Chào bác, trông cái mặt bác quen quen ( Đăng nhập | Đăng ký tạm trú )

2 Trang < 1 2 

· [ ] ·

 Tây Nguyên - Bu Tan, Hay câu chuyện nhà văn Nguyên Ngọc về Tây nguyên

Phó Thường Nhân
post Jun 23 2023, 07:59 PM    
Đường dẫn tới bài viết này #11

Tả Thiên Thanh
Group Icon

Nhóm: Chánh tổng
Số bài viết: 7.025
Tham gia từ: 11-August 02
Thành viên thứ: 133

Tiền mặt hiện có : 49.018$
Số tuần chưa đóng thuế : 10

Bình chọn :



@root,
Cảm ơn root, tôi không biết nước này còn là một dạng thiên đường bitcoin có thể hình thành, phát triển theo xu hướng « lỗ đen tài chính ». Nếu thế thì có thể xếp Bu tan cùng dạng với các đảo quốc bé tí ở vùng biển Ca ra íp, ví dụ Bahamas hay Saint Martin.
Ở hai hòn đảo này họ cũng phát triển các thê loại shadown banking nhằm thu hút các hãng xuyên quốc gia và người giầu để trốn thuế, đồng thời cũng là thiên đường du lịch cho hạng người giầu này nhưng không phải là du lịch tâm linh mà là Sun-Beach-và có thể Sex.
Không rõ trình trạng Bu tan thực sự ra sao, nhưng những đảo quốc này làm được điều đó bởi chính các mẫu quốc cũ ở những đảo này tạo ra. Ví dụ ở Bahamas vốn là thuộc địa Anh cũ, nên nó nằm trong hệ thống « trốn thuế đúng quy trinh » của đế chế shatdown banking Anh. Còn đảo Saint Martin thì là một hòn đảo được đồng quản lý mỗi bên một nửa giữa Hà lan và Pháp, nên nó là shatdown banking của EU giống như một dạng Luxembourg, chỉ có điều khác là các ông chủ ngân hàng và tài chính ở đây không phải là người bản địa.
Ở VN xu hướng này cũng có khi có kế hoạch tạo ra các đặc khu, thậm chí việc tách Thủ đức khỏi Sài gòn, rồi từ đó nâng nó lên thành một dạng HUB tài chính là một biến thể của nó.
Nhưng cũng chính vì thế cách kết hợp tài chính + du lịch cao cấp (dưới vỏ bọc « làm mầu » du lịch xanh, kinh tế xanh, như root nói) không khả thi ở quy mô lớn như dạng Tây Nguyên, nó chỉ có thể làm ở dạng City thôi.


--------------------
Tả Thiên Thanh



User is offlineProfile Card
Go to the top of the page
+
root
post Jun 26 2023, 08:35 AM    
Đường dẫn tới bài viết này #12

Một người gắn bó và đang xây dựng VENOnline ngày một tốt đẹp hơn
Group Icon

Nhóm: Lý trưởng
Số bài viết: 1.935
Tham gia từ: 12-August 02
Thành viên thứ: 140

Tiền mặt hiện có : 52.125$
Số tuần chưa đóng thuế : 10

Bình chọn :



QUOTE(Phó Thường Nhân @ Jun 23 2023, 07:59 PM)
@root,
Cảm ơn root, tôi không biết nước này còn là một dạng thiên đường bitcoin có thể hình thành, phát triển theo xu hướng « lỗ đen tài chính ». Nếu thế thì có thể xếp Bu tan cùng dạng với các đảo quốc bé tí ở vùng biển Ca ra íp, ví dụ Bahamas hay Saint Martin.
Ở hai hòn đảo này họ cũng phát triển các thê loại shadown banking nhằm thu hút các hãng xuyên quốc gia và người giầu để trốn thuế, đồng thời cũng là thiên đường du lịch cho hạng người giầu này nhưng không phải là du lịch tâm linh mà là Sun-Beach-và có thể Sex.
Không rõ trình trạng Bu tan thực sự ra sao, nhưng những đảo quốc này làm được điều đó bởi chính các mẫu quốc cũ ở những đảo này tạo ra. Ví dụ ở Bahamas vốn là thuộc địa Anh cũ, nên nó nằm trong hệ thống « trốn thuế đúng quy trinh » của đế chế shatdown banking Anh. Còn đảo Saint Martin thì là một hòn đảo được đồng quản lý mỗi bên một nửa giữa Hà lan và Pháp, nên nó là shatdown banking của EU giống như một dạng Luxembourg, chỉ có điều khác là các ông chủ ngân hàng và tài chính ở đây không phải là người bản địa.
Ở VN xu hướng này cũng có khi có kế hoạch tạo ra các đặc khu, thậm chí việc tách Thủ đức khỏi Sài gòn, rồi từ đó nâng nó lên thành một dạng HUB tài chính là một biến thể của nó.
Nhưng cũng chính vì thế cách kết hợp tài chính + du lịch cao cấp (dưới vỏ bọc « làm mầu » du lịch xanh, kinh tế xanh, như root nói) không khả thi ở quy mô lớn như dạng Tây Nguyên, nó chỉ có thể làm ở dạng City thôi.
*



Có một điều lưu ý là, trong suốt hơn 10 năm qua, British Virgin Islands và British Cayman Island luôn nằm trong danh sách top 10 đầu tư và VN. Chứng tỏ là nước Anh chính là ông vua rửa tiền của thế giới


--------------------
Cuộc đời không có phím undo!



User is offlineProfile Card
Go to the top of the page
+
Phó Thường Nhân
post Jun 26 2023, 09:04 PM    
Đường dẫn tới bài viết này #13

Tả Thiên Thanh
Group Icon

Nhóm: Chánh tổng
Số bài viết: 7.025
Tham gia từ: 11-August 02
Thành viên thứ: 133

Tiền mặt hiện có : 49.018$
Số tuần chưa đóng thuế : 10

Bình chọn :



Viết đến đây, tôi đã trả lời được cho bài viết của nhà văn Nguyên Ngọc, tôi đã chỉ ra rằng cái Tây Nguyên của nhà văn là một thứ Tây Nguyên tưởng tượng, và cách nhà văn hoài niệm thứ Tây Nguyên tưởng tượng này cũng như đề xuất một ý tưởng phát triển kiểu Bu tan cũng không hợp lý và ảo tưởng.
Tôi cũng chỉ ra rằng Tây Nguyên hay đồng bằng ở cả hai nơi truyền thống theo hình thái cũ đều tan rã, và để giải quyết vấn đề phát triển, và các vấn đề nó đặt ra không phải là hoài niệm cái cũ mà phải tiến lên, ứng dụng các thành tịu khoa học, để tạo ra một nền văn minh mới, vừa kế thừa tiếp tục truyền thống cũ, vừa thích ứng được với một môi trường sống mới đó là môi trường đô thị (đô thị hóa) và hiện đại được tạo ra bởi công nghiệp hóa và dịch vụ.

Như vậy tiếp đây tôi sẽ trình bầy cách kế thừa truyền thống cũ thế nào, thích ứng nó thế nào và sao đó sẽ nói một chút về các nhà nghiên cứu nhân chủng Pháp, trong đó có cả nhà nghiên cứu mà bác Ngọc có dịch sách của ông ta. Đây là những nhà nhân chủng học Pháp nghiên cứu về Tây Nguyên, để chỉ ra cái hay cái dở của họ, vì tôi nghĩ rằng họ có ảnh hưởng khá lớn tới cái nhìn của bác Ngọc về Tay Nguyên, và cách tiếp cận của họ là sai (đúng hơn là bị sử dụng sai), từ đó dẫn tới cái sai của bác ấy như một sự theo đuôi mù quáng.
Ở đây tôi sẽ lấy tiếp một ví dụ như dạng Case study, đó là truyền thống thờ nguôn nước của người Ê đê. Truyền thống này giờ đã bị bỏ quên, và không còn là sinh hoạt truyền thống. Đây không phải là vấn đề nghèo hay giầu mà vì nó có 2 lý do :
1- Lý do đầu tiên là người Ê đê hiện theo đạo tin lành. Là một nhành của Thiên chúa giáo, nó có tư duy xóa bỏ hoàn toàn truyền thống, không còn coi truyền thống là linh thiêng. Vấn đề này có ở ngay châu Âu, là đất khởi thủy của nó, vì thế ở châu Âu, ta tháy hình thức tâm linh của họ rất nghèo nàn, không đa dạng phong phú như ở ĐNA, Đông Á. Mặc dù thế, do lịch sư của Thiên chúa giáo gắn với phương Tây, ta có thể coi Thiên chúa giáo là truyền thống của phương Tây. Nhưng khi truyền vào VN, hay một nước phương Nam ngoài phương Tây nó không chỉ có cái dở là cực đoan xóa bỏ truyền thống, mà đồng thời còn nhập truyền thống phương Tây vào. Chính vì thế trong quá khứ, khi xâm lược phương Tây luôn sử dụng Thiên chúa giáo như một hình thức xâm lược văn hóa. Đạo tin lành là nguyên nhân đầu tiên có tác động xóa bỏ văn hóa truyền thống trên Tây Nguyên.
2- Lý do thứ 2 đó là sự tan rã của một xã hội thị tộc truyền thống, mẫu hệ. Khởi điểm, người Ê đê sống trong những ngôi nhà dài, đai gia đình, nguồn nước được coi là chính danh của người đứng đầu cộng động nhà dài này. Hiện tại nhà dài không còn, cơ cấu sống kiểu nhà dài không còn, thì tất nhiên nhưng sinh hoạt văn hóa liên quan trực tiếp, có tác động linh thiêng gắn bó với nó cũng biến mất. Lý do thứ hai này có một phần liên quan tới lý do thứ nhất nói ở trên, nhưng nó còn có những cái đế rộng hơn về kinh tế, xã hội. Nói một cách khác, nếu giả dụ không có đạo tin lành, thì cấu trúc xã hội kiểu nhà dài này cũng sẽ biến mất, tan rã, nhưng có thề sinh hoạt truyền thống này sẽ được giữ lại với dạng khác. Như vậy sự tan rã của chế độ gia đình thị tộc cộng với một quan niệm linh thiềng mới ngoại lai đã xóa sổ hoàn toàn sinh hoạt văn hóa này.

