Chào bác, trông cái mặt bác quen quen ( Đăng nhập | Đăng ký tạm trú )

3 Trang < 1 2 3 

· [ ] ·

 TẢn MẠn VỀ Kinh PhÁp Hoa VÀ ThiÊn Thai TÔng, Nhật Liên, Trí Khải và phương pháp luận phật giáo

Phó Thường Nhân
post Mar 1 2024, 09:58 PM    
Đường dẫn tới bài viết này #21

Tả Thiên Thanh
Group Icon

Nhóm: Chánh tổng
Số bài viết: 7.025
Tham gia từ: 11-August 02
Thành viên thứ: 133

Tiền mặt hiện có : 49.018$
Số tuần chưa đóng thuế : 10

Bình chọn :



Bây giờ hay thử ứng dụng những phương pháp luận phật giáo này vào đời thường xem sao.
Ví dụ đầu tiên « Hà nội 1946, Đào , Phở và Piano ». Nghe cái tên này quen quen, bởi nó là bộ phim nhà nước đang được ăn khách ở Hà nội hiện nay. Ở đây tôi không thể bình luận sâu sắc gì về bộ phim, nghệ thuật biểu diễn, sân khấu, cách quay cũng như nội dung của nó, vì tôi chỉ được nhìn mấy tấm ảnh quảng cáo. Nhưng chỉ qua nó thôi, thì sự ăn khách của nó đã là minh chứng cho lô gic phật giáo « vạn pháp tại tâm », hay lạ câu trả lời « đúng đắn » của Lục Tổ Huệ Năng khi trả lời hai ông sư rằng không phải cờ động mà là tâm các ông động ở trên.
Tại sao ? bởi phim được đánh giá và yêu thích phụ thuộc vào tâm lý của khán giả. Nếu tâm lý của bộ phim càng gần và phù hợp với thị hiếu của người xem, thì bộ phim càng ăn khách. Nó không nói lên sự thật lịch sử (tất nhiên một bộ phim văn học không phải là tài liệu lịch sử cần độ chính xác tuyệt đối, và thực ra điều này cũng khó có được).
Điều thú vị với tôi có lẽ là cả người làm phim, người đóng, và khán giả đều có chung một thị hiếu, bởi vì họ là những thị dân, họ cùng có gu giống nhau, và từ đó có một cảm nhận giống nhau về lịch sử, dù điều đó rất xa lạ với lịch sử thật sự xẩy ra lúc đó.
Một ví dụ đập ngay vào mắt khi tôi nhìn tấm ảnh quảng cáo, trong đó có hình ảnh một cặp đôi và một ông thày tu công giáo.
Tầng lớp giáo dân, đặc biệt là thầy tu tham gia cách mạng tháng 8 ? điều này nếu có thì có lẽ là một hiện tượng « thiểu số của thiểu số của thiểu số ». Hình ảnh Hà nội, cũng như tầng lớp tạo ra nó (ngoài ông bán phở) có lẽ nó đi ra trực tiếp từ các tác phẩm của tự lực văn đoàn hơn là người Hà nội lao động như người ta có thể đọc được qua các tác phẩm văn học hiện thực phê phán vào thời những năm 20.
Tôi cũng không dám chắc rằng ứng sử của các nhân vật trong phim đúng với tâm lý lúc đó, mà chỉ là sự tưởng tượng của tâm lý thị dân Hà nội, VN hiện tại được quy chiếu về quá khứ, dàn cảnh mà thôi.
Tại sao lại thế ? bởi vì về mặt lịch sử, xã hội đô thị và thị dân hiện đại ở VN xuất hiện với chế độ thuộc địa. Trước đó thì không có. Nếu Thành phố Hồ Chí Minh có một bề dầy đô thị liên tục, thì ở ngoài Bắc, trong thời gian kháng chiến chống Pháp, chống Mỹ, vai trò của đô thị giảm sút, và có thể nói là có việc « nông thôn hóa đô thị », do trong chiến tranh phải sơ tán ra khỏi các thành phố.
Vì thế ở Hà nội, nói tới « chuẩn thanh lịch đô thị », thì người ta có ngay chuẩn này thời thực dân, đặc biệt vào giai đoạn những năm 20,30.
Không phải chỉ riêng VN có vấn đề này, mà các nước thuộc địa cũ như Ấn độ, TQ, ĐNA đều có.Chính vì thế, nếu người TQ nói tới « phồn hoa truyền thống » ở Thượng Hải, thì nó cũng đi tới hình ảnh Thượng Hải là nhượng địa của phương Tây thời đầu thế kỷ XX, tương đương với « lịch lãm Hà nội » cùng thời kỳ.
Như vậy ở đây người ta có thể thấy được nhận thức là một bộ ba « CĂN, TRẦN, CẢNH », trong đó CẢNH tức là sự thật lịch sử đóng phần thứ yếu, còn CĂN và TRẦN là con người đô thị VN hiện tại, và khung cảnh sống của người ta hiện tại quyết định nhận thức của họ. vì thế với tôi đo khoảng cách giữa sự thật lịch sử thật sự xẩy ra lúc đó, và cảm nhận của xã hội về nó, sẽ nói lên sự phát triển và chiều phát triển của xã hội VN.



--------------------
Tả Thiên Thanh



User is offlineProfile Card
Go to the top of the page
+
Phó Thường Nhân
post Mar 3 2024, 06:05 AM    
Đường dẫn tới bài viết này #22

Tả Thiên Thanh
Group Icon

Nhóm: Chánh tổng
Số bài viết: 7.025
Tham gia từ: 11-August 02
Thành viên thứ: 133

Tiền mặt hiện có : 49.018$
Số tuần chưa đóng thuế : 10

Bình chọn :



