc chắn không thể đọc kinh liên tục mấy tiếng đồng hồ như thế, nên phải dắt theo 2 thằng cháu, khoảng 30 tuổi. Và thế là 3 ông cháu thay phiên nhau đọc các bài khấn khác nhau. Một thằng thì có tài múa may như cậu đồng, còn thằng kia thì chính là người đọc cái bài kinh TDK đó!
Phó Thường Nhân
Viết tiếp về chủ đề.
Với những gì tôi đã nói ở trên, có thể suy ra là con gái có thể thờ cúng bố mẹ , hoàn toàn trong khuôn khổ tín ngưỡng truyền thống. Cách làm đơn giản là quay trở về với khởi điểm nguyên thuỷ đó là thờ thần. Người con gái có thể thờ cúng bố mẹ như những vị thần, vì đây là khởi điểm trước khi thờ tổ tiên tách ra.
Trong quan niệm tâm linh truyền thống của người VN, bất kể sắc tộc nào, ngoại trừ họ đi theo một tôn giáo kiểu Thiên chúa, do bị tôn giáo này ngăn cản, mỗi người VN đều có ba phần tâm linh : THẦN , PHẬT, TỔ TIÊN. Trong thực tế, tất cả tôn giáo, tín ngưỡng Vn đều nằm trong ba phần tâm linh này.
Bản thân tôi, ở nhà lập ban thờ cũng có ba phần, ba bát hương, lần lượt xếp từ trái qua phải : thờ thần, thờ phật, thờ tổ tiên. Như vậy khi cúng đằng nội thì là thờ tổ tiên, cúng đằng ngoại thì là thờ thần.
Khi tôi khấn, bao giờ cũng có ba thành phần, ví dụ bắt đầu là « cầu THẦN, PHẬT, TỔ TIÊN phù hộ độ trì cho con là :… » và kết thúc bằng « Nam mô A di đà phật »
Khi cúng, nếu là thần, tổ tiên thì bao giờ cũng có đồ mặn, còn bình thường, cúng phật thì để đồ chay : hoa quả,.. Để cho nó khỏi « vênh » với phật, trước phần thờ phật, tôi chỉ để bát hương, lư trầm, vì không đủ chỗ nên tôi phải để ra bên cạnh, đó là mâm ngũ quả, chứ nếu để được mâm ngũ quả trước Phật là hay nhất. Mục đích là để khi đặt đồ cúng, không bao giờ có đồ mặn trước mặt Phật.
Thờ thần để làm gì ? trong thực tế, đúng tín ngưỡng, thì thờ Phật để giải thoát, cũng có phần phù hộ độ trì, nhưng mục đích chính của nó là giải thoát. Còn thờ thần là để được phù hộ độ trì trong đời sống bình thường. Đây không phải là tôi bịa đặt ra mà là tâm linh người Việt bình thường, ví dụ nếu cầu « ăn nên làm ra » thì người ta lên phủ Mẫu, đền bà chúa Kho, Bia Bà (ở Hà Đông) , núi Bà đen, Thất Sơn.. chứ không ai khấn phật về vấn đề đó cả. Thờ tổ tiên vừa có ý nghĩa ấy (đây là ý nghĩa nguyên thuỷ), và tất nhiên có cả chữ Hiếu. Thờ Thần cũng có khái niệm đạo đức của nó đó là CHÂN, THIỆN, MỸ. Chân là thái độ thành kính chân thành với Thần, Thiện là cầu điều thiện (không có kiểu cầu « thần phù hộ đánh thằng kia, con kia.. hộc máu mồm ra cho con »..), Mỹ là đảm bảo nghi lễ có thẩm mỹ. Trong tâm linh vấn đề không phải là khoa học mà là niềm tin theo các giá trị CHÂN, THIỆN, MỸ. Nhưng giá trị này sẽ làm cho tâm linh không phải là mê tín dị đoan.
Hiện tại thờ thần ở VN có hai dạng, hoặc là thờ cúng của cộng đồng, như các lễ hội thờ Thành Hoàng, thờ Vua Hùng. Nhưng nó cũng có dạng thờ cá nhân, chủ yếu là theo đạo Mẫu, vì không ai mang ông thành hoàng về nhà thờ riêng cả.
