Langven.com Forum

Full Version: Chánh Niệm Không Như Bạn Nghĩ
Quán nước đầu làng Ven > Sáng Tác - Thảo Luận - Phổ biến kiến thức > Thiền Học & Tôn Giáo
nguyenducquyzen
Sati (thuật ngữ tiếng Pali), có nguồn gốc từ Đạo Phật ở phương đông, được biết đến ở phương tây qua tên gọi Mindfulness. Tuy nhiên, cách hiểu của đại đa số người phương tây về Mindfulness lại không đúng với ý nghiã thật sự của Sati. Theo cách hiểu của đa số người phương tây hiện nay thì Mindfulness là một trạng thái tâm lý, phát sinh khi ta tập trung vào sự nhận thức về bản thân, ở thời khắc hiện tại. Nó giúp làm dịu tinh thần khi bị căng thẳng và tăng cường sự tập trung. Nhưng nó không mang lại sự thoải mái dễ chịu như là giải trí. Trong Mindfulness ta ko được thả mình hoà vào tự nhiên, mà phải ức chế. Nó ko làm cho ta cảm thấy sướng, cảm thấy đã, không f5 bộ não được. Sau khi tâm trí đã được làm dịu mà không buông bỏ, thì Mindfulness sẽ trở thành một gánh nặng. Chính vì vậy, ở phương tây hiện nay, Mindfulness chỉ được xem như là một liệu pháp tâm lý giúp làm giảm tress. Nếu so sánh với các tác dụng của các hoạt động giải trí, thì nó không thể thay thế được.