Tiếp tục câu chuyện phiếm ở trên, nhưng ở đây tôi đi xa bộ phim hơn, chính xác hơn bộ phim chỉ còn là cái cớ để tôi diễn giải phương pháp luận phật giáo lấy câu chuyện này làm ví dụ.Như vậy làm sau có thể nhìn CẢNH chính xác (nếu lấy ví dụ bộ phim này, thì có nghĩa là làm sao hiểu được chính xác sự thật lịch sử, sự kiện). Muốn hiểu chính xác nó thì phải « TỊNH TÂM » (ở đây là loại bỏ, hay tự nhận thức được tâm lý thị dân trong mình), không để « TÂM CHẠY THEO CẢNH » (ở đây là không bị cuốn hút theo các tình tiết ly kỳ hấp dẫn, bởi vì nhiều khi bộ phim ăn khách bởi có cảnh « hót », chính xác hơn là phân biệt được thế nào là phần ly kỳ hấp dẫn, phần nào là cái fact có thể có thật tồn tại, phần nào không).
Tất nhiên trong câu chuyện này, thì không ai làm thế làm gì, vì nó phức tạp cuộc đời lên, trong khi người ta đi xem phim thì chỉ là để giải trí thôi. Nhưng nếu muốn có nhận thức chính xác thì nên làm thế, nhưng điều này chẳng ai bắt buộc cả.
Nhưng cũng có thể người ta thấy hấp dẫn vì sự ngộ nhận, và vì thích sự ngộ nhận ấy mà đi xem. Ví dụ về bộ phim trên. Khi nhìn thấy hình ảnh ông cha xứ, có thể nó sẽ kích thích tính tò mò khiến người ta đi xem. Tại sao ? bởi vì cha xứ ở VN, hay nhà thờ có cái gì đó rất exotic . Hiện tại có rất nhiều du lịch châu Á, đặc biệt Hàn, Nhật, TQ thích tới các địa điểm nhà thờ ở VN để check-in, cũng là tâm lý này. Nó có thể có một tâm lý nữa, đó là sự thật lịch sử vẫn được coi là câu chuyện « biết rồi, khổ lắm, nói mãi »theo chính sử, bây giờ có cái gì đó như ngược chiều, thì sẽ cuốn hút người ta hơn, kiểu như « đổi món ». Nhưng ở đây sẽ có hai vấn đề, đó là nếu không cẩn thận thì xu hướng ngộ nhân được đánh giá là đúng, và lịch sử thật đúng được coi là « tuyên truyền » hay là nó bị coi là dấu diếm sự thật, bây giờ mới được « bóc mẽ » (trong khi câu chuyện ở đây chỉ là tưởng tượng văn học nghệ thuật).
Câu chuyện buồn cười này, có thể cho ta thấy sự đúng đắn của duy thức học Phật giáo, được lục tổ Huệ Năng ứng dụng trong câu trả lời lá cờ bay mà tôi dẫn ở trên. Ở đây vấn đề lá cờ bay do gió không quan trọng(mặc dù đây là lý do thật), mà tác động của nó vào nhận thức, ảnh hưởng của nhận tức chủ quan quan trọng hơn, nhận thức chủ quan này chưa chắc liên quan tới lá cờ bay thật mà lại chịu ảnh hưởng của những điều khác (tâm lý hăng máu tranh cãi của hai ông sư chẳng hạn).
Trong bộ phim này, thì sự thật lịch sử không quan trọng, mà cách trình bày tâm lý cho hợp khẩu vị với thị dân hiện tại là quan trọng. Vì thế nghịch lý của bộ phim, (tôi không dám chắc, nhưng có lẽ nhận xét của tôi không xa sự thật lắm) có lẽ là nếu kháng chiến chống Pháp thật sự được đảm nhận bằng những con người ấy, thì chắc chắn nước VN .. tiếp tục là thuộc địa của thực dân Pháp. Điều thứ nữa thú vị không kém, đó là những tầng lớp người mà bộ phim dàn dựng như một đại diện, thực ra chính là những lớp người chế độ thực dân pháp dựa vào tạo ra các thể loại chính quyền thuộc địa kiểu mới về sau.
Chính vì thế tôi mới nhận xét là, nhìn sự khác biệt và khoảng cách giữa sự thật lịch sử (như nó đã diễn ra), và sự tưởng tượng về nó (trong thực chất là nhận thức hiện tại) sẽ cho ta biết sự phát triển và chiều hướng xã hội thế nào.
Hiện tượng như thế này trong phật giáo được gọi là GIẢ TƯỚNG. Nó là GIẢ TƯỚNG bởi nó chỉ là một hiện tượng mà không có bản chất tuyệt đối (điều này thì đã được đưa ra từ thời Bồ Tát Long Thọ), nhưng nó cũng là GIẢ TƯỚNG vì nó không được tiếp cận bởi như đúng NHÂN DUYÊN đã tạo ra nó, mà bị bóp méo bởi tâm lý chủ quan (đây là đóng góp của Bồ Tát Thế Thân về sau với Duy thức học).Bởi trong phật giáo Đại Thừa, khi xuất hiện duy thức học của Thế Thân, thì người ta coi toàn bộ thế giới hiện tượng là GIẢ (Maya), nhưng sau đó nó tiếp tục phát triển lên, và đại sư Trí Khải có lẽ là người đưa ra khái niệm THỰC TƯỚNG, có nghĩa là phải nhìn sự việc đúng như NHÂN DUYÊN, và đây chính là TRUNG ĐẠO. Để có được sự nhìn nhận này thì cái TÂM của người ta phải vượt qua được những định kiến chủ quan. Nói theo nhà phật là TÂM KHÔNG CHẠY THEO CẢNH, hay ĐỐI CẢNH TÂM KHÔNG ĐỘNG.
Ở trong phật giáo đại thừa cả hai xu hướng GIẢ TƯỚNG và THẬT TƯỚNG này tồn tại song song. GIẢ TƯỚNG thường được sử dụng như một bài thuốc tâm lý, vì thế nhiều khi nó được coi là yếm thế, kiểu nhận thức theo « truyện tình Lan Điệp », nó giúp cho người ta dũng cảm chấp nhận hiện thức để đi tiếp. Còn THỰC TƯỚNG là để sử dụng để hành động cho chuẩn xác. GIẢ TƯỚNG gần với đạo Lão, THỰC TƯỚNG gần với đạo Nho.
Trở lại với ví dụ bộ phim ở trên. Cái GIẢ TƯỚNG nhìn nhận lịch sử mùa đông 1946, chỉ cho ta cái THỰC TƯỚNG của xã hội VN hiện đại, đó là một xã hội đang trên đà đô thị hóa, và tâm lý thị dân sẽ là tâm lý phổ biến. Ở đây nó phổ biến đến mức cả người đặt hàng (nhà nước), người sáng tác, đóng phim, rồi đến cảm nhận của người xem đều có.
Từ đó dẫn tới hành động phải là gì ? một xã hội đô thị hóa là một xã hội mà yếu tố cá nhân con người được đưa lên cao, yếu tố tập thể, cộng đồng giảm đi. Chính vì thế muốn cho nó có thể hoạt động được như một xã hội quy củ, chung sống với nhau được, thì phải nhấn mạnh phần tự chủ và trách nhiệm cá nhân, đồng thời phải tăng cường tính pháp quyền của xã hội. Một xã hội thị dân rất kỵ với tính cách quan liêu, chỉ huy hành chính. Chính vì thế nó phù hợp với nhà nước pháp quyền, thượng tôn pháp luật.Một xã hội đô thị là một xã hội mà phần cấu thành cộng đồng đươc tạo bởi dư luận, vì thế việc đấu tranh với fake news rất quan trọng, cũng như để có dư luận đúng thì xã hội phải có hệ quy chiếu của nó. Và đây cũng chính là điều tôi hay nói tới.



--------------------
Tả Thiên Thanh



User is offlineProfile Card
Go to the top of the page
+
Phó Thường Nhân
post Mar 8 2024, 10:46 PM    
Đường dẫn tới bài viết này #23

Tả Thiên Thanh
Group Icon

Nhóm: Chánh tổng
Số bài viết: 7.025
Tham gia từ: 11-August 02
Thành viên thứ: 133

Tiền mặt hiện có : 49.018$
Số tuần chưa đóng thuế : 10

Bình chọn :