Khi người ta thờ thần, chính là cảm nhận nhân duyên liên quan mình với vị thần ấy, cảm nhận số phận. Nhân thể nói thêm một chút về đạo Mẫu, Đạo Mẫu được cấu trúc theo « Tam Toà, Tứ Phủ » tức là chính xác như quan niệm vũ trụ của người Mường, với « ba tầng, bốn thế giới » mà tôi nói ở trên. Tam toà gồm có : Mẫu Thiên (tầng trời), Mẫu Thoải (tức là Thuỷ đọc chệch) là thuỷ cung. Còn trần gian thì được chia ra làm 2, giống như quan niệm thế giới Âm/Dương mà tôi nói. Trong đó Mẫu Liễu là thế giới trần gian của ta, và Mẫu Thượng Ngàn (thế giới rừng núi, những cũng chính là « bìa rừng, rừng thiêng mồ mả ») mà tôi nói ở trên. Mẫu Liễu chỉ thực sự tồn tại từ thế kỷ XV, XVI, và có thể hiểu từ lúc đó, tâm linh bản địa của người Việt mới có đạo riêng. Trước đó nó bị Phật giáo, Nho giáo che mất. Thời điểm đó không phải là không có ý nghĩa, vì đó là lúc mà đạo Nho sau một thời « độc quyền » vào hai triều đầu của nhà Lê, bước vào giai đoạn các chúa đánh nhau (đầu tiên là nhà Mạc), điều đó khiến đạo Phật quay trở lại lần hai, nhưng do tác động của đạo Nho không nhằm xoá xổ tâm linh bản địa mà chỉ cấu trúc lại nó, đã khiến cho đạo Mẫu có không gian tồn tại, vì Phật giáo chỉ là một bộ phận không thể tách rời của tâm linh VN, chứ không phải tất cả. Như thế cũng là to lắm rồi.
Nói một cách khác, đạo Mẫu đã hiện thực hoá vũ trụ tâm linh của người Mường và cũng là của người Việt cổ thành một tôn giáo. Viết mấy dòng này, thì có lẽ cũng ngả mũ 1 phút chào vĩnh biệt giáo sư Ngô Đức Thịnh, mới mất cách đây hơn 1 tuần, ông có lẽ là người đóng góp nhiều nhật vào thời hiện đại để cho ta một cái nhìn về đạo Mẫu, có lẽ chính ông đã góp phần không nhỏ để đạo Mẫu được coi là đạo trong nhận thức nhà nước.
Việc kết hợp thần phật cũng không phải là tôi sáng tác ra, mà thực ra chỉ thuật lại. Ở các chùa ngoài Bắc, các chùa cổ, đều có việc thờ « Tiền Phật, Hậu Mẫu ». Và người ta cũng thực hiện điều này ở nhà. Bằng chứng ? có các tranh thờ cổ , trong đó không gian tâm linh được cấu trúc « Thượng Phật, hạ Mẫu ». Những tranh cổ đó, ai ở Hà nội có thể vào viện bảo tàng Mỹ Thuật ở Quốc Tử Giám để mục kích, thậm chí có thể mua loại tranh kiểu này về lập ban thờ, vì năm ngoái tôi về VN, thấy chúng được bán ở phố Hàng Gai (Hà nội).
Phó Thường Nhân
Tóm lại một người phụ nữ, ngay cả khi lấy chồng, vẫn có thể thờ cúng bố mẹ mình, thông qua việc thờ thần, mà điều này không ảnh hưởng gì tới truyền thống. Tất nhiên điều này sẽ khó thực hiện nếu ở với bố mẹ chồng, (vì sự tế nhị của sự chung sống), còn nếu ở riêng, thì trên một ban thờ hoàn toàn có thể thờ tổ tiên bên nội, và đồng thời có thể thờ bố mẹ mình, bằng cách sắp xếp ban thờ như tôi nói ở trên.
Ở trong tiêu đề của chủ đề, tôi có nói tới sự xung đột với văn hoá truyền thống, điều đó nghĩa thế nào. Nó có hai nghĩa :

1- Hiện nay luật pháp, cơ chế nhà nước, cái đế kinh tế đều không ủng hộ việc thờ tổ tiên một bên như trong quá khứ, tại sao ?