Trong bài viết của mình, nhà văn Nguyên Ngọc đã mơ tưởng hóa văn hóa truyền thống để nói rằng nó « bảo vệ môi trường », nhưng ông hoàn toàn không thấy rằng làm gì còn văn hóa truyền thống, như ví dụ tôi dẫn ở trên. Để nhìn nó rõ ràng hơn, ta có thể so sánh với việc ở Đồng Bằng văn hóa truyền thống tồn tại thế nào, phải biến đổi ra sao.
Cũng tương tự như ở Tây Nguyên, ở dưới đồng bằng văn hóa truyền thống cũ cũng bị xóa bỏ. Điều này đã bắt đầu từ thời thực dân Pháp cai trị ở VN nhưng khác với Tây Nguyên (nói chung và tộc người Ê đê nói riêng), Pháp không thien chúa giáo hóa được toàn xã hội ở dưới đồng bằng. Như vậy những quan niệm linh thiêng vẫn còn, người ta chỉ mất cái cơ chế thể hiện. Một điều quan trọng hơn nữa, các tôn giáo VN vẫn tồn tại, và có chữ viết, có sách vở. Các cơ sở thờ tự : đền,đình, chùa, miếu, phủ .. vẫn tồn tại.
Ở trên Tây Nguyên, nếu vẫn lấy tiếp tục tộc người Ê đê như ví dụ, họ có chữ viết nhờ vào Thiển chúa giáo, muốn họ có chữ để đọc kinh thánh, có nghĩa là nó là một công cụ để xóa bỏ văn hóa truyền thống chứ không phải để bảo vệ. Các cơ sở tâm linh truyền thống như đền chùa không có, mà gắn liền với cấu trúc xã hội thị tộc cũng đã tan rã.
Hiện nay ở trong các làng xã đồng bằng, nhiều mặt của văn hóa truyền thống như lễ hội làng vẫn còn tổ chức được, vì đình còn đó, tư duy tâm linh vẫn còn đó. Cơ chế tổ chức lễ hội kiểu ngày xưa không còn (không còn tiên chỉ, ông từ..), nhưng lễ hội vẫn có thể tổ chức được, vì yếu tố tâm linh và công cụ văn hóa vẫn còn đó. Rồi chùa vẫn còn, sư vẫn còn, tập tục thờ cúng tổ tiên vẫn còn.
Mặc dù thế một hình thức tiếp cận tâm linh cá nhân hơn bắt đầu phát triển, điều này liên quan tới cuộc sống đô thị hóa. Sinh hoạt tâm linh không còn chỉ là sinh hoạt cộng đồng địa phương, mà còn có tính phổ cập theo nhu cầu ước vọng của cá nhân, xuất phát từ cuộc sống dịch vụ thương mại ở thành phố tạo ra. Ví dụ việc tìm hiểu tôn giáo (ví dụ Thiền) như một hình thức tu tập phát triển cá nhân, hay tham gia các hoạt động tôn giáo vì ước vọng cá nhân (ví dụ việc học sinh lên văn miếu cầu may trước khi thi chẳng hạn)
Văn hóa tâm linh ở dưới đồng bằng, trong hình thái mới được kết hợp với các hình thức giải trí, kỳ nghỉ lễ, trong khi theo truyền thống nó là những hoạt động văn hóa phần nhiều gắn với chu trình nông nghiệp (không phải nghẫu nhiên mà hội làng thường vào những thời kỳ nông nhàn, trước hoặc sau khi thu hoạch lúa).
Ở trên Tây Nguyên những nhu cầu mới này cũng có, vì cũng như ở dưới đồng bằng, nó cũng phát triển về hướng đô thị hóa, chỉ có điều cái đế để phát xuất không còn, và cái có, ví dụ nhà thờ thì lại là tụ điểm xóa bỏ văn hóa truyền thống của họ.
Văn hóa truyền thống được bảo vệ, phát triển thông qua các cơ chế nào, ta thấy nó có ba dạng :
1- Chính sách của nhà nước trong việc tôn vinh các nghi lễ dân tộc (ví dụ việc thờ cúng ở đền Hùng), hay các cơ chế quản lý (công nhận di tích văn hóa, tổ chức hiệp hội như các giáo hội tôn giáo,..)
2- Do xã hội tự tạo ra tự thích nghi (lễ hội đền Trần, Phủ Tây Hồ, ..)
3- Sinh hoạt văn hóa gắn liền với kinh doanh.
Hai điểm đầu người ta dễ nhận thấy, nhưng điểm thứ 3 thì là một điều mới, nên tôi sẽ nói thêm. Hiện tại trên thế giới có phong trào làm các bảo tàng, của nhà nước hay của tư nhân. Thậm chí, người ta còn có tiêu chí để đánh giá sự phát triển qua chỉ số bảo tàng trên đầu người để chứng tỏ sự phát triển văn hóa. Nếu bảo tàng nhà nước là chủ trương bảo vệ văn hóa của nhà nước, thì bảo tàng tư nhân lại là hội tụ của nhiều điểm khác, có thể kể ra đây :
1- Sự phát triển và tích lũy của tầng lớp người khá giả thông qua các sản phẩm nghệ thuật.
2- Một cách thức kinh doanh mà bảo tàng là một dạng « công cụ sản xuất ». Vai trò đơn giản nhất của nó ví dụ là tụ điểm kích thích du lịch
Trong thực tế, một bảo tàng hiện đại không chỉ là bảo tàng chứa các cổ vật theo chủ điểm, mà nó còn đóng vai trò « nhà văn hóa », « cung văn hóa » thông qua các sinh hoạt văn hóa của nó. Các sinh hoạt này có thể là triển lãm, là hội họp, là nơi tổ chức hồi phục lại các lễ hội truyền thống, thậm chí là lễ hội mới.
Ở VN cũng có hình thức này rồi, nếu phát triển nó lên thì nó sẽ thành một « vếc tơ », là cơ chế bảo tồn văn hóa truyền thống sinh động. Tôi kể ở đây hai ví dụ, ví dụ bảo tàng thuốc nam ở TP HCM. Bảo tàng này là bảo tàng tư nhân, nó vừa có một bộ sưu tập làm thuốc của người Việt, vừa là nơi .. bán sản phẩm thuốc nó làm ra. Ở Buôn Mê Thuật, có một bảo tàng cà phê, cũng là bảo tàng tư nhân và ngoài cà phê nó còn có các hoat động văn hóa bảo phủ các tập tục truyền thống vùng nay, được coi như « thủ phủ cà phê », ở Hà nội có trung tâm nặn gốm Bát Tràng, …
Trở lại với Tây Nguyên, do truyền thống văn hóa vùng này bị mai một rất nhanh chóng do không có những cơ chế truyền thống tồn tại từ trước hai hình thức 1 và 3 sẽ đóng vai trò quan trọng ở đây. Ví dụ các tính Tây nguyên có thể tổ chức các lễ hội truyền thống đâm trâu, thờ nguồn nước, thờ rừng, .. với sự tham gia của hệ thống hành chính địa phương. Bảo tàng với vai trò nhà văn hóa cũng có thể làm vai trò này. Chỉ bằng cách đó ta mới có thể bảo vệ được văn hóa truyền thống, cập nhật nó trong điều kiện mới.