Lạc đề một chút, bởi vì đã chót nói ở trên khi lấy phim « Đào, Phở, .. » làm ví dụ, tôi có nhận xét là những nhân vật trong phim, dù có hành động anh hùng, cũng là tầng lớp mà tiếp sau thực dân Pháp sử dụng lập nên thể chế bù nhìn, nên phải nói rõ ràng hơn chứ không thì thành chụp mũ, vơ đũa cả nắm.
Trong cuộc kháng chiến chống Pháp rồi Mỹ, lực lượng chủ đạo của cách mạng là công nhân, nông dân và trí thức.Trong đó lực lượng nhân lực chủ yếu là nông dân, còn công nhân và trí thức thì hạn chế hơn.
Với công nhân có điều đặc biệt đây là giai cấp không phổ biến ở VN vào thời điểm đó.Nói vui thì có thể bảo cả nước có mỗi bác Tôn Đức Thắng làm công nhân tầu thủy thì đã đưa lên làm chủ tịch nước sau bác Hồ rồi, còn có ai đâu.Nhưng chính vì theo chủ nghĩa Mác-Lê nin, được tổ chức theo chủ nghĩa này, cho nên cuộc kháng chiến của người Việt Nam chống Pháp, Mỹ là một cuộc kháng chiến hiện đại, chứ nếu không thì nó sẽ chỉ dừng ở mức độ .. khởi nghĩa Yên Thế của cụ Hoàng Hoa Thám, và dù có thể có hình tượng anh hùng như cô bé áo dài trắng ôm bom ba càng lao vào xe tăng Pháp thì cũng vẫn thất bại (đây là hình ảnh tôi thấy trên quảng cáo), vì ăn thua là cách tổ chức, đường lối không phải là anh hùng cá nhân.
Vấn đề trí thức cũng vậy. Trí thức lúc đó chỉ có ở thành phố, tức là thị dân. Số lượng dân thành phố ở VN thời đầu kháng chiến chiếm 5% dân. Số lượng trí thức còn nhỏ hơn, do chính sách của thực dân Pháp không muốn đào tạo người Việt, và những người có thể học cao nhất là những gia đình gắn với nhà nước thực dân Pháp không theo cách mạng.
Do tinh thần dân tộc, tầng lớp trí thức này cũng chia làm hai. Một tầng lớp trí thức sống bằng nghành nghề tự do chủ yếu dậy học, làm báo, như thị dân, thì đứng về phía kháng chiến. Phần kia thì vẫn tiếp tục làm cho thực dân Pháp, và trở thành nhân sự của chính quyền Bảo đại, rồi Ngô Đình Diệm về sau.
Có một số trường hợp, không phải là nhiều, cùng một gia đình mà có thành viên theo cách mạng, và những người còn lại là nhân sự của các chính quyền Pháp, Mỹ dựng ra. Trong kháng chiến chống Pháp, rồi chống Mỹ trí thức được kháng chiến và nhà nước VN dân chủ cộng hòa đào tạo (trong nước hay ở các nước XHCN cũ) ngày càng nhiều, và chính họ trở thành lực lượng trụ cột của trí thức kháng chiến.
Ngược lại các chế độ do Pháp, Mỹ lập ra thì tiếp tục có nhân sự được đào tạo từ thời thực dân, rồi Pháp, Mỹcho tới 1975.
Điều thú vị là mặc dù được đào tạo từ hai nguồn khác nhau, tâm tư tình cảm của họ không khác nhau là mấy., họ rất dễ bị rơi vào các nhận thức mà giới trí thức thuộc địa bơm vào. Tại sao ?
Điều này có thể giải thích bằng môi trường sinh hoạt là đô thị, sao này khi Vn đã bình thường hóa quan hệ với phương Tây, thì chuẩn sinh hoạt đô thị với một cá nhân là « Euro Windows », trong điều kiện này thì nhận thức của trí thức ở VN hay ở phương Tây giống nhau.
Do là môi trường đô thị, người ta sẽ trọng tự do cá nhân hơn. Nhưng ngược lại cả về truyền thống văn hóa lịch sử, lẫn thời kỳ quản lý bao cấp, nhà nước Vn có tính quan liêu, áp chế. Từ đó tạo ra mâu thuẫn. Hiện tại ở Hàn quốc đang có phi vụ nhân viên Y tế, bác sĩ phản đối chính phủ, và chính phủ Hàn có cách đối phó rất áp chế, tôi nói điều đó để thấy rằng vấn đề này không đơn giản là thể chế mà còn là một truyền thống văn hóa. Về lâu dài, thì hình thức quan liêu này sẽ giảm đi, vì nó không hợp trong một thể chế kinh tế thị trường.
Việc tầng lớp trí thức VN, coi phương Tây là chuẩn thực ra là một tai hại không nhỏ, bởi vì họ đã nhầm âu hóa, phương tây hóa là hiện đại hóa.Và media phương Tậy, giáo dục phương Tây cũng có chính sách như thế. Hãy nhìn đám trí thức Nga (Liên Xô) được Liên Xô đào tạo đã phò phương Tây đi tới làm tan rã nhà nước của mình thế nào, thì người ta có thể hiểu được vấn đề này.
Chính vì thế mà họ phải có hệ quy chiếu VN, nếu là thị dân cũng phải là thị dân VN phải đặt văn minh phương Tây vào đúng vị trí của nó, tức là nó là một nền văn minh giữa những nền văn minh khác, chứ không phải coi nó là cái chuẩn.
Tựa đề của phim có Đào, Phở và Piano. Trong thực tế, cảm nhận đô thị của riêng tôi chỉ có Đào và Phở, còn cái cảm nhận Piano kia tôi chưa bao giờ biết, dù là một người yêu thích nhạc cổ điển. Tại sao ? bởi vì cái hình ảnh sang chảnh, mộng mơ đi dưới tán cây nghe tiếng đàn Piano vọng ra từ một ngôi biệt thự sang trọng ở Hà nội do một cô thiếu nữ áo dài trắng ngồi đánh, tôi không bao giờ có. Với tôi, có lẽ đa số người Hà nội cũng không có. Nó chỉ là một hinh ảnh rập khuôn không biết lấy từ đâu, từ tranh cô gái và hoa huệ của Tô Ngọc Vân chắc. Phải nói là nó báo hại không biết bao nhiêu thế hệ trẻ con VN, ngay cả ở nước ngoài. Tại sao ? bởi dưới cái hình ảnh ấy, không biết bao nhiêu bố mẹ việt nam khi khấm khá một chút bắt con tập đàn tập hát, trong đó phần lớn là Piano hay vĩ cầm (violon) coi như đó là đỉnh cao của văn minh. VN cũng có một ĐẶng Thái Sơn, nhưng so với số lượng trẻ con bị bắt học đàn Piano thất bại, thì sự thành công này là .. muối bỏ biển.
Hiện tại ký ức về đô thị ở VN cũng đã dần dần chuyển. Đã có mốt mới là « hoài niệm thời bao cấp » (mốt này hợp với tôi hơn, vì có trải nghiệm cá nhân), rồi bắt đầu có những cuốn sách nói về « quân khu Nam Đồng » , Kim Liên, ..Đây cũng là điều tốt, để cho cái hình bóng đô thị thực dân không phải là biến mất (không nên làm nó biến mất), mà chỉ còn là một phần nhỏ của dòng đời trôi đi trong lịch sử đô thị Việt Nam.


--------------------
Tả Thiên Thanh



User is offlineProfile Card
Go to the top of the page
+
Phó Thường Nhân
post Mar 12 2024, 08:49 PM    
Đường dẫn tới bài viết này #24

Tả Thiên Thanh
Group Icon

Nhóm: Chánh tổng
Số bài viết: 7.025
Tham gia từ: 11-August 02
Thành viên thứ: 133

Tiền mặt hiện có : 49.018$
Số tuần chưa đóng thuế : 10

Bình chọn :



Đến đây là hết phần phương pháp luận phật giáo của tôi. Vì thế cũng tóm tắt chúng lại thành mấy nguyên tắc sử dụng để dễ nhớ.
1- Chúng ta sống trong một thế giới hiện tượng (hiểu là tất cả mọi sự vật đều là những hiện tượng) phật giáo gọi là PHÁP. Các hiện tượng này đều có thể tìm hiểu, nhận thức, mô tả chúng bằng 10 NHƯ THỊ (tướng, tính, thể, lực, tác, nhân, duyên,quả, báo, sinh diệt). Tất nhiên bình thường khi tôi nhận thức một vấn đề tôi sẽ không cố sống cố chết tìm cách gắn bó gượng gạo những yếu tố tồn tại vào 10 mục này, nhưng chúng sẽ giúp ta đào xới tìm hiểu một cách sâu sắc bao gồm cả phần nhìn thấy và không nhìn thấy của hiện tượng. Bình thường người ta dễ quy ra thành 3 mục chính (bản chất, hiện tượng, tác dụng)
2- Từ nhận thức trên và các hiện tượng, để ứng xử trong phật giáo sử dụng quy tắc TRUNG ĐẠO. Tức là coi trọng NHÂN DUYÊN đã tạo ra hiện tượng ấy (NHÂn ở đây là nguyên nhân, DUYÊN ở đây là điều kiện ngoại cảnh tác động)
3- Do trong phật giáo không có vấn đề nhị nguyên, tức là coi chủ thể quan sát (ta) và hiện tượng cách biệt nhau (giống như trong triết học phương Tây) với quan niệm vô ngã, tức là cả ta và mọi hiện tượng quan sát đều có bản thể là KHÔNG, nên nhận thức của phật giáo bao gồm ba phần : CĂN, TRẦN, CẢNH. Trong đó CĂN chính là chủ thể, TRẦN là môi trường, và CẢNH chính là hiện tượng được nhận thức bởi 10 NHƯ THỊ. Như vậy để cho nhận thức Trung đạo gần với chuẩn nhân duyên đã tạo ra nó nhất, phần CĂN phải « gần bằng KHÔNG » nhất. Đạo phật gọi đó là trạng thái BẤT ĐỘNG TÂM, hay TÂM KHÔNG CHẠY THHEO CẢNH. Và để làm điều đó ta có THIỀN.
4- Ở trên tôi không đề cập tới, nên phải bổ xung ở đây vậy. Đó là nếu Thiền là để « BẤT ĐỘNG TÂM », thì được gọi là CHỈ (chữ nho nghĩa là dừng lại, stop, tức là dừng các tư duy do tâm chạy theo cảnh). Nhưng nó chưa đủ mà phải nhìn đúng nhân duyên (như điều 2 ở trên), cái nhìn đúng đắn này được gọi là QUÁN. Từ đó ta có CHỈ QUÁN như một phương pháp tu Thiền đầy đủ.
5- Như vậy chỉ và quán là hai phương pháp để ứng dụng 10 như thị chuẩn xác nhất. Ở trên tôi cũng đã lấy ví dụ .. xem phim để dẫn giải những quan nệm trên.