Trên thực tế, Sati vốn có ý nghiã như là một trạng thái tâm lý, phát sinh khi không có sự hiện diện của những nhận thức sai lầm.
Sati mang lại nhiều lợi ích to lớn cho những ai ứng dụng nó trong đời sống hàng ngày. Trong Sati, ta hoàn toàn thả mình, hoà vào tự nhiên, hoàn toàn không có một chút gì gọi là ức chế, hay dừng chỉ. Nó mang lại cảm giác phúc lạc, thoải mái và dễ chịu trong công việc và cuộc sống. Sự thoải mái, dễ chịu mà nó mang lại còn hơn cả sự thoải mái, dễ chịu mà các hoạt động giải trí mang lại. Ngoài ra, nó còn giúp nâng cao hiệu suất làm việc ...(bổ sung thêm ý kiến của chồng Nhật về hiệu quả làm việc trong trạng thái )... Đặc biệt, Sati còn giúp, cho những ai thực hành nó, khai mở trí tuệ, giải phóng tiềm năng sáng tạo, nâng cao sự linh hoạt, năng lực thích nghi với những sự thay đổi, năng lực dẫn dắt sự thay đổi, cải thiện năng lực lắng nghe và giao tiếp. Nói chung là nó có thể giúp giải quyết những vấn đề về năng lực làm việc của con người trong kỷ nguyên 4.0.
(Còn tiếp)
Phó Thường Nhân
Đọc thấy cái này thì tôi phải vào đây ..bảo vệ người phương Tây, vì họ không quan niệm Mindfullness là chánh niệm. Cũng có thể bác Quý gặp một người nước ngoài nào đó không hiểu biết người ta nói thế, chứ danh từ này không liên quan gì tới chánh niệm cả, và người phương Tây cũng hiểu như vậy. Vì cái khái niệm này lịch sử của nó có liên quan tới người Việt Nam, và vì thế ta có thể tự hào rởm, nên tôi sẽ trình bầy nó ở dưới đây.
Cái cụm từ này nếu hỏi một người phương Tây bình thường thì họ sẽ giải thích theo kiểu trị liệu tâm lý, cái này tôi sẽ nói sau, chứ không hiểu đúng nghĩa của nó. Tức là nó là một khái niệm mới chỉ có trong tiếng Anh từ khoảng những năm 50 trở đi, liên quan tới việc các thiền sư người Việt, Nhật, hay nhà sư Tây Tạng truyền đạo phật vào phương Tây. Trong đó có thầy Thích Nhất Hạnh, người ta có thể quan niệm rằng chính ông là người đưa cái khái niệm này vào từ ngữ phương tây, nên vì thế tôi mới nói ta có thể tự hào rởm.
Cái danh từ này được ghép lại bởi 3 từ : Mind vốn có nghĩa là tinh thần, Full đầy đủ, còn ness là một cấu trúc ngữ pháp của tiếng Anh để chuyển tính từ sang động từ. Mindfull là tính từ còn mindfullness là danh từ. Tương tự như happy (hạnh phúc) là tính từ, chuyển sang danh từ thành happiness. Ở trong tiếng việt vì sự phân chia danh từ, động từ, tính từ không rõ ràng phụ thuộc vào ngữ cảnh, nên để chỉ danh từ « kiểu tây » thế này ta hay thêm từ sự. ví dụ. happy là hạnh phúc, happiness là sự hạnh phúc.
Như vậy nếu ghép từ lại thì ta không hiểu mindfullness là gì, và người Tây cũng vậy. Thực ra xuất phát điểm của từ tiếng Anh này lại là tiếng Pháp, người ta gọi nó là pleine conscience. Trong đó pleine là đầy đủ (như là full tiếng Anh), ngược lại conscience (tiếng việt nghĩa là nhận thức) thì tương tự với mind (tiếng Anh) nhưng chính xác hơn. Và vì đây là một cụm từ bao gôm tính từ (pleine) và danh từ (conscience) nên người ta không cần cái từ chuyển đổi kiểu ngữ pháp (ness) nữa. Như vậy nghĩa của nó là « nhận thức đầy đủ », nhưng nhận thức đầy đủ cái gì ?
Trong thực tế, khi các thiền sư châu Á sang truyền đạo ở Tây Âu, Mỹ, Tôi nhấn mạnh tới Thiền sư, vì đây là truyền thống của Thiền Tông, họ căn theo cách tu tập ở Đông Á (TQ, Nhật, VN) mà truyền cho người Tây. Trong đó việc đầu tiên là sinh hoạt như các chú Tiểu. Tức là được dậy làm các việc bình thường (ăn uống, đi lại, dọn dẹp, pha trà, lau nhà ..) một cách tập trung. Khi làm thì biết mình đang làm gì, không nghĩ vẩn vơ chuyện khác hay lơ đãng. Những điều này, hiện nay nếu ai sang Nhật rồi tự nhiên xông vào chùa theo phái Thiền Tông, lấy một cái cua tập 24 tiếng, 48 tiếng dành cho du lịch người ta cũng dậy những điều này.
Để đặt tên cho nó thì các nhà sư Đông Á gọi nó là mindfullness, hay pleine conscience. Chính xác hơn cái phép tập phổ thông đầu tiên này là để dậy người ta tập trung. Thế thì tại sao lại không dịch nó là concentration (chính nghĩa của từ tập trung) cho nó tiện. Cũng bởi vì trong nghĩa concentration có tư duy chủ ý, cố gắng, tức là đã có thêm vào rồi. Trong khi đó, cái phương pháp này làm cho người ta nhận biết đang làm là làm gì. Chính vì thế nó mới là pleine conscience hay mindfullness.
Vì khái niệm này là sự bắt đầu tu tập của thiền tông, nên nó không phải là CHÁNH NIỆM. Không kể trong đại thừa, không có khái niệm CHÍNH/TÀ. Cái khái niệm này chỉ có trong Nam Tông hay phật giáo nguyên thuỷ. Bởi vì trong phật giáo nguyên thuỷ cái tôi là không (vô ngã) nhưng cái pháp (sự việc )là thực (pháp hữu) nên mới phân biệt phải trái (CHÍNH/TÀ, ĐÚNG/SAI).
Tiếp theo cái pleine conscience này, nó chỉ là cái mở đầu thì người ta phải đi tới sự chiêm nghiệm :
KHÔNG (VÔ), rồi CHÂN TÂM, rồi VIÊN GIÁC, rồi NHẤT NHƯ (tất cả là một) thì ta mới đi đúng vào đạo phật đại thừa. Các khái niệm VÔ, CHÂN TÂM, VIÊN GIÁC, NHẤT NHƯ sẽ được các tông phái phật giáo phát triển khác nhau. Tuỳ tông phái mà người ta đi sâu vào cái này hay cái kia.
nguyenducquyzen
Chết cười với bác Phó hehe.gif hehe.gif hehe.gif bác có một năng khiếu là hay nhảy vào bàn cái chuyện mà mình không biết. hehe.gif hehe.gif hehe.gif
nguyenducquyzen
Em đang bàn tới các khái niệm Sati và Samma Sati của Phật giáo Nam Tông (Tiểu thừa), chứ không liên quan gì tới Thiền Tông hay Phật giáo Đại Thừa, bác Phó nhé.
Có vài cái này chia sẻ thêm (em giữ nguyên bản gốc bằng tiếng Anh, cho khỏi dính líu đến tiếng Việt):

1 - The English term mindfulness already existed before it came to be used in a (western) Buddhist context. It was first recorded as myndfulness in 1530 (John Palsgrave translates French pensée), as mindfulnesse in 1561, and mindfulness in 1817. Morphologically earlier terms include mindful (first recorded in 1340), mindfully (1382), and the obsolete mindiness (ca. 1200).

2 - The Pali-language scholar Thomas William Rhys Davids (1843–1922) first translated sati in 1881 as English mindfulness in sammā-sati "Right Mindfulness; the active, watchful mind".[37] Noting that Daniel John Gogerly (1845) initially rendered sammā-sati as "Correct meditation",[38] Davids explained:

sati is literally 'memory' but is used with reference to the constantly repeated phrase 'mindful and thoughtful' (sato sampajâno); and means that activity of mind and constant presence of mind which is one of the duties most frequently inculcated on the good Buddhist."[39]

Nguồn: https://en.wikipedia.org/wiki/Mindfulness
Quán nước đầu làng Ven > Sáng Tác - Thảo Luận - Phổ biến kiến thức > Thiền Học & Tôn Giáo
Invision Power Board © 2001-2018 Invision Power Services, Inc.