@root,
Đúng rồi, vì Anh sau đại chiến hai đã tạo ra một đế chế ngân hàng đen thay thế vào đế chế thuộc địa cũ của nó đã tan rã. Việc đầu tư của nó không đáng sợ, nếu là đầu tư minh bạch công khai và vào các lĩnh vực sản xuất. Nó chỉ đáng sợ khi tài chính đen tạo ra tài chính đen ở VN, gắn với buôn lậu, thuốc phiện, hay tham nhũng trốn thuế.



--------------------
Tả Thiên Thanh



User is offlineProfile Card
Go to the top of the page
+
Phó Thường Nhân
post Jun 29 2023, 09:58 PM    
Đường dẫn tới bài viết này #14

Tả Thiên Thanh
Group Icon

Nhóm: Chánh tổng
Số bài viết: 7.025
Tham gia từ: 11-August 02
Thành viên thứ: 133

Tiền mặt hiện có : 49.018$
Số tuần chưa đóng thuế : 10

Bình chọn :



Tiếp đây tôi sẽ phân tích về các tác giả phương Tây (ở đây là Pháp) về Tây nguyên. Có ba tác giả hiện đại (các công trình của họ ra đời vào những năm 60) đó là George Condominas, với tác phẩm « chúng tôi đã ăn rừng » (« Et nous mangions la foret ») về người Mnong Gar (tức là một nhánh người Mnong), Jacques Dournes với người Gia rai, nghiên cứu về hình thái vua lửa/vua nước như là một hình thái nhà nước (tên tác phẩm tôi không nhớ chính xác), và nữ tác giả Anne de Hauteclocque-howe với tác phẩm « người Ê đê, một xã hội mẫu quyền » (« Les Rhadés : une société de droit maternel »)
Những tác phẩm này tôi đều có, và cũng đọc nó từ lâu, cũng giống như khi tôi viết ở đây, tùy theo hứng và câu chuyện thời sự làm tôi để ý, vì thế nó không phải là điều tôi đang tìm hiểu đang đọc mà chỉ là những nhận thức và kiến thức tôi đã có sẵn, còn nhớ lại khi đọc chúng. Để tham khảo trực tiếp, tôi chỉ lôi ra được cuốn về người Ê đê, còn hai cuốn kia thì tôi không có thời gian để lục lọi trong thư viện sách của mình, nên chỉ viết theo trí nhớ và nhận thức tổng kết khi đọc chúng.
Nghiên cứu về các tộc người ở VN bắt đầu từ khi Pháp cai trị VN như một chuyên môn, trước đó thời phong kiến vấn đề này được để lẫn trong lịch sử, trong các cuốn viết về địa dư địa chí. Chuyên môn này tiếp tục được phát triển ở miền Bắc VN sau năm 1954, còn ở miền Nam thời 1954-1975, không có các học giả chuyên môn về nó, cũng như họ chỉ xào xáo tổng hợp lại các sách Pháp đã viết, ví dụ như Toàn Ánh, khoa học xã hội ở miền Nam thời này vẫn là sự kế tục của văn hóa thuộc địa Pháp có từ trước.
Ở ngoài Bắc, các tác phẩm về các tộc người ở Tây Bắc, Việt Bắc rất thú vị, vì theo truyền thống Mác xít, họ nghiên cứu chúng từ nhận thức về hình thức sản xuất, kinh tế, dẫn tới cấu trúc xã hội, không kể họ là người VN, viết về người VN. Điều này khiến các tác phẩm về dân tộc học ở ngoài Bắc đặc sắc, ngược lại ở miền Nam, những người tiên phong vẫn tiếp tục là người Pháp, và vì thế vẫn theo nhận thức mục đích của họ.
Các học giả Pháp (3 người tôi nói ở trên) có thể coi là một thế hệ mới khác với thế hệ cũ của Pháp, vốn là các nhân viên của chính quyền thực dân, họ nghiên cứu các sắc tộc nhằm vào mục đích cai trị, ví dụ Sabatier, được coi là người « phát hiện » ra luật tục Ê đê. Ông này bản thân là công sứ Pháp ở Đắc lắc.Nếu Sabatier nói được tiếng Ê đê, vì có vợ là người sắc tộc này, thì thế hệ đầu của người Pháp thường không biết tiếng bản địa, thâm chí cả tiếng việt cũng không biết.
Vào những năm 60, có sự thay đổi về phương pháp nghiên cứu của Pháp, mà George Condominas là một trong những người khởi xướng. Nó có hai điểm đặc sắc, đó là họ coi trọng đi thực địa trong một thời gian tương đối dài (ít nhất hơn 1 năm), họ học tiếng sắc tộc họ nghiên cứu, và sử dụng trải nghiệm thực tế như một dạng case study. Cách tiếp xúc này giúp họ tìm hiểu sâu sắc hơn hiện trạng một địa điểm, kiểu điền dã, nhưng để khái quát nó lên thì hơi bị khó. Một điều nữa cũng nên để ý, là mục đích nghiên cứu của họ phụ thuộc vào sự quan tâm và phát triển của mẫu quốc, mà họ muốn tìm bằng chứng ở VN.
Vào những năm 60 ở Pháp, xuất hiện thuyết cấu trúc của Lewis Strauss, thuyết này muốn tìm hiểu các xã hội không có chữ viết, vậy trong trường hợp đó làm sao có thể viết lịch sử của họ, thuyết cấu trúc (structuralisme) lấy ví dụ từ ngôn ngữ học đã chỉ ra rằng một ngôn ngữ có từ vựng và ngữ pháp, thông qua từ vựng và ngữ pháp mà ta tạo ra các tác phẩm (văn học, lịch sử, triết học..) thông qua chữ viết. Nếu từ vựng có thể thay đổi, thì cấu trúc ngữ pháp không thay đổi mà « bất biến ». Như vậy nếu một xã hội không có chữ viết, thì tập tục của họ (như từ vựng) vẫn phụ thuộc vào một cái bất biến (giống như ngữ pháp), cái bất biến này Lewis Strauss coi là quan hệ gia đình, bộ tộc, cách thức cưới hỏi, ..vì ông ta nhận thấy, bất kỳ xã hội nào cũng không chấp nhận hình thức loạn luân (tức là anh em ruột có thể lấy lẫn nhau). Đây chính là điều bất biens của xã hội, và nó có ý nghĩa nhận thức, triết học. Người ta có thể sử dụng trong trường hợp này các nguyên tắc luật tục để tìm ra ý nghĩa triết lý của nó trong một xã hội không có chữ viết.
Như vậy việc quan tâm của dân tộc học Pháp vào thời gian này là tìm cách minh chứng lý thuyết trên, thông qua nghiên cứu thực địa. Ở VN, họ đã chọn người Ê đê, Gia rai, Mnong để nghiên cứu.
Lạc đề một chút. Tôi cũng rất thích thuyết cấu trúc, nhưng cảm nhận của nó với tôi lại khác. Khi bắt đầu tiếp xúc với thuyết này, tôi đang đặt câu hỏi cho mình là làm sao có thể rút ra các triết lý thông qua các huyền thoại, cổ tích truyền thống, ví dụ như bản mo Mường « đẻ đất đẻ nước », vì tôi nhận thấy Thiên chúa giáo thực ra chỉ là lịch sử của các bộ tộc Do thái được thăng hoa, trìu tượng hóa lên mà thôi. Điều đặc biệt nữa, triết học nhân văn phương Tây trong thực tế cũng là một dạng trình bầy kiểu khác Thiên chúa giáo. Như vậy, nếu họ trìu tượng được lịch sử huyền thoại của họ thành triết học, thì ta cũng có thể làm thế với các huyền thoại, truyện cổ tích VN. Điều khác biệt là ở VN ta đã có các tôn giáo tổng thể : đạo Nho, đạo Phật, Thần đạo (thờ Thành hoàng, thờ Thánh đạo Lão, đạo Mẫu, thờ tổ tiên), chủ nghĩa Mác Lê nin và những tôn giáo hay ý thức hệ này vừa đưa vào VN những khái niệm triết học mới, đồng thời nó cũng được hiểu bằng các khái niệm văn hóa truyền thống dân gian. Như vậy từ các thần thoại, ta có thể tìm ra những mô típ. Nhưng mô típ này chính là một dạng « từ vựng của quan niệm truyền thống », từ đó người ta sẽ tìm hiểu tiếp cận những cái mới nhập khẩu, hay cấu trúc nó lại thành cách truyền thống từ các mô típ này, giống như người ta dùng từ để làm văn làm thơ vậy. Như vậy nhận thức của người VN có cái đế lớn nhất là truyền thống dân gian, từ đó mà tới đạo Phật, đạo Phật tới đạo Nho, đạo Nho tới .. chủ nghĩa Mác. Nhưng mô típ của nó sẽ xuyên suốt lịch sử phát triển, và nó phải có những cái « khớp », tức là một nhận thức giao nhau giúp người ta chuyển giai đoạn. Ví dụ từ khái niệm Phật giáo chuyển sang Nho giáo, từ Nho giáo chuyển sang chủ nghĩa Mác. Phần phật giáo sang đạo Nho tôi đã đề cập tới trong chủ để Thiền Vạn Hạnh, còn từ đạo Nho sang chủ nghĩa Mác, tôi đã đề cập tới trong chủ đề nói về bác Trần Đức Thảo. Tất nhiên quan hệ của các giai đoạn này đan xen nhau, và có cả tác động ngược trong một quan hệ biện chứng, vì dụ đạo Nho cũng ảnh hưởng ngược trở lại nhận thức phật giáo, cùng như chủ nghĩa Mác sẽ soi sáng lại đạo Nho. Ví dụ, nhờ phép biện chứng lịch sử, người ta có thể thấy rằng sự phát triển của đạo Nho từ các nhận thức và thực hành Sa man giáo (mà hình thức còn lại ở VN là lên đồng) như thế nào. Còn cấu trúc với tôi, thì chính là cấu trúc xã hội, mà cách phân tích xã hội thành giai cấp là một kiểu nhận thức cấu trúc. Chỉ có điều xã hội có thể có nhiều chuẩn để phân định xã hội thành các cấu trúc khác nhau, và chúng đan xen nhau. Ví dụ cấu trúc giai cấp đan xen với cấu trúc đại gia đình tứ đại đồng đường. Hình thái giai cấp có thể đa dạng :tư sản mại bản, tư sản dân tộc, tiểu tư sản, trí thức, công nhân có chuyên môn, công nhân lao động đơn giản, lao động cho nước ngoài, lao động trong nước, … Vấn đề thú vị là tìm trong các cấu trúc đan xen này, cái gì có tác động lớn nhất, hay quan hệ của chúng ra sao. Với chủ nghĩa Mác nguyên thủy thì đó là đấu tranh giai cấp tư bản/công nhân là động lực thay đổi. Nhưng đây chỉ là một mô hình kín, khi cái cấu trúc xã hội không chịu tác động của bên ngoài : chiến tranh, xâm lược thuộc địa, chế độ thực dân mới, chế độ thực dân cũ, ảnh hưởng mềm, trao đổi kinh tế, ..v..v..
Tôi đã sử dụng thuyết cấu trúc để làm giầu thêm mô hình của chủ nghĩa Mác, mà với tôi nó hơi đơn giản đặc biệt chủ nghĩa Mác nguyên thủy, chỉ là một bộ phận thô sơ. Ngược lại, quan niệm của tôi với thuyết cấu trúc cũng thay đổi, tôi quan niệm cả cấu trúc lẫn từ vựng (cấu trúc xã hội, mô típ nhận thức nhân văn) đều thay đổi theo không gian và thời gian, tức là chúng có lịch sử.Nói một cách khác tôi cũng đã dùng chủ nghĩa Mác-Lê nin, biện chứng lịch sử để làm giầu thêm cho nhận thức cấu trúc của mình.
Khi tôi lạc đề ở đây không phải để khoe, mà là một dẫn chứng trải nghiệm để nói lên rằng, khi tiếp xúc với một nhận thức (ở trong chủ đề này là dân tộc học), được 3 tác giả Pháp trình bầy ở trên, điều quan trọng là phải biết mục đích của họ làm gì, cách nhìn của họ thế nào, họ nghiên cứu trong hoàn cảnh nào, từ đó « định giá » chính xác nhận thức của họ đưa ra, từ nhận thức này ta mới rút ra được là cái gì học được, cái gì không, tại sao.
Với những gì họ viết ra, tường thuật lại, trong cả ba nghiên cứu, điều họ muốn với tới là những cấu trúc xã hội cổ của các tộc người này, nhưng họ không đề cập tới chúng biến đổi ra sao mặc dù họ nhận thức được điều ấy, nhưng bỏ qua. Ví dụ, vì tôi có quyển sách về người Ê đê trước mặt nên tôi sẽ lấy ví dụ ở đây. Trong lời giới thiệu George Condominas ông đã nói rằng rất thán phục tác giả đã ở điền dã hơn một năm trong một buôn làng người Ê đêg, trong khi quân Mỹ, và chính quyền Sài gon đóng ở Buôn Mê Thuật cách đó hơn 20 km không dám bén mảng tới. Như vậy họ thấy rõ rằng không gian nghiên cứu của họ đang có chiến tranh, có tác động của nó. Nhưng tác giả không bao giờ đề cập tới. Trong phần nhận thức tổng quan, tác giả cũng nói rằng luôn có liên hệ giữa đồng bằng và cao nguyên, trong đó trao đổi muối, cồng chiêng là những vật dụng quan trọng, bà cũng nhận thấy là việc hình thành các đô thị, ở đây là Buôn Mê Thuật đã làm cho trao đổi hàng hóa thuận tiện hơn, và bắt đầu có vấn đề đô thị hóa. Nhưng điều này bà cũng không tìm hiểu. Và tất nhiên, bà không nói tới vấn đề truyền đạo, hiện diện và tác động của quân đội Mỹ..
Nói một cách khác, các tác phẩm trên, là những tác phẩm về dân tộc học, trong khi muốn nhận thức đầy đủ về Tây Nguyên ta phải có nhận thức xã hội học. Hơn thế nữa, những nhà dân tộc học Pháp ỏ trên theo đuổi một mục đích đó là làm lộ ra « cấu trúc xã hội bất biến thông qua quan hệ dòng tộc gia đình », nên nó còn hạn chế hơn nữa.
Nếu không đặt đúng vị trí của nó, đọc các cuốn sách này ta sẽ có cảm tưởng một dạng xã hội bất biến, không thay đổi, tôi gọi là « đóng băng » trong khi nó đang thay đổi trước mắt.