Từ phương pháp luận phật giáo ở trên, với tôi, bất cứ ai sử dụng nó họ cũng đã là phật tử. Giống như một người dùng phương pháp luận Mác xít để tìm hiểu, nhận thức thì theo chủ nghĩa Mác. Nhưng nếu tính về mặt tôn giáo thì chưa đủ. Cái phần chưa đủ là phần tôn giáo của đạo Phật, tôi sẽ nói tiếp sau. Sau khi nói về nhận thức phật giáo của Đại sư Trí Khải.
Như tôi đã nói ở trên, rất đáng tiếc cho những người Việt muốn tìm hiểu phật giáo, tài liệu phật giáo tiếng Việt không có các tác phẩm của Đại Sư. Người duy nhất dịch thuật một số tài liệu là cư sĩ (hay học giả) Từ Hoa Nhất Tuệ Tâm dịch các tác phẩm về thiên thai của một học giả người Mỹ là Paul Swanson, bà còn dịch một tác phẩm nữa của một học giả Trung quốc Hayan Shen tóm tắt về cuốn Pháp Hoa huyền nghia của Đại Sư Trí Khải. Tất cả các tài liệu này đều dịch từ tiếng Anh, và không phải là nguyên bản do Đại Sư viết.
Tôi cũng có một tác phẩm của Trí Khải được dịch ra tiếng Pháp, và khi đối chiếu thì hóa ra tôi cũng có một bản khác bằng tiếng Việt của thầy Thích Thanh Từ. Đây là tác phẩm Tiểu chỉ quán, là tác phẩm ra đời trước Ma ha chỉ quán (tức là đại chỉ quán, vì Ma ha nghĩa là đại). Nhưng Thầy Thanh Từ cũng chỉ giảng nó như một cách tập thiền mà thôi.
Trong tất cả các tài liệu này, thì quyển của tác giả TQ có lẽ có nhiều thông tin hơn cả, nhưng tài liệu này tôi chưa tham khảo hết, nên những nhận xét của tôi ở đây chủ yếu có được nhờ vào các tài liệu của Swanson, cũng như những gì tôi thu thập được thông qua các tác phẩm của Nichiren. Nhưng Nichiren đã phát triển thêm Thiên Thai tông (của đại sư Trí Khải) thành tông phái riêng, nên cũng không nguyên bản.
Một điều nữa, khi tôi tìm hiểu đại sư Trí Khải là để sử dụng tu tập, chứ không phải là phân tích đơn thuần nhà sư, nhưng tôi muốn tu tập theo xu hướng thiên thai thật sự, chứ không phải nhìn qua Thiền (giống như các nhà sư hay cư sĩ VN hay phân tích theo kiểu biểu tượng như tôi đã nói).
Điều đầu tiên tôi quan tâm, đó là làm sao cấu trúc lại những nhận thức phật giáo tưởng như đối đầu nhau, khác nhau, dị biệt, thành một chương trinh thống nhất, để sử dụng.Điều tôi quan tâm là cái lô gic sử dụng để tập hợp nó. Đây cũng là điều mà phật giáo Đại Thừa ở TQ quan tâm, và để làm điều này các bộ kinh như kinh Pháp Hoa, luận Đại thừa khởi tín, kinh Đại Niết Bàn, .. trở nên quan trọng nhất. Bởi vì ở đây người ta có thể tìm được cái lô gic nhất thống này được thể hiện.
Mỗi một bộ kinh cho ta một lô gic để « thống nhất kinh phật ». ví dụ :
-Kinh Pháp Hoa có rất nhiều lô gic ẩn dụ để giải thích sự khác nhau giữa các bộ kinh này như : tùy bệnh cho thuốc, như phương tiện thiện sảo (tức là tùy theo căn cơ của .. đối tác mà đưa ra giải pháp hấp dẫn dẫn tới đạo Phật), như mưa móc thấm nhuần các loại cây cỏ, nhưng chúng lớn nhỏ thế nào là tuỳ căn cơ của từng loại.
-Trong kinh đại niết bàn thì nói tới phật tính có trong tất cả mọi chúng sinh, và sự khác biệt của các kinh với nhau được coi như các sản phẩm đều làm ra từ sữa nhưng chúng khác nhau như : kem, bơ, ..v..v..
Tất cả những lô gic trên đều thú vị, nhưng để sử dụng để tu tập phật giáo thì khó. Ví dụ, vì nói là phật pháp như mưa rưới xuống chúng sinh là cây cỏ, thì về mặt nhận thức không có vấn đề, nhưng để tu tập thì làm sao ? làm sao biết mưa là thế nào, ứng dụng hành động thế nào ? cây nào ? nó lớn và được tắm mưa ra sao ?
Chính vì thế mà đại sư Trí Khải đã không giải thích kinh Pháp Hoa như kiểu các cư sĩ VN mà tôi đã dẫn ở trên như Mai Thọ Truyền, mà đi vào tìm hiểu điều này, từ đó mà sư chia sự phát triển của phật giáo ra các THỜI . Có năm thời tất cả : tạng pháp, thông pháp, giả pháp, viên pháp (thời thứ 5 thì tôi không nhớ vì với tôi nó không có tác dụng tu tập), với tôi quan trọng là 4 thời ở trên. Bốn thời trên tương đương với phật giáo nguyên thủy (tạng Pháp), phật giáo đại thừa trọng tâm là KHÔNG (ví dụ như Thiền theo chiều đi tìm hiểu bản thể, tức là thông pháp), phật giáo đại thừa trọng vào NHÂN DUYÊN (Bồ tát đạo, được gọi là giả pháp), đại thừa đầy đủ tất cả các tính chất cà KHÔNG, cả NHÂN DUYÊN, cả TẠNG là viên pháp.Viên ở đây chữ nho nghĩa là đầy đủ, trọn vẹn.
Tất cả các giáo pháp trên, đều chỉ nhằm tới « Khai, Thị, Ngộ, Nhập Tri kiến Phật », tức là tìm tới chân tâm, cũng là phật tính mà mỗi người đều có.
Từ 4 thời như trên, mà nhà sư luận ra các gốc của nó, như là cái đế lô gic để dựa vào đó tu tập.
Vì thế có các khái niệm tứ đế, tam đế, nhị đế, nhất đế.
Trong tứ đế, vì đây là phật giáo nguyên thủy, chỉ quan niệm không có cái tôi, còn sự vật hiện tượng là thật, nên sự vật bảo gồm cả ta có 4 trạng thái gọi là đế : gồm SINH, TRỤ, HOẠI, DIỆT (ta thường biết dưới dạng ứng dụng cho cuộc đời là Sinh, Lão, Bệnh, Tử)
Nếu là Tam đế thì sự vật bao gồm cả ta sẽ là CHÂN, TỤC, TRUNG ĐẠO còn có thể coi là các mặt (THỂ, TƯỚNG, DỤNG) của mọi sự vật hiện tượng
Nếu là Nhị đế thì sự vật bao gồm cả ta chỉ có hai đó là : KHÔNG, GIẢ
Nếu là NHẤT ĐẾ thì chỉ có một, và nó chỉ có thể cảm nhận nhưng khó (không thể ) lập văn tự



--------------------
Tả Thiên Thanh



User is offlineProfile Card
Go to the top of the page
+
Phó Thường Nhân
post Mar 12 2024, 08:52 PM    
Đường dẫn tới bài viết này #25

Tả Thiên Thanh
Group Icon

Nhóm: Chánh tổng
Số bài viết: 7.025
Tham gia từ: 11-August 02
Thành viên thứ: 133