- Về mặt luật pháp, hiện nay luật pháp VN, cũng như luật pháp toàn thế giới (ngoại trừ thế giới đạo Hồi), đều coi nam nữ bình đẳng trước pháp luật. Trong việc thừa kế, một ẩn số kinh tế rất quan trọng của việc thờ tổ tiên theo đàng nội, đều bình đẳng đều nhau, không có vấn đề con trai hưởng nhiều hơn con gái. Luật pháp cũng không quy định, con cái phải lấy họ bố. Như vậy không có một cái đế luật pháp nào ép buộc áp dụng tập tục này, nó chỉ là truyền thống văn hoá.
- Hình thưc sinh hoạt đô thị, việc xây dựng các chung cư căn hộ như hiện nay ở VN, ngăn cản việc chung sống nhiều thế hệ dưới một mái nhà. Kiểu nhà ở này chỉ thích hợp với một gia đình hạt nhân, có bố mẹ và con cái nhỏ. Hiện nay vấn đề nhà ở cho các cặp gia đình vẫn là vấn đề lớn ở đô thị VN, nhưng không sớm thì muộn, vấn đề nhà ở sẽ được giải quyết. Ta có thể nhìn vào các nước nho giáo đi trước VN trong phát triển, như Hàn, Nhật, Sing.. sẽ thấy điều này. Có những nước như Nhật, việc thờ cúng tổ tiên này sụt hẳn. Có những nước như Sing, có chính sách thương mại khuyến khích các thế hệ trong một đại gia đình mua nhà ở gần nhau,(do yếu tố chữ HIẾU) nhưng việc xây dựng nhà đơn nguyên đảm bảo nhiều thế hệ sinh sống trong một căn hộ là bất khả thi.
- Hình thái kinh tế thị trường, mà sức lao động được bán theo từng cá nhân, bắt buộc từng cá nhân phải năng động, hiện tại không còn khả năng một gia đình, hay là đại gia đình đồng thời là một hạt nhân cơ sở kinh tế (ngoại trừ gia đình đại gia, đưa con cái vào để hợp thức hoá sở hữu trong một công ti cổ phần). Điều này càng ngăn cản việc các thành viên trong một gia đình, khi trưởng thành, có thể chúng sống trong một khoảng cách gần cận. Chính vì thế mà chương trình khuyến khích mua nhà gần nhau của Sing cũng không thành công. Một nước chỉ là một thành phố còn thế, huống chi là một đất nước diện tích rộng hơn.
- Giáo dục phổ thông hiện tại cũng nhằm vào các cá nhân, và có tính bình đẳng. Điều này ngăn cản các giá trị văn hoá theo « chiều dọc » như Trung , Hiếu của đạo Nho, mà thay vào đó là một quan hệ khế ước. Trong một xã hội như thế, đạo Phật đáp ứng dễ hơn (vì chỉ có giá trị theo chiều ngang). Tất nhiên đạo Nho cũng có những giá trị này, như tôi đã nói ở trên, nhưng những gia trị chiều dọc của nó, mà đạo Hiếu là một, sẽ bị ảnh hưởng, điều mà ta đang nói ở đây.

2- Tác động của vấn đề dân số.
Trước đây không xa, chỉ cách ta có khoảng 50 năm, vẫn còn tồn tại các gia đình đông con. Sau này nhà nước VN, cũng như nhiều nhà nước của thế giới thứ 3, có áp dụng chính sách « sinh đẻ có kế hoạch » theo LHQ, để giảm số lượng con cái trong một gia đình. Hiện này, nếu tôi không nhầm thì chính sách này (cho phép có 2 con), ở VN đã bỏ từ khoảng cách đây 1,2 năm. Nhưng mặc dù thế, sau thời « hoàng kim của dân số » hiện nay, dân số sẽ giảm, vì dù không bị ngăn cấm, người ta sẽ tự hạn chế sinh đẻ, do các vấn đề kinh tế, nhận thức văn hoá. Trong đạo Hiếu, điều đó đồng nghĩa với tổ tiên đông thêm, mà con cháu ít đi. Lấy ví dụ 2 gia đình, mỗi gia đình có 1 con , thì thế hệ tương lai là 2 người, thờ thế hệ trước 4 người. Không những thế nó còn đẻ ra một vấn đề nữa, do sự phát triển của Y tế mang lại, đó là người ta sẽ có xu hướng chọn con trai, nếu đẻ ít, mà loại bỏ con gái, ngay khi có thai. Kết quả còn làm vấn đề này trầm trọng thêm, vì dẫn tới mất cân bằng dân số, tuyệt chủng về lâu dài.