--------------------
Tả Thiên Thanh



User is offlineProfile Card
Go to the top of the page
+
Phó Thường Nhân
post Jul 5 2023, 05:30 AM    
Đường dẫn tới bài viết này #15

Tả Thiên Thanh
Group Icon

Nhóm: Chánh tổng
Số bài viết: 7.025
Tham gia từ: 11-August 02
Thành viên thứ: 133

Tiền mặt hiện có : 49.018$
Số tuần chưa đóng thuế : 10

Bình chọn :



Tại sao tôi lại viết về các nhà dân tộc học trên của Pháp, bời vì bác Ngọc có dịch một cuốn sách của họ và được khen là dịch hay, và cũng bởi vì như nhiều trí thức Vn khác, sau thời bao cấp người ta quay trở lại với các kiến thức thời thuộc Pháp, đặc biệt là các trí thức Pháp học cũ. Họ đã tìm được ở đây những ý tưởng để phản biện cho sự phát triển ở VN hiện đại, nhưng họ không có cái nhìn phân tích để đặt đúng ví trí của nó, mà lại coi nó như một thứ « chân lý mới » bám vào. Với tôi, các tác phẩm của các nhà dân tộc học Pháp chỉ có thể sử dụng như tư liệu để hiểu vào thời điểm họ viết so với với hiện tại sự thay đổi ra sao. Trong nhưng điều họ viết có gì còn đúng có gì không như vậy nữa, và đặc biệt họ quan tâm tới cái gì, cách tiếp cận ra sao, định kiến của họ là gì, từ đó tác động tới nội dung nhận thức ra sao. Trong khoa học xã hội, vị trí của người viết, hoàn cảnh, phương pháp, ý muốn của họ rất quan trọng, và có tác động rất lớn tới nhận thức được đưa ra, nó không phải là khách quan cứng như khoa học tự nhiên. Tại sao lại thế bởi khoa học xã hội nghiên cứu về con người, xã hội loài người từ con người. Nếu gọi người nghiên cứu là chủ quan, đối tượng nghiên cứu là khách quan, thì trong khoa học xã hội khách quan cũng là chủ quan (có nghĩa là chủ quan nghiên cứu chủ quan), vì thế vị trí người viết cực kỳ quan trọng, vì chủ quan khác nhau. Ví dụ, khi tôi nghiên cứu người việt thì là người Việt nghiên cứu người Việt, nếu tôi nghiên cứu người Pháp thì là người Việt nghiên cứu người Pháp. Nếu người Pháp nghiên cứu người Việt thì nó cũng sẽ khác với người Pháp nghiên cứu người Pháp.
Vào thời điểm các tác giả trên nghiên cứu về Tây Nguyên, theo cái phương pháp « bất biến, đóng băng » thì về mặt chính trị, đây là thời kỳ De Gaule làm tổng thống Pháp, Pháp cũng có ý định quấy đảo một phương trời riêng chống Mỹ, mà một trong nhưng việc làm là muốn quay trở lại gây ảnh hưởng ở miền Nam, lúc đó đã được Mỹ quản lý. Để làm điều này, Pháp đã giật dây tạo ra FULRO, cũng như tìm cách liên lạc với một số tướng tá Sài gòn sau đảo chính Diệm (1963) như Nguyễn Khánh, Minh Lớn, .. Không hẹn mà nên các tác phẩm nghiên cứu dân tộc học kiểu cấu trúc này, làm cho người ta có cảm tưởng Tây nguyên là một vùng cách biệt, như một nước, từ đó tìm cách chia ra phân biệt người Kinh, với các sắc tộc Tây Nguyên, trong khi về mặt thực tế lịch sử vùng Tây Nguyên luôn có quan hệ với đồng bằng miền Trung trong một hệ thống kinh tế từ thời phong kiến. Về mặt dân số, trên cao nguyên luôn có người Kinh, và người Kinh đã là đa số. Nếu FULRO vào những năm 60 là con đẻ của Pháp, thì FULRO hiện tại lại là hệ quả còn lại của cuộc chiến tranh mà Mỹ tiến hành ở VN, vì nó thể hiện qua việc lợi dụng đạo tin lành truyền vào đây từ thời kỳ đó, cũng như nó sử dụng Mỹ làm căn cứ. Mặc dù là hai thể loại FULRO khác nhau, chúng đều có chung một lô gic đó là ly khai. Với kiểu Pháp cũ thì là có gắng vặn vẹo để chứng tỏ có một Tây Nguyên ngàn đời không đổi cách biệt với đồng bằng, còn với kiểu Mỹ, thì là dựa trên phương pháp truyền đạo Thiên chúa, trong đó việc coi nghe theo lời chúa (mà ở đây là người truyền đạo, ý định của họ chứ ai biết chúa nói thế nào) vượt trên tất cả mọi luật lệ khác, ngay cả luật pháp nhà nước. Nếu vi phạm, bị trừng trị thì nó sẽ lăn ra ăn vạ nói là đàn áp tôn giáo, rồi từ đó kêu gọi nước ngoài (chủ yếu là phương Tây) can thiệp. Lô gic này giống y chang lô gic thực dân Pháp xâm lược Vn thời nhà Nguyễn. Như vậy nếu coi các nhận thức xã hội của phương Tây (ví dụ là Pháp) về VN, không có một cái nhìn phê phán phân tích để lọc ra phần mình dùng được, coi nó như một thứ chân lý mới thay thế chân lý cũ (chủ nghĩa Mác Lê nin đối với các bác cách mạng cũ) thì có nghĩa là ôm bệnh vào người mà không biết.