Tiền mặt hiện có : 49.018$
Số tuần chưa đóng thuế : 10

Bình chọn :



Nên để ý rằng, khi chia ra như thế là « để cho vui », như một dạng concept để tìm hiểu nhận thức, để giải thích sự đa dạng của ứng dụng, còn nếu người ta đã thực hiện một thời tức là đã đầy đủ tất cả. Trong kinh điển đại thừa, thường có phần chê bai phật giáo nguyên thủy, vì đúng là theo kinh, thì các giáo pháp của phật là tùy theo căn cơ người ta thấp hay cao mà cho thuốc, từ đó dẫn tới cảm nhận giác ngộ phật giáo có thứ bậc, ví dụ sữa, bơ, kem cũng vậy, nó khiến người ta cảm nhận kem quý hơn bơ, bơ quý hơn sữa, .. trong khi trong thực tế, ẩn dụ chỉ muốn nói là chúng cùng bản tính là sữa, và tùy theo nhân duyên (điều kiện chế tạo) mà ra bơ ra kem.
Khi quan niệm bằng chữ THỜI, như đại sư Trí khái, ở đây ta không còn thấy vấn đề « chất lượng », mà là vấn đề thời gian, thời điểm. Chính xác hơn, chữ THỜI bao cả khái niệm không gian và thời gian, nhưng ý nghĩa thời gian, thời điểm được đưa vào trong nhận thức lô gic tổng hợp đạo Phật, điều mà trong kinh phật không có. Đây là đóng góp to lớn của đại sư cho phật giáo. Quan niệm THỜI như một sự thay đổi đa dạng về hiện tượng, nhưng bất biến về bản chất này đến từ kinh Dịch, và nó được ứng dụng từ đạo Phật tới đạo Nho (dĩ nhiên rồi) và cả chủ nghĩa Mác-Lê nin ở VN, TQ. Trong trường hợp « ngộ đạo phật », thì ở đây cái bất biến là chân tâm, phật tính, cái đa dạng là kinh điển, giáo pháp, cách tu tập, được chia theo 5 thời như tôi nói ở trên (tôi chỉ nghiệm được có 4).
Như vậy nếu ta tu tập theo bát chính đạo (chính kiến, chính mệnh, chính định, ..) thì có nghĩa là ta đang dùng tứ đế. Nếu hành sử đúng theo nhân duyên thì theo tam đế. Khi khóc hu hu, đấm đá để giải công án thì là nhị đế. Nếu bao được tất cả chúng trong một hành sử thống nhất thì là viên đế.
Tôi cũng phải mở ngoặc nói luôn là quan niệm Viên Đế này là của cá nhân, vì thường nó không bao trùm cả phật giáo nguyên thủy mà nó là sự tổng hòa của Tam đế và nhị đế, tức là chỉ trong « không phận lãnh thổ » của phật giáo đại thừa thôi. Nhưng với cá nhân tôi, thì người ta không có cớ gì dừng lại ở đây cả, vì chư THỜI bao trùm tất cả.

Dù là tứ đế, tam đế, nhị đế hay viên đế (nhất đế). Thì tất cả đều phải đi qua TÂM. TÂM như tôi đã nói ở trên, có thể coi như thức thứ 8 tức là A lại da thức. Mọi giáo pháp đều đưa tới TÂM. Để ngộ thì phải cảm nhận chứng nghiệm TÂM KHÔNG, để hành động được chuẩn theo phật giáo thì phải MINH TÂM ( là làm sạch sẽ tâm như lau tấm gương). Để chứng nghiệp hai điều trên TÂM KHÔNG và MINH TÂM thì phải tập thiền.
Cũng ở đây đại sư Trí Khải lại phát hiện ra một điều nữa, đó là « nhất niệm tam thiên » (trong một niệm có 3 ngàn thế giới tâm lý).
Điều này là hệ quả của việc mọi chúng sinh đều có phật tính, chỉ có điều mức độ nó bị che dấu nông hay sâu, dễ « đào mỏ » tìm ra hay không mà thôi. Độ nông sâu tùy theo vô minh, tức là tham, sân, si của mỗi người của mỗi trường hợp.
Như vậy nếu nói về tiềm năng, thì trong mỗi con người chúng ta đều có 10 trạng thái tâm lý, liên quan tới 10 cảnh giới của thế giới quan phật giáo đó là : Địa ngục, ngã quỷ, súc sinh, người, trời, thần,thanh văn, La hán, Bồ tát, Phật.
Nhưng không phải vì ta đang ở thế giới loài người mới có, mà một chúng sinh trong địa ngục, trên trời, ..v..v.. cũng có 10 cảnh giới này trong tâm lý của họ. Kết quả ta có 100 trạng thái có thể (10 x 10).
Nhưng chưa hết, mỗi trạng thái này có thể mô tả cảm nhận bằng 10 như thị, từ đó dẫn tới 1000
Trạng thái có thể (100 x 10)
Chưa hết, thế giới phật giáo có 3 tầng (dục giới, sắc giới, vô sắc giới) như vậy nếu tính tất cả các tầng thì ta sẽ có 3000 (1000x3) trạng thái tâm lý nhận thức.
Nói một cách khác mỗi một suy nghĩ (phật giáo gọi là niệm. Trong thực tế niệm còn có nghĩa là ghi nhớ) có thể có 3000 trạng thái khác nhau trong toàn thể vũ trụ.
Cái lô gic này có từ đâu ? câu trả lời kinh Dịch. Ở đây 3000 trạng thái là tất cả những trạng thái tâm thức có thể có, giống như 64 quẻ của kinh Dịch giải thích được tất cả vũ trụ. (chứ không phải từ kinh Dịch ta suy ra được).
Nói một cách khác, đại sư Trí Khải đã sử dụng nhận thức cảm nhận lô gic Nho giáo (ở đây là kinh Dịch) để giải thích, cắt nghĩa đạo Phật. Chính vì thế đại sư là người đã bản địa hóa một cách tuyệt với phật giáo đại thừa Ấn độ thành phật giáo đại thừa như ta thấy ở TQ, Nhật bản, VN, Triều Tiên (cả hai miền).
Cách thức tiếp cận này cực kỳ thú vị, bởi vì nó đã đưa việc tu tập phật giáo vào trong một đời người. Tại sao lại thế ? bởi vì các thế giới phật giáo từ địa ngục tới phật đều có thể tồn tại trong một niệm (chứ không phải đợi đến kiếp sau). Do truyền thống, khái niệm kiếp vẫn tồn tại trong phật giáo đại thừa, nhưng ý nghĩa của nó giảm đi nhiều.
Việc đưa 10 thế giới chúng sinh vào 10 trạng thái tâm lý, càng dẫn tới việc quan trọng của định tâm, của tu tâm và nó cũng có cái gì đó phù hợp với tâm lý học hiện đại, bởi con người có thể có thú tính, man rợ, dã man, hay cao thượng, từ bi, ..tất cả đều do trạng thái tâm thức tạo ra.
Chính vì thế phương pháp tu tập của đại sư là CHỈ QUÁN. CHỈ như tôi nói ở trên chính là Thiền, nhưng không đủ, phải có QUÁN tức là nhận thức để đưa cái TÂM người ta lên cao hơn. Vì thế phép CHỈ QUÁN của đại sư không phải là pháp Thiền như thiền tông (giống như giảng dậy của thày Thanh Từ), hay nhầm nó vào thiền Nguyên thủy Samatha.