Nếu nhìn vào những vấn đề trên, thì không những không nên ngăn cấm theo truyền thống việc con gái thờ phụng bố mẹ theo đạo Hiếu, mà còn phải khuyến khích nó thì mới đúng.
Nếu thờ thần có thể giúp phụ nữ thờ được bố mẹ, thì một vấn đề nan giải nữa đó là tộc họ thì làm sao ? Vì con cái sinh ra mang họ bố. Trong thực tế đây là sự chọn lựa của truyền thống theo nguyên tắc phụ hệ, còn về mặt sinh học, thì một đứa con thừa hưởng cả bộ gien của bố và mẹ, con trai cũng như con gái.
Như vậy, muốn cân bằng nữa, thì nên để cho con trai con gái bình đẳng về dòng tộc. Và trong một nhà nếu không sinh con trai,có thể để cho người con gái đảm nhận nhiệm vụ đứng đầu tộc này. Điều này nhà nước Anh đã làm từ lâu, vì ta thấy rằng có nữ hoàng Anh. Như vậy ta có thể mường tượng ra một truyền thống tiếp nối như sau :
-Nếu một gia đình có cả trai cả gái, thì người con trai sẽ kế thừa gia tộc (như hiện tại)
-Nếu một gia đình chỉ có con gái, thì người con gái đầu sẽ làm nhiệm vụ này.
Câu chuyện đến đây chưa phức tạp, vì trong trường hợp sau, người con gái vẫn mang họ của gia đình mình, ngay cả sau khi lập gia đình. Nhưng đến thế hệ tiếp thì sao ?
Ở đây nó cũng có hai trường hợp :
Nếu có nhiều con, thì có thể chọn con thứ hai mang họ mẹ, để tiếp tục làm trưởng họ.
Nếu chỉ có một con thì « gay cấn » hơn , nhưng ta có thể mường tượng là một người con có thể kế thừa hai dòng họ, và mang hai tên (với hai họ khác nhau). Tất nhiên là với nhà nước, thì chỉ có một tên chính thôi, vì nếu không sẽ bị đánh thuế hai lần, nếu nhầm 1 người thành hai công dân.
Việc một người mang nhiêu tên cũng là truyền thống văn hoá Đông Á, việc một người một tên thực ra là sự nhập khẩu từ phương Tây. Một người Đông Á bình thường, thường có 3 cái tên : tên bố mẹ đặt ra, tên tự mình đặt cho mình, và tên lúc mất được đặt để dùng trong việc thờ cúng sau khi mất.
Hiện nay về mặt luật pháp như tôi nói ở trên không có điều gì ngăn cản cả, và cũng không có quyền lợi có tính kinh tế nào ở đây.
Như vậy nếu nhìn về chiều hướng xã hội VN phát triển, thì việc khuyến khích phụ nữ thờ bố mẹ sẽ có tác dụng tích cực hơn cho xã hội, chứ không phải có hại. Nó sẽ giúp cho xã hội phát triển cân bằng hơn. Không kể, về mặt bản chất, xã hội VN khởi thuỷ là một xã hội mẫu hệ, Ví dụ bà Trưng , Bà Triệu còn đó, cho nên việc phụ nữ thờ cha mẹ không phải là điều gì nghịch cảnh cả.
Pages: [<<], [<], 1, 2, 3, [4]
Quán nước đầu làng Ven > Sáng Tác - Thảo Luận - Phổ biến kiến thức > CLB Văn Hoá - Lịch sử
Invision Power Board © 2001-2021 Invision Power Services, Inc.