--------------------
Tả Thiên Thanh



User is offlineProfile Card
Go to the top of the page
+
Phó Thường Nhân
post Jul 14 2023, 05:09 AM    
Đường dẫn tới bài viết này #16

Tả Thiên Thanh
Group Icon

Nhóm: Chánh tổng
Số bài viết: 7.025
Tham gia từ: 11-August 02
Thành viên thứ: 133

Tiền mặt hiện có : 49.018$
Số tuần chưa đóng thuế : 10

Bình chọn :



Trong chủ đề này tôi đã so sánh sự thay đổi ở dưới đồng bằng và Tây nguyên (nếu lấy các vùng khác nữa như Tây Bắc, Việt Bắc thì cũng thế) để chứng minh rằng từ đầu thế kỷ XX tới nay đã có sự thay đổi rất lớn về cấu trúc xã hội do tác động của tăng trưởng dân số, do đô thị hóa, do sự dịch chuyển của nông nghiệp sang công nghiệp dịch vụ. Quá trình này bắt đầu từ thời thực dân Pháp qua thời gian chiến tranh kháng chiến, rồi tới thời hòa bình thống nhất như ngày nay. Đặc biệt từ sau năm 1975 thì sự thay đổi này càng lớn và tốc độ càng nhanh hơn. Truyền thống xã hội, cấu trúc gia đình, làng xã, bản mường .. vì thế cũng thay đổi theo. Chính vì thế, người ta không thể đóng băng xã hội lại, và sự đóng băng ấy không những không thể giữ được truyền thống mà còn làm cho xã hội cùng khổ nhanh hơn, mất truyền thống nhanh hơn.
Cũng nên để ý là ý tưởng bảo vệ môi trường thông qua một xã hội truyền thống không thể tồn tại được. Hiện tại trên thế giới có hai ví dụ về việc này đó là khủng hoảng ở Sri Lanka gần đây và tình trạng nông nghiệp ở Bắc Triều Tiên. Ở Sri Lanka do khủng hoảng bởi bẫy nợ, nhà nước này không còn tiền để nhập khẩu phân bón hóa học, nên đã áp dụng hình thức « phân xanh » triệt để, kết quả dẫn đến thất bát mùa màng càng khiến khủng hoảng kinh tế trầm trọng hơn. Ở Bắc Triều Tiên, do bị cấm vận, họ cũng sử dụng ít phân hóa học, khiến cho sản lượng nông nghiệp không đủ để tự túc lương thực dẫn đến tình trạng « nằm trên miệng hố của nạn đói » liên tục kéo dài.
Chính vì thế không có con đường nào khác là đô thị hóa, công nghiệp hóa, sử dụng hợp lý (tức là công nghệ nào hiệu quả) công nghệ xanh với công nghệ cổ điển để phát triển. Phải cẩn thận công nghệ xanh, nếu nó không hiệu quả thì sẽ tạo ra nợ xấu. Tương tự như vậy, bảo vệ môi trường cũng phải có cửa để người ta sống được, chứ không phải bảo vệ để chết đói.
Đối với người Việt không phải là sắc tộc Kinh, thì điều cực kỳ quan trọng là giáo dục phổ thông không những để học sinh có kiến thức văn hóa khoa học mà còn để họ có thể sử dụng tốt tiếng Việt. Vì có sử dụng tốt tiếng Việt thì họ mới có cơ hội kiếm việc làm, và có thể đi tới bất cứ nơi nào trên tòa lãnh thổ VN để sinh sống lập nghiệp. Chính sách ưu tiên về mặt xã hội với các học sinh thiểu số là điểm sáng của chính sách xã hội ở VN mà ngay ở phương Tây cũng chưa chắc có.
Về mặt văn hóa truyền thống đừng nghĩ rằng văn hóa truyền thống của một sắc tộc là một thứ đặc trưng định hình họ, mà phải coi đó là di sản văn hóa,truyền thống văn hóa của toàn dân tộc VN. Hiện nay, để giúp cho những truyền thống đó không bị mai một, thì phải bảo vệ chúng, thông qua các cơ chế hiện đại như từ đó tạo ra các sản phẩm kinh tế văn hóa (lễ hội, sản vật địa phương, công cụ du lịch) để bảo tồn và phát triển.
Gần đây, trong chuyến đi làm việc nước ngoài, vợ của thủ tướng Phạm Minh Chính không mặc áo dài truyền thống mà mặc váy áo thổ cẩm, đó cũng là một điều hay để người ta có thể thấy được, nhận thức được sự đa dạng và phong phú của truyền thống văn hóa VN, nó không chỉ bo bo với truyền thống người Kinh mà là truyền thống của cả nước. Chỉ đáng tiếc là bộ váy áo được chế tạo vụng về nên không được đẹp.
Điều đặc biệt thú vị với tôi, là người quan tâm tới tìm hiểu truyền thống văn hóa, là ở VN dù sắc tộc đa dạng nhưng gốc cấu trúc gia đình và quan niệm tâm linh rất thống nhất. Ví dụ, khi tôi đọc trường ca Đam San (vì tôi không có cơ hội được nghe hát kể chuyện), tôi không thể không liên tưởng Đam San và hai người vợ là hai chị em H’Bi, H’Nhi có cái gì đó như Thi Sách, Trưng Trắc, Trưng Nhị. Sự gần gũi này phải chăng cấu trúc gia đình thời cổ đại là giống nhau. Sự tích thanh kiếm thần khi được tôi từ sắt ra thép, thì đã hút máu vào như một dạng thần linh trong sự tích dẫn tới Vua Lửa, Vua nước không khỏi khiến tôi nghĩ tới cây kiếm giữ nước của rùa vàng Hồ gươm. Quan niệm về Giàng thực ra giống với quan niệm ông Trời của người Kinh, trước khi nó được các giáo sĩ truyền đạo biến đổi méo mó thành một dạng ông Chúa xa lạ tạo ra vũ trụ của Thiên chúa giáo. Hiện tại tôi cũng không chắc là khi người Ê đê thờ chúa, thì chưa chắc họ đã cảm nhận ông chúa như trong thiên chúa,.. v..v..
Chính vì thế bảo vệ truyền thống của bất cứ sắc tộc nào cũng sẽ giúp ta hiểu rộng hơn truyền thống văn hóa của người Việt Nam, vì thực ra chúng liên kết với nhau, bổ trợ cho nhau giúp ta hiểu truyền thống văn hóa VN sâu sắc hơn.