--------------------
Tả Thiên Thanh



User is offlineProfile Card
Go to the top of the page
+
Phó Thường Nhân
post Mar 26 2024, 11:34 PM    
Đường dẫn tới bài viết này #26

Tả Thiên Thanh
Group Icon

Nhóm: Chánh tổng
Số bài viết: 7.025
Tham gia từ: 11-August 02
Thành viên thứ: 133

Tiền mặt hiện có : 49.018$
Số tuần chưa đóng thuế : 10

Bình chọn :



Với quan niệm nội tâm một chúng sinh (trong đó có con người) có thể có 3000 trạng thái khác nhau (trong đó có trạng thái Phật, tức là có nhận thức KHAI, THI, NGỘ, NHẬP TRI KIẾN PHẬT), cách thức tu tập mà đại sư Trí Khải đề ra (hay tổng kết lại) được gọi là CHỈ QUÁN. Đại sư có viết 2 tác phẩm liên quan tới cách tu này đó là cuốn MA HA CHI QUÁN và cuốn Tiểu Chỉ quán.
Tôi không có cuốn đầu tiên, mà chỉ có bản dịch chương một của nó, do tác giả người Mỹ Paul Swanson dịch trong cuốn sách của ông nói về chỉ quán, nhưng nó chỉ có tác dụng nghiên cứu bề ngoài của tac giả, chứ khồng có tác dụng tu tập, vì tác giả chỉ dịch chương I là chương tổng quan.
Nhưng cũng theo ông người Mỹ này, thì nội dung Ma ha chỉ quán có cấu trúc tương đương với Tiểu chỉ quán, có thể coi tiểu chỉ quán là cách tóm tắt, nhưng đầy đủ nội dung được mở rộng trong ma ha chỉ quán (nhưng mở rộng chủ yếu về lý thuyết). Vậy ta có thể sử dụng tiểu chỉ quán để xem 2 pháp tu tập mà đại sư Trí Khải đặt ra là CHỈ và QUÁN ra sao. Dưới đây những phân tích của tôi là theo bản dịch của thầy Thích Thanh Từ, tên bản dịch là « pháp yếu tu tập tọa thiền chỉ quán », mọi người có thể tìm thấy trên mạng, trong các site phật giáo tiếng Việt, tôi cũng lấy từ đó ra.

Điều đầu tiên người đọc có thể nhận thấy, đó là dù có hai phương pháp là CHỈ (dừng lại) và QUÁN (có cái nhìn và suy nghĩ đúng đắn tương đương với CHỈ), hai phương pháp này cài vào nhau, đan xen vào nhau. Điều này cũng không có gì đặc biệt, vì bản thân trong phật giáo nguyên thủy, cách tu tập cũng đi liền giữa ngồi thiền(tương đương với phương pháp CHỈ) và với niệm (tức là có suy nghĩ đúng đắn theo lý thuyết phật giáo, tương đương với QUÁN).
Như vậy TỌA THIỀN CHỈ QUÁN là một cách tu tập gắn liền ngồi thiền (thực ra không bắt buộc phải ngồi) và các suy nghẫm nhập tâm đi liền với nó có tác dụng định tâm đồng thời ứng dụng các nhận thức phật giáo. Dưới đây là các chủ đề cụ thể của nó (tôi chỉ nói tên chủ đề và nhận xét, vì tốt nhất là mọi người nên đọc nó nếu muốn tìm hiểu)
1- Cụ duyên
2- Trách Dục
3- Xả cái
4- Điều Hòa
5- Phương Tiện
6- Chính tu
7- Thiện phát
8- Tri ma
9- Trị bệnh
10- Chứng quả

Trong phần cụ duyên, sư muốn nói tới điều kiện không gian có tác dụng đầy đủ cho tu tập, như cách ăn mặc, ở chỗ vắng vẻ, gần gũi các thiện trí thức (người tốt), dứt bỏ các ràng buộc. Ở đây ta có thể thấy gần gũi thiện trí thức là ảnh hưởng của nhà Nho, giống như quan niệm « gần mực thì đen, gần đèn thì rạng. Ở chỗ vắng vẻ là ảnh hưởng của các chân nhân đạo Lão, ăn mặc ở đây sư không yêu cầu theo đạo phật nguyên thủy, vì do điều kiện khí hậu, còn phần dứt bỏ các rằng buộc là phật giáo, giống như khi vua Trần Nhân Tông, trong bài kệ chứng đạo của mình đã coi các mối nhân duyên như các dây bìm bìm, dây sắn, … phải cắt đứt để quay trở lại nội tâm
Trong phần Trách Dục là nói ngăn ngừa các hoạt động liên quan tới ngũ dục, tức là nhận thức sai lạc thông qua 5 giác quan, còn phần xả cái là ngăn ngừa các trạng thái nhận thức liên quan tới các biểu cảm tâm lý : tham dục, giận dữ, mê ngủ, sân hận, nghi ngờ. Như vậy hai điều Trách Dục và xả cái, nhằm vào làm trong sạch 6 nhận thức thống thường.

Điều hóa và phương Tiện. Đây là hai tiểu mục đặc trưng vì nó khác với cả Thiền Tông cũng như Thiền nguyên thủy, đó là trong điều hòa bao gồm cả điều hóa ăn uống, điều hòa ngủ nghỉ, điều hòa hoạt động thân thể, điều hòa hơi thở, điều tâm. Nhưng điều quan tâm tới trong điều hòa này thực ra là phép dưỡng sinh của đạo Lão. Phần phương tiện còn thú vị hơn. Đó là để tu tập, đại sư nói tới vấn đề ý chí, gồm 5 phần đó là có ham muốn xa rời vọng tưởng thế gian, tinh tấn kiên trì tập luyện, chính niệm (suy nghĩ đúng đắn), Xảo tuệ (có trí tuệ hướng về thiền định giải thoát), nhất tâm phân minh (nhất tâm quyết định tu tập).
Hai phần điều hòa và phương tiện này điều thú vị của nó là các biện pháp tu tập tổng thể, cùng với vai trò quan trọng của ý chí. Điều mà trong đạo phật nguyên thủy cũng có (chính tinh tấn trong bát chính đạo) hay trong đạo phật đại thừa (nhẫn nại, tinh tấn) nhưng phần nhiều ít được nhấn mạnh trong cách tu tập. Đặc biệt trong thiền tông, khi người ta hay quan niệm tu là quay về bản sắc tự nhiên, trong khi những điều mà đại sư nói ở mục phương tiện có thể bị coi là « tạo tác », « duy ý chí » không phải là ngộ. Tại sao đại sư lại nhấn mạnh vấn đề này ? bởi đơn giản con người có thể có 3000 tâm thức khác nhau như tôi nói ở trên, vậy điều gì khiến con người ta ở trạng thái Phật nếu không có cố gắng trong đời thường nếu không phải là có ý chí tu tập. Nói một cách khác, theo đại sư Trí Khải thì tu phật giáo là một quá trình tu tập học hành, rèn luyện, .. và điều này cũng tới từ Nho giáo (giống như con người rèn luyện thì sẽ trở thành quân tử, còn không sẽ là tiểu nhân)

Chính Tu và Thiện Phát. Phần chính tu này thực sự là phần tập thiền (không bắt buộc ở trạng thái ngồi, mà nó bao gồm cả thiền trong các hành động), còn phần Thiện phát thì vừa có các hành động như từ bi, hit xả, vừa có các cách quán tưởng theo như quán thân trong thiền nguyên thủy (satipathana, còn được gọi là thiền tứ niệm xứ)

Trị Ma Trị Bệnh. Đây là những tiểu mục có thể coi như là hệ quả giúp trị ma (bệnh tâm lý) vì nó giúp ta ổn định tâm lý hay trị bệnh. Và điều này liên quan nhiều tới đạo Lão hơn là hệ quả của tu tập phật giáo đơn thuần. Hiện tại một trong những phương pháp trị bệnh của đạo Lão là tập thở và quán hơi thở, điều hơi thở. Bản thân tôi cũng sử dụng chúng như là một cách tập thiền, trong khi tôi hoàn toàn không biết gì về phép chỉ quán này của đại sư, vì nó cũng là một phương pháp đông y đơn giản.
Cách làm của nó, là khi hít thở, thì quán tưởng điều khiển dòng khí đi qua các huyệt của cơ thể.Ví dụ khi hít vào thì quán tưởng rằng có một dòng khí đi từ hai lòng bàn tay vào ngực xuống đan trung (tức là điểm huyệt giữa phần lồng ngực) rồi dồn nó xuống đan điền (tức là huyệt dưới rồn hai đốt ngón tay), sau đó lúc thở ra thì điều khí đi qua hai chân qua lòng bàn chân ra ngoài. Tất nhiên tất cả sự điều khí này cảm nhận của tư duy tưởng tượng điều phối. Có thể làm thế trong tư thế nằm ngửa thư giãn hay đứng. Làm trong tư thế nằm (tôi gọi là ngọa thiền, ngọa là nằm) thì dễ hơn.