--------------------
Tả Thiên Thanh



User is offlineProfile Card
Go to the top of the page
+
Phó Thường Nhân
post Jul 15 2023, 08:08 PM    
Đường dẫn tới bài viết này #17

Tả Thiên Thanh
Group Icon

Nhóm: Chánh tổng
Số bài viết: 7.025
Tham gia từ: 11-August 02
Thành viên thứ: 133

Tiền mặt hiện có : 49.018$
Số tuần chưa đóng thuế : 10

Bình chọn :



Nói tới Tây Nguyên thì tất nhiên ta không thể không nói tới vấn đề chính trị, đặc biệt lại vừa mới xẩy ra vụ việc ở Đắc Lắc, và từ đó tất nhiên phải nói tới FULRO. Theo phân tích của tôi, và thông tin tôi có, khi nghiên cứu lịch sử văn hóa, thì FULRO là sản phẩm của Pháp tạo ra vào thời De Gaule nắm quyền ở Pháp (1958-1969) do muốn quay trở lại Đông Dương và cạnh tranh với Mỹ, lúc đó đã thay chân Pháp nắm cổ chính quyền Ngô Đình Diệm trong Nam sau năm 1954, vì thế mới có cái tên FULRO viết theo tiếng Pháp. Nhưng trên báo VN khi nhắc tới FULRO nhân vụ việc vừa xẩy ra, thì có nói tới việc thành lập FULRO này là do sự đối sử bất bình đẳng và chính sách của chính quyền miền Nam lúc đó. Trong báo VN cũng nói rất rõ là Mỹ đã dần nắm tổ chức này như thế nào, khi ngăn cản chính quyền Sài gòn tiêu diệt lực lượng này. Báo cũng nói tới việc FULRO hoạt động trở lại vào thời điểm 1982-1985, rồi việc tàn dư của nó được Mỹ cho nhập cư, khi hiệp định hòa bình trở lại Cam pu chia năm 1992 do trước đó lực lượng này nằm ở phần đất mà lực lực lượng Khơ me đỏ của Pôn pốt nắm giữ, nằm trên biên giới Thái Lan – Cam pu chia.
Thực ra hai điều này không trái ngược nhau mà bổ xung cho nhau. Chính quyền miền Nam sau năm 1954 đã xóa bỏ « hoàng triều cương thổ », mà Pháp lập ra ở Tây Nguyên, đồng thời tiến hành chính sách truyền đạo Thiên chúa cơ đốc giáo ở đây, cũng như không còn việc ngăn cấm việc di dân tự do từ đồng bằng lên, từ đó mà có mâu thuẫn trên Tây Nguyên, tạo ra điều kiện hoàn cảnh để « thành lập FULRO », còn FULRO ra đời được là có sự trợ giúp của Pháp.
Với thông tin của báo VN tôi nói ở trên, ta có thể chia quá trình phát triển của FULRO này thành 3 thời kỳ.
1- Thời kỳ 1964-1975 là thời kỳ FULRO lịch sử có sự đỡ đầu của Pháp đầu tiên, sau tới Mỹ. Nhưng tác động của Pháp dừng lại vào năm 1969, và mất hẳn từ 1975
2- Thời 1975-1992. Đây là thời kỳ FULRO được tạo lập bởi tàn quân địa phương được Mỹ tổ chức vào thời kỳ trước, và nó hoạt động manh hơn vào thời kỳ 1982-1985, điểm nổi bật của nó là kết hợp với tàn quân Pôn Pốt và có gắn kết với các tàn dư của chế độ Sài gòn cũ có trụ sở ở Mỹ.
3- Thời hiện tại thông qua các sự lừa bịp tôn giáo và khủng bố, dựa vào chính sách « tự do tôn giáo » của Mỹ trong hoàn cảnh kinh tế thị trường có xung đột trong quan lý đất đai.
Tại sao tôi lại nói thời kỳ đầu có bàn tay của Pháp, đó là ngoài việc tổ chức này có tên Pháp, nó còn có một điều kỳ lạ nữa là tổ chức này có 3 loại FULRO tập hợp lại : FULRO nhằm vào người Khơ me ở Nam bộ, FULRO nhằm vào người Chàm ở Nam Trung bộ, và FULRO trên Tây Nguyên. Nếu từ thời chính quyền miên Nam, có những mâu thuẫn địa phương về sắc tộc trên Tây Nguyên, thì nó hoàn toàn không có ở Nam Trung bộ với người Chàm và Tây Nam bộ với người Khơ me, vậy tại sao FULRO này lại có tới 3 nhánh, trong đó có 2 nhánh ở vùng không có vấn đề. Đó là bởi vì, từ thời Pháp xâm lược họ đã cố gắng dựng lên phân biệt sắc tộc giữa người Chàm và người Khơ Me với người Kinh. Lịch sử VN được dàn dựng như một sự xâm lược vào Nam, đồng thời chống xâm lược với TQ. Câu chuyện được dàn dựng để giữa các tộc người này trở thành « mối thù truyền kiếp » của nhau, Pháp sẽ trở thành người bảo vệ VN chống TQ, đồng thời bảo vệ người Chàm, người Khơ me chống VN. Ai cũng cần tới Pháp cả, từ đó mà Pháp khẳng định sự thống trị, FULRO có ba nhánh có lẽ là sự tiếp tực tư duy này của Pháp thời thuộc địa. Một điều nữa, đó là FULRO có trụ sở ở Cam Pu chia thời Si ha núc. Nông pênh địa chỉ ngoại giao quốc tế của FULRO. Điều này có được vì Pháp thời De Gaule có ảnh hưởng lớn ở nước này, trước khi có đảo chính của Xi rích ma tắc lật đổ Xi ha núc. Bài báo có nói việc FULRO ký thỏa thuận với chính quyền Thiệu vào năm 1969. Điều đặc biệt là vào năm 1969, chính quyền De Gaule đổ ở Pháp, và chính quyền Pháp tiếp theo không thi hành chính sách chống Mỹ nữa, vì thế Pháp có thể (gần như chắc chắn) không còn tiếp tục chi trả cho FULRO ba nhánh . Sau đó có đảo chính ở Cam pu chia (1970) và chính quyền Xi rích ma tắc cũng không còn gắn bó với Pháp, mà bám theo Mỹ. Mặc dù vậy, lúc Khơ me đỏ vào Phơ nôm pênh, thì Xi tích ma tắc lại chạy vào sứ quán Pháp xin tá túc, trước khi bị Khơ me đỏ bắt ra và bắn chết.Điều kiện ngoại cảnh ở Pháp và Cam pu chia đã chấm dứt sự ủng hộ ngấm ngầm của Pháp ở Đông Dương với FULRO
Còn tại sao thời kỳ này lại kết thúc vào năm 1975, bởi khi quân Khơ me đỏ vào Phơ nôm pênh, thì nó vác ngay nhân sự của văn phòng FULRO còn sót lại đem ra xử bắn, kết thúc version FULRO đầu tiên này.
Nên để ý là Mỹ chỉ có để ý tới FULRO trên Tây Nguyên, chủ yếu nhằm tạo ra các lực lượng vũ trang địa phương chống cách mạng, đồng thời đây cũng là nơi Mỹ truyền đạo. Hai điều này gắn kết với nhau. Điều Mỹ làm ở Tây Nguyên giống như Mỹ làm ở Lào với việc sử dụng người H’Mông và Vàng Pao
Vào thời kỳ thứ 2 (1975-1992), thì lực lượng chủ chốt của FULRO là tàn quân sắc tộc mà Mỹ để lại ở đây. Nói tới tàn quân, không có nghĩa là lực lượng này chui ngay vào rừng từ năm 1975, mà những người này có thể về sinh sống tại bản làng địa phương, rồi trốn vào rừng về sau. Cuộc chiến ở Cam Pu chia cũng khiến cho FULRO có thể bám vào các vùng đất mà tàn quân Pôn Pốt còn kiểm soát dọc theo biên giới Cam pu chia – Thái lan để tồn tại. Điểm đặc biệt nhất có lẽ là sự móc nối giữa lề trái miền Nam cũ, di cư sang Mỹ, Úc với nhóm FULRO này nhằm ý định « lập căn cứ » ở Tây Nguyên, như nhóm Võ Đại Tôn vào thập nhiên 80.
Thời kỳ này kết thúc vào năm 1992, khi hiệp định hòa bình được ký ở Cam pu chia, khiến FULRO không còn có thể tá túc ở những vùng Khơ Me đổ Pôn pốt nữa, bởi vì lực lượng này cũng bị giải tán.
Thời kỳ thứ 3, tức là hiện nay, FULRO dựa chủ yếu vào tôn giáo, bằng cách lợi dụng tính nhất thần giáo của đạo tin lành như một dạng tuyên truyền tâm lý ly khai, đồng thời tiến hành các hành động khủng bố như vụ việc trên Đắc Lắc vừa qua. Hoạt động này có được bởi chủ trương sử dụng tự do tôn giáo để can thiệp của Mỹ trên thế giới, đồng với việc Mỹ là căn cứ tổ chức hoạt động của các nhóm lề trái, bất chấp Mỹ nói rằng muốn có một VN hùng mạnh và là đối tác chiến lược. Vì thế nếu VN có « tầu lạ » xâm phạm vùng đặc quyền kinh tế biển, thì cũng có « các thế lực phản động âm mưu lật đổ ».
Điều đặc biệt đó là trong giai đoạn 3 này, vấn đề chiếm cứ đất đai bất hợp pháp có thể được sử dụng như một đầu mối để bùng nổ các mâu thuẫn địa phương.
Như vậy ta có thể thấy là cùng có tên FULRO, nhưng chúng không phải là một, và là hệ quả xã hội tồn đọng lại từ trước do Pháp, Mỹ và một phần chính quyền Sài gòn cũ thời Diệm tạo ra.
Hiện tại FULRO hoàn toàn không có cửa để có thể đảo ngược tình hình, do sự phát triển của Tây Nguyên sao năm 1975. Thế trận an ninh này có được chính là do chính sách phát triển Tây nguyên thành công, vì thế FULRO chỉ có thể bị đẩy lùi chứ không thể phát triển được. Điều nguy hại của nó, không phải tự nó tạo ra được, mà là mưu đồ của các nước chứa chấp nó có thể lấy đó làm cớ để kiếm chuyện, tạo ra một dạng bảo vệ thị trường hay gây sức ép về chính trị với VN.
Với sự vụ ở Đắc Lắc, đại sứ Mỹ ở VN, theo như báo VN đưa tin đã tuyên bố không ủng hộ những hành động khủng bố, đó là điều tốt, góp phần tăng cường quan hệ hữu nghị hợp tác VN-Mỹ, nhưng phải xem Mỹ thực hiện nó thế nào, hay chỉ là lời nói miệng còn vẫn ngấm ngầm ủng hộ, bao che cho « các thế lực phản động ».
Để kết luận chủ đề này, tôi có thể tóm tắt thế này. Muốn cho Tây nguyên phát triển và đồng thời bảo vệ được truyền thống văn hóa thì ta chỉ có một cách là công nghiệp hóa, đô thị hóa, hiện đại hóa. Trong quá trình này ta phải áp dụng khoa học kỹ thuật, vì thế cách bảo vệ môi trường mà ta có thể học hỏi kinh nghiệm là Nhật bản (ví dụ như vậy), chứ không thể là Butan.
Trong quá trình phát triển, phải bảo vệ văn hóa truyền thống trên tinh thần chúng là gia sản của tất cả mọi người VN, không gắn bó sự bảo vệ này như một cách định hình phân biệt sắc tộc, mà phải gắn bó nó trong một cơ chế văn hóa kinh tế thị trường(dùng văn hóa tạo sản phẩm văn hóa trên toàn quốc).
Phải hiểu rằng, nhận thức rằng tất cả chúng ta là người Việt nam, để tạo ra cơ hội bình đẳng phát triển cho mỗi người, thì đối với đồng bào không phải là người Kinh, phải có chính sách ưu tiên giáo dục, ngoài kiến thức khoa học, còn có cả việc giảng dậy tiếng Việt, để họ có thể có cơ hội sinh sống ở bất kỳ đâu trên đất nước Việt nam. Trong tất cả các chính sách xã hội, thì chính sách giáo dục là hay nhất tiếp đó mới tới các chính sách trợ giúp xã hội về lương thực thực phẩm hay tiền trợ cấp xã hội. Tại sao lại thế ? bởi ta có thể nhìn ngay vào những nước tư bản phát triển, các chính sách phân biệt tạo ra vùng ở riêng cho một nhóm người, đồng thời với chính sách trợ cấp, chỉ khiến nhóm người này càng ngày càng bị đẩy vào tình thế cùng quẫn, với các tệ nạn như nghiện rượu, ma túy, thất nghiệp và từ đó dẫn tới một xã hội bạo lực hơn. Không kể nhà nước VN cũng không có nguồn lực lớn để có một chính sách trợ cấp hiệu quả.Họ giầu hơn ta nhiều mà còn không làm được, thì không nên đi theo vết xe đổ đó. Điều quan trọng là tạo ra các nhận thức văn hóa chung (kiến thức, tiếng nói phổ thông)để phát triển bình đẳng, chứ không phải là một chính sách trợ cấp (dù lớn tới đâu) trong một xã hội phân biệt đối sử.