Chứng quả. Gọi là chứng quả, đại sư chủ yếu trình bầy nhân thức theo phương pháp Trung đạo mà tôi đã nói ở trên. Nhưng sư ứng dụng vào việc nhận thức chân tâm (trong khi tôi sử dụng để phân tích sự vật).

Tôi tóm lược cách thiền chỉ quán này, chỉ để giúp mọi người hiểu được thiền chỉ quán theo thiên thai tông của đại sư Trí khải là gì, để thấy phương pháp này không phải là cách tu tập ngồi thiền của Thiền tông, dù nó có chung cái tên là Thiền. Ngược lại nó lại có nhiều tương đồng với phương pháp thiền nguyên thủy (Thiền tứ niệm xứ). Nguyên nhân là cả hai pháp thiền này không coi ngồi thiền không là đủ mà thiền chỉ là ĐỊNH, phải có phần còn lại là TUỆ, mà TUỆ không thể có được nếu không có nhận thức, tư duy.
Ngược lại, Thiền tông lại coi ĐỊNH là mấu chốt, vì ĐỊNH TÂM sẽ làm ta trở lại bản nguyên chân tâm, mà bản nguyên chân tâm tức khắc có TUỆ. Trong thực tế, đây có thể do khái niệm dịch thuật tạo ra. Bởi như tôi đã nói ở trên khái niệm TÂM là dịch từ khái niệm citta (tiếng phạn ra). Trong khái niệm TÂM có phần HUỆ, phần trí thức, đã định được tâm thì huệ (trí tuệ) tự tỏa sáng. Ngược lại khái niệm Citta chỉ là tàng thức, như một dạng trí nhớ, ghi lại những nhận thức. Khái niệm này có nghĩa nhỏ hơn khái niệm TÂM như quan niệm của Đông Á.


--------------------
Tả Thiên Thanh



User is offlineProfile Card
Go to the top of the page
+
Phó Thường Nhân
post Hôm qua, 04:52 AM    
Đường dẫn tới bài viết này #27

Tả Thiên Thanh
Group Icon

Nhóm: Chánh tổng
Số bài viết: 7.025
Tham gia từ: 11-August 02
Thành viên thứ: 133

Tiền mặt hiện có : 49.018$
Số tuần chưa đóng thuế : 10

Bình chọn :



Đến đây tôi đã trình bầy một cách giản lược hình thức thiền CHỈ QUÁN của đại sư. Trước khi biết tới phương pháp này, tôi đã sử dụng thiền Tào động, vì thế sẽ nói ở dưới đây nhưng điều theo nhận xét của tôi là khác biệt, và tôi sử dụng thêm như thế nào.
Như đã nói ở trên phép tu tập này có nhiều điều gần gũi với thiền nguyên thủy, vì nó cũng có hai phần là CHỈ (tức là dừng các tư duy hay nhận thức hỗn loạn có tính chất tâm lý nếu nói theo kiểu hiện tại), và có phần QUÁN và phần này nhằm vào có tư duy, nhận thức đúng trong một không gian quan tâm rộng lớn hơn thiền nguyên thủy, vì thiền nguyên thủy với tứ niệm xứ chỉ quan tâm tới phân tích tư duy đúng đắn không có cái tôi(vô ngã), về thân xác không có tự tịnh, về tư duy, về tâm lý nhận thức.. trong khi QUÁN của đại sư liên quan tới cả các khái niệm đạo đức, điều tiết hơi thở, chỗ ở, quần áo, .. Nhưng về mặt cấu trúc phương pháp tu tập thì giống nhau, đó là có phần ĐỊNH (bằng CHỈ), và HUỆ (bằng QUÁN).
Chính vì thế mà hai phương pháp thiền nguyên thủy và CHỈ QUÁN tương đồng với nhau. Theo nhận xét của tôi, và giúp tôi áp dụng bổ xung cho cách tập thiền Tào động của mình, thì phép CHỈ QUÁN của đại sư bao trùm được phép thiền nguyên thủy.
Sự khác biệt giữa thiền Tào Động và thiền nguyên thủy hay thiền CHỈ QUÁN này rất rõ nét, vì theo thiền Tào động thì chỉ cần CHỈ tức là định được tâm, thì có nghĩa là người ta tức khắc có HUỆ(trí tuệ), hay nói cách khác phản ứng, phản xạ tự nhiên sẽ được coi là HUỆ. Đây thực tế cũng là điều tôi hoài nghi về phép thiền Tào Động, vì với tôi chỉ ĐỊNH không thì không sinh được HUỆ, mà nó chỉ có tác dụng giúp người ta nhận thức về HUỆ dễ dàng, chính xác, không có định kiến hơn mà thôi. Nói một cách khác, muốn tu tập phật giáo thì nhất định phải học hỏi giáo lý phật giáo chứ không thể bỏ qua.
Tại sao tôi lại đi tới kết luận như thế. Bởi phép định tâm (tức là ngồi Thiền) trong thực tế, ai cũng ngồi được nhưng nhận thức của họ sẽ không chỉ biến đổi vì điều này. Vào thời điểm thiền là mốt thời thượng ở phương Tây, không thiếu giáo sĩ thiên chúa giáo cũng nói họ cũng có thể ngồi thiền, nhưng điều này không khiến họ trở thành phật tử.
Một điều nữa, tập thiền Tào Động tôi thây có kết quả thực sự khi trong công việc tôi phải đối mặt với vấn đề cần giải quyết, tức là các vấn đề kỹ thuật, nhưng nó chỉ có tác dụng làm cho tư duy của mình nhanh nhậy hơn, không bị vướng vào các định kiến, nó giúp tạo ra một linh tính để định hướng cách giải quyết sự việc. Nhưng nếu không có nhận thức về việc mình làm, có hiểu biết nhận thức về vấn đề chuyên môn thì cũng không thể làm được.
Như tôi đã từng viết khá lâu, một trong những người giúp tôi đi vào thiền là một Thiền sư Nhật bản qua sách của ông bằng tiếng Pháp, Taishimaru. Để truyền bá thiền ông ấy đã chọn dậy ngồi thiền là chính, trước khi trình bầy các điều khác về giáo lý phật giáo. Như vậy có thể coi cách tiếp cận thiền này như dạng một phương tiện thiện xảo, để truyền bá phật giáo trong thế giới phương Tây của ông ta.
Sau này khi tôi tiếp tục tìm hiểu theo Đạo Nguyên (Dogen) là tổ sư thiền Tào Động Nhật bản, thì nhận xét trên của tôi, tôi thấy càng có cơ sở.
Sự tìm hiểu Đạo Nguyên và thiền Tào động cũng khiến tôi thấy trong hai dòng thiền Lâm Tế và Tào Động, thì thiền Tào động cũng cần có giáo lý hơn, do ứng dụng của nó trong đời thường ngược lại thiền Lâm Tế không có (hay ít có) điều này vì nó chỉ đi tìm cái KHÔNG.
Vấn đề là cái giáo lý mà thiền Tào Động tìm hiểu là gì, đến từ đâu, thì phải đến khi tôi tìm hiểu pháp hoa, đại sư Trí Khải, rồi kinh Lăng Già.. thì tôi mới hiểu rằng giáo lý đến từ các bộ kinh như Pháp Hoa, Hoa Nghiêm, đại niết bàn,Lăng nghiêm .. Trong đó ba bộ kinh Pháp Hoa và Lăng Già Lăng nghiêm là chủ yếu. Còn tại sao tôi lại coi trọng 3 bộ kinh này thì hoàn toàn chỉ do nhân duyên tạo ra, tôi kiếm được chúng bằng sách giấy (thời mà kinh điển trên mạng chưa dễ dàng).
Sự ngộ theo giáo lý này chính là « Khai , thị, ngộ, nhập, trí kiến phật » nói ở chủ đề này. Từ đó nó dẫn tới vấn đề TÂM, và sau đó là vấn đề NHÂN DUYÊN trong một thế giới hiện tượng, mà mỗi hiện tượng đều có thể biểu ta đầy đủ bằng 10 như thị (tôi cũng nói ở chủ đề này).