--------------------
Tả Thiên Thanh



User is offlineProfile Card
Go to the top of the page
+
Phó Thường Nhân
post Jul 16 2023, 06:16 AM    
Đường dẫn tới bài viết này #18

Tả Thiên Thanh
Group Icon

Nhóm: Chánh tổng
Số bài viết: 7.025
Tham gia từ: 11-August 02
Thành viên thứ: 133

Tiền mặt hiện có : 49.018$
Số tuần chưa đóng thuế : 10

Bình chọn :



Mười bảy năm (1975-1992), dưới sự quan tâm chỉ đạo sát sao của Đảng, Nhà nước, với sự quyết tâm và kiên trì chiến đấu, vượt qua nhiều khó khăn, gian khổ, hy sinh, lực lượng công an, quân đội Việt Nam cùng nhân dân các tỉnh Tây Nguyên và các tỉnh phụ cận đã đấu tranh làm tan rã hoàn toàn tổ chức, lực lượng Fulro.
Ta đã loại khỏi vòng chiến đấu 15.000 lượt Fulro ở ngoài rừng; bóc gỡ hàng trăm khung chính quyền ngầm cùng 62.500 cơ sở của Fulro trong buôn ấp; thu 2.712 vũ khí các loại. Lần đầu tiên, vấn đề Fulro được giải quyết triệt để. Fulro không còn tồn tại với tư cách là một tổ chức, lực lượng chính trị phản động, đe dọa trực tiếp tới an ninh quốc gia ở địa bàn chiến lược Tây Nguyên và vùng dân tộc Chăm…

Trên đây là trích đoạn tổng kết của loạt bài báo được đăng trên báo VN hiện tại về FULRO thời kỳ 1975-1992. Đáng chú ý là các số liệu. Thời gian 1975-1992 cũng trùng với giai đoạn chiến tranh biên giới và chiến tranh tiêu diệt Khơ me đỏ ở Cam pu chia.
Vì thế ta có thể coi cuộc chiến tiêu diệt FULRO này như một bộ phận của một cuộc chiến tổng hợp bao gồm chiến trường Cam pu chia, Tây Nguyên, biên giới phía Bắc và cả ở Lào. Lực lượng FULRO có hậu phương ở các vùng kiểm soát của tàn quân Pôn Pốt sau năm 1979 cho tới tận năm 1992. Tàn quân Pôn pốt cộng với các lực lượng của Son San, được Mỹ và TQ ủng hộ. Như vậy vấn đề Tây Nguyên gắn bó với một quan hệ tổng quan chung về an ninh trong đó bao gồm cả Cam pu chia và Hạ lào.
Với những số liệu nói trên, tình hình như trên mà nhà văn Nguyên Ngọc chỉ nhìn nhận sự việc ở Tây Nguyên như một vấn đề di dân, phá rừng sau năm 1975 thì không hiểu ông ngây thơ thật hay ngây thơ giả. Nó cũng cho người ta thấy, tại sao khi sự việc ở Đắc lắc vừa qua xẩy ra, thì lề trái trên mạng lập tức vui mừng.
Tóm lại, nếu người ta xem xét sự việc một cách khách quan, toàn diện, sử lý thông tin dựa trên hệ quy chiếu VN, thì sẽ thấy rằng việc phát triển Tây Nguyên sau năm 1975 là đúng đắn, điều cần thiết là cập nhật nó cho hợp với tình hình mới, trong đó việc quản lý đất đai chính xác rành mạch, và việc chống lại sự lợi dụng tôn giáo, lợi dụng quan niệm bảo vệ môi trường để lừa gạt là điều quan trọng.



--------------------
Tả Thiên Thanh



User is offlineProfile Card
Go to the top of the page
+
Phó Thường Nhân
post Jul 27 2023, 07:21 PM    
Đường dẫn tới bài viết này #19

Tả Thiên Thanh
Group Icon

Nhóm: Chánh tổng
Số bài viết: 7.025
Tham gia từ: 11-August 02
Thành viên thứ: 133

Tiền mặt hiện có : 49.018$
Số tuần chưa đóng thuế : 10

Bình chọn :



Trên báo VN cách đây ít lâu có một chuỗi bài của ông Văn Công Hùng về huyền bí tượng nhà mồ Tây Nguyên. Những bài này có thể coi là tư liệu điền dã gần đây nhất về vấn đề văn hóa ở Tây Nguyên, đặc biệt khi tác giả làm trong nghành văn hóa ở đây.
Trong loạt bài này tôi rút ra được vài ý. Tập hợp dưới đây.
1- Ở Tây nguyên truyền thống tượng nhà mồ chỉ để ở nơi chôn cất, không phải là tượng dùng trong thôn xã. Nói chính xác hơn nó là tượng dành cho « thế giới âm ». Các khu rừng có mồ mả sẽ bị bỏ hoang sau khi lễ bỏ mả được tổ chức (khoảng 3 năm sau khi mất).
2- Lễ bỏ mả (Pathi) được tổ chức tùy theo sự giầu có của dòng họ. Và một trong những điều nguy hiểm đó là vấn đề vệ sinh dịch tế. Có trường hợp cả làng tham dự dẫn tới cả làng mắc dịch tả, và bản thân tác giả cũng đã bị một lần như vậy.
3- Hiện tại đã có hình thức chôn cất như người Kinh, và không có hiện tượng lễ bỏ mả nữa.
4- Theo tác giả, lễ hội đâm trâu được tổ chức theo lối mới không đúng với lễ hội truyền thống, và nó phải được gọi là tế trâu. Con trâu bị giết để tế, vì là sinh vật thế mạng cho tù nhân trong các cuộc chiến tranh bộ lạc thời xưa.
5- Các tượng Tây nguyên hiện đại được cập nhật với các hình tượng ngày nay : cán bộ, bộ đội, lính miền Nam cũ, ..
6- Các tượng hiện đại xấu, không có thẩm mỹ như các tượng trước, dù có việc tổ chức các cuộc thi đẽo tượng hiện đại.
Những điều viết ở trên rất thú vị, vì nó cho người ta thấy tình trạng hiện tại của loại hình nghệ thuật này, cũng như sự phát triển (hay điêu tàn) của nó.
Sau đó cũng có một bài khác, cũng của một cán bộ làm công tác văn hóa trên Tây nguyên phản bác rằng, tượng Tây Nguyên không chỉ là tượng nhà mồ, và chỉ phục vụ cho tang lễ.
Khi đọc các bài báo trên, cảm nhận đầu tiên người đọc có thể thấy, đó là « tượng nhà mồ » Tây nguyên hiện nay vẫn được cập nhật với những hình tượng mới, nhưng nó xấu hơn và nó không chỉ được sử dụng trong tang lễ. Bản thân tang lễ cũng thay đổi, vì cách mai táng mới, mà tác giả nói « theo người Kinh », cũng như việc không còn du canh du cư, nên không còn vấn đề bỏ mả, nếu có tang lễ truyền thống, thì thường có vấn đề dịch tễ, hoặc lễ được tổ chức như sinh hoạt du lịch.
Nhưng điều tác giả nói này, thực ra không chỉ là vấn đề ở Tây Nguyên, mà nó diễn ra ở tất cả các loại hình văn hóa truyền thống. Chuyện này cũng xẩy ra ở châu Phi với các lễ múa mặt nạ, với người da đỏ châu Mỹ, với người ở châu đại dương, châu Úc.
Như vậy làm thế nào để bảo tồn và phát triển. Cách duy nhất là sử dụng các công cụ văn hóa hiện đại theo kinh tế thị trường để bào tồn nó. Và trong việc này tư nhân có thể kết hợp với chính sách nhà nước.

1- Điều đầu tiên là làm sao bảo tồn được các tượng nhà mồ có chất lượng nghệ thuật cao. Điều này chỉ có thể thực hiện bằng bảo tàng, và qua đó là một thị trường tượng chất lượng cao. Thông thường các bảo tàng sẽ phải có nhiệm vụ sưu tập , và qua sưu tập thẩm định các tượng được mang về bảo tồn (để trưng bầy ở bảo tàng, hay cất giữ). Công việc này có tác dụng bảo quản các tượng có giá trị thẩm mỹ thật sự, có thể coi nó như dạng bảo vật quốc gia. Nhưng tượng này phải là tượng nhà mồ thật sự, được sưu tập. Sưu tập có thể là nhà nước (VN hiện tại có bảo tàng dân tộc ở Hà nội), cũng có thể được sưu tập bởi bảo tàng tư nhân, hay thị trường chơi « đồ cổ ». Tại sao lại thế ? bởi vì trong một nền kinh tế thị trường, tiền tệ, các sản phẩm mỹ thuật này có thể coi như một dạng tích lũy tiền tệ, nó có giá vì quý hiếm.
Bình thường sự đánh giá, thẩm định, bảo tồn của bảo tàng nhà nước là chuẩn nhất, vì nó dựa trên các yếu tố nghiên cứu về văn hóa. Ngược lại người sưu tập tư nhân chọn lựa theo thị hiếu của họ, và thị hiếu này chưa chắc đã chuẩn với nhận thức văn hóa của người tạo ra nó. Nhưng do ở VN, có lẽ bảo tàng nhân viên bảo tàng chưa chắc có được sự thẩm định cao, cũng như chưa chắc bảo tàng có quỹ, nên việc sưu tập của tư nhân sẽ đóng vai trò lớn.

2- Sự sưu tập nói ở trên chỉ có tác động bảo tồn những gì còn lại, mà cũng không phải tất cả. Vì thế để cho nghệ thuật này có thể sống động (mà không phải là một dạng khảo cổ), thì phải có một hệ thống nghệ nhân. Trong quaq khứ người ta không cần vì nó gắn liền với sinh hoạt, tập tục. Nhưng hiện tại tập tục mai một biến đổi, thì nghệ nhân, hay người được công nhận nghệ nhân sẽ làm cho loại hình nghệ thuật này tiếp tục sống.
Điều 1 và điều 2 viết ở đây có thể bổ trợ cho nhau. Ví dụ, khi tôi sang Ottawa là thủ đô của Canada, khi vào viện bảo tàng của họ, thì thấy có rất nhiều tượng gỗ thể hiện các totem của người da đỏ ở Thái bình dương. Các tượng gỗ này không phải là tượng cổ mà do nghệ nhân của các bộ tộc này làm ra. Mỗi tượng đều có tên tác giả đường hoàng. Họ vừa là nghệ nhân, vừa là nghệ sĩ sống bằng nghề tạc tượng. Như vậy đây là tượng hiện đại, nhưng lại là « quốc bảo », vì nó gắn với một truyền thống văn hóa, nhưng đồng thời cũng là tượng của tác giả nổi tiếng, kiểu như tranh Picasso vậy.

3- Người ta không chỉ có thể bảo tồn rời rạc, mà có thể lấy nguyên một rừng tượng nhà mồ mang về, hay chiết xuất nó ra để tạo thành một khu tượng nhà mồ trong bảo tàng dân tộc hay nghệ thuật. Trước khi thu thập, thì cũng nên làm một cái lễ đơn giản, coi như là cách thức để « vô tâm linh hóa » (desacra-liser) rồi hãy thu thập mang đi.

4- Cũng có thể bảo tồn cả một khu mộ cổ thật, giống như dạng cung cấp bằng cấp cho các đền thờ kiểu « di tích lịch sử cấm không được xâm phạm », và từ đó nó cũng có thể trở thành một dạng điểm du lịch văn hóa. Đây cũng là ý tưởng của ông Văn công Hùng. Vấn đề là làm thế nào, để nó không chỉ là điểm du lịch mà vẫn có mầu sắc tâm linh, với tôi thì nên xây một cái đền, một cái chùa, hoặc một ngôi nhà thờ tin lành bên cạnh. Người coi đền chùa này trở thành người bảo vệ luôn, và như vậy người đến du lịch có thể vừa thỏa mãn nhu cầu du lịch văn hóa, vừa có tâm linh.

5- Các lễ hội cổ ở Tây Nguyên có thể được tổ chức để gìn giữ những nhận thức văn hóa phi vật thể. Điều này có thể làm ở 3 cấp bậc khác nhau
- Tại tạo lại trong các khu vực bảo tàng, du lịch
- Do buôn làng theo truyền thống tổ chức
- Do cơ quan hành chính tổ chức. VN đã tổ chức lễ đền Hùng như một sự kiện quốc gia, thì cơ chế hành chính địa phương cũng có thể làm điều này
Và tất nhiên ba cấp bậc này có thể phối hợp với nhau để tổ chức. Bảo tồn được các hình thức sinh hoạt văn hóa phi vật thể kiểu lễ hội không dễ, vì nó thường bị xa vào hình thức vui chơi giải trí, điều không thể thiếu được ngay cả với một lễ hội truyền thống thật sự, nhưng vẫn phải bảo tồn cho nó một ý nghĩa tâm linh thì mới tốt.



--------------------
Tả Thiên Thanh



User is offlineProfile Card
Go to the top of the page
+
« Bài viết cũ hơn · Văn Học & Ngôn Ngữ · Bài mới tiếp theo »
 

2 Trang < 1 2
Topic Options
2 người đang chống cằm trầm tư ngâm cứu chủ đề này (2 khách vãng lai và 0 thầy mo tàng hình)
0 Thành viên:
 

Xem diễn đàn ở dạng TEXT - PDA - Pocket PC