--------------------
Tả Thiên Thanh



User is offlineProfile Card
Go to the top of the page
+
Phó Thường Nhân
post Hôm qua, 04:53 AM    
Đường dẫn tới bài viết này #28

Tả Thiên Thanh
Group Icon

Nhóm: Chánh tổng
Số bài viết: 7.025
Tham gia từ: 11-August 02
Thành viên thứ: 133

Tiền mặt hiện có : 49.018$
Số tuần chưa đóng thuế : 10

Bình chọn :



Chính vì trong mỗi HIỆN TƯỢNG do NHÂN DUYÊN tạo ra đều là biểu hiện của phật pháp, cho nên khi tìm hiểu kinh Pháp Hoa, có một bộ kinh được coi như phần mở đầu, đó là kinh « Đại Thừa vô lượng nghĩa ». Bộ kinh ngắn gọn này (có bản dịch tiếng việt rất tốt của ông Nguyễn Minh Tiến) có thể coi là sự mở rộng của phẩm phương Tiện trong kinh Pháp Hoa, có thể tóm tắt là Phật giảng vô lượng nghĩa khác nhau (vì mỗi nghĩa như nói về một hiện tượng) nhưng chúng đều là phật pháp. Nói chính xác hơn nữa, đó là phần một phật tử cảm nhận khái niệm bản thể duy nhất là KHÔNG trong vô vàn hiện tượng của xã hội, tự nhiên trong từng trường hợp cụ thể được gọi là tùy duyên. Nó là về chuyển nhận thức giác ngộ đi từ KHÔNG đến SẮC. Ngược lại các công án như trong thiền Lâm Tế có tác dụng ngược lại, đó là từ vô vàn các hiện tượng nhiều khi vô nghĩa không có thật chỉ là ảo tưởng tâm lý ( như ví dụ hay nói là lông rùa, sừng thỏ) lại khiến dẫn người phật tử về cảm nhận KHÔNG.
Nhưng trong đời sống ứng dụng, cái người ta hay gặp là hiện tượng và phải giải quyết nó. Chứ còn nếu biết nó là KHÔNG thì có thể định tâm nhưng vô ích, không giải quyết được vấn đề.
Từ quan niệm mỗi hiện tượng đều là phật pháp (hay ẩn chứa phật pháp) này nó sẽ dẫn người ta tới một nhận thức nữa, có thể coi là NGỘ (theo quan niệm và ứng dụng của tôi), đó là dẫn người ta tới LÝ SỰ VÔ NGẠI PHÁP GIỚI và SỰ SỰ VÔ NGẠI PHÁP GIỚI như một thế giới quan.
Trong ngôn từ phật giáo, có một khái niệm rất quan trọng đó là PHÁP (trong tiếng Sancrit nguyên bản, hay dịch ra tiếng phương tây được gọi là Darma), nghĩa của nó trong tiếng việt hiện đại là hiện tượng (SỰ) nhưng cũng có thể là quy luật (LÝ). Sở dĩ như vậy bởi khi một sự việc, sự vật được mô tả bởi 10 như thị, thì có phần như thị chỉ ra hiện tượng như TƯỚNG (hình tướng), THỂ, QUẢ nhưng cũng có những như thị chỉ ra lý do , nguyên nhân, động lực như NHÂN, DUYÊN, TÁC, LỰC..tức là lý do hay quy luật khiến nó tồn tại nói theo từ vưng hiện đại. Nói một cách khác một sự vật, sự việc để làm cho nó tồn tại phải có lý do (LÝ) và sự thể hiện xẩy ra ra sao (SỰ), nhận thấy rằng với mỗi sự vật sự việc hai mặt này không tách rời nhau gắn bó với nhau, quan hệ với nhau tức là LÝ SỰ VÔ NGẠI. VÔ NGẠI ở đây là muốn nói tới không mắc kẹt vào một định kiến, NGẠI ở đây là chướng ngại, không phải là lười biếng còn PHÁP GIỚI đây là toàn thế giới ta đang sống, là thế giới hiện tượng (tiếng Sankrit Darmadattu). Chứ GIỚI ở đây là thế giới
Thế còn SỰ SỰ VÔ NGẠI PHÁP GIỚI, đó là hai hiện tượng sự vật khác nhau có thể liên quan tới nhau theo luật NHÂN QUẢ (đây cũng là hai điều trong như thị). Cảm nhận được thế giới ta đang sống là tập hợp những hiện tượng liên quan tới nhau, tạo tác ra nhau thì là SỰ SỰ VÔ NGẠI PHÁP GIỚI.
Chính vì thế giới ta đang sống là thế giới hiện tượng, do LÝ, SỰ tương tác với nhau mà ra nên chúng không «SINH RA », hiểu ở đây là có một ông thần hay thượng đế nào tạo ra nó, giống như đạo Thiên Chúa hay hồi giáo, Do thái giáo quan niệm. Vì thế chúng đều VÔ SINH, và người phật tử sau khi thâm nhuần LÝ SỰ VÔ NGẠI PHÁP GIÓI rồi SƯ SƯ VÔ NGẠI PHÁP GIỚI rồi thì sẽ hiểu được chiêm nghiệm được VÔ SINH PHÁP NHẪN. NHẪN ở đây là đón nhân, chấp nhận, PHÁP ở đây là quy tắc, nguyên lý, VÔ SINH là tính chất của mọi hiện tượng về bản tính tuyệt đối không sinh không diệt. Khi đã VÔ SINH pháp nhẫn thì cảm nhận được sự thường tồn(VÔ SINH) của sự vật, trong đó có ta tức là GIẢI THOÁT của đạo Phật.
Nhưng điều tôi nói ở trên đều có thể suy ra từ kinh Pháp Hoa, Lăng Già, Lăng Nghiêm, và cũng theo các kinh như Hoa Nghiêm, Đại niết bàn. Nhưng hai kinh cuối cùng thị tự tôi không chứng nhận được vì chưa đọc.
Như vậy qua tìm hiểu học tập kinh Pháp Hoa, và các bộ kinh trên, tôi đã bổ xung được cho tập Thiền Tào động của mình những lô gic triết học trên từ 10 NHƯ THỊ tới TÂM tới VÔ SINH PHÁP NHẪN thông qua các cửa LÝ SỰ VÔ NGẠI PHÁP GIỚI và SỰ SỰ VÔ NGẠI PHÁP GIỚI, với tôi đây là cấu trúc của trí tuệ phật giáo (HUỆ) giúp một phật tử NGỘ đạo Phật trong ứng dụng những lô gic trên vào cuộc sống.
Nếu có thể phân loại và định vị 4 loại thiền tồn tại trong đạo Phật : Thiền nguyên thủy, thiền CHỈ QUÁN của Thiên Thai Tông và hai dòng Thiền còn lại của Thiền Tông là Tào động và Lâm Tế, thì trên một trục hoành mà cực trái là thế giới bình thường, cực phải là tính Không của sự vật thì ta có thể sắp xếp như sau :
Cực Trái(hiện thực xã hội) – Thiền Nguyên Thủy – Thiền CHỈ QUÁN – Thiền Tào Động -Thiền Lâm Tế - Cực phải (tính KHÔNG của hiện thực xã hội).
Cách sắp xếp này tôi cũng học theo phương pháp của đại sư Trí Khải, nhằm sắp xếp lại các thể loại thiền cho dễ sử dụng. Nhưng khác với đại sư phân chia Phật giáo theo 5 thời kỳ, theo trục dọc, để chứng minh càng về sau các thời Phật giáo càng tinh tế hơn theo quan niệm đại thừa hơn phật giáo nguyên thủy, cách sắp xếp của tôi về thiền chỉ như bầy công cụ tu tập ra trên mặt bàn, và tùy theo người ta muốn gì thì chọn lựa để sử dụng, không ai cấm dùng công cụ này mà không dùng công cụ kia. Nó cũng chỉ ra rằng, với tôi, Thiền ở Đông Á bắt nguồn từ Thiên Thai, là điểm khởi đầu của giao lưu nhận thức giữa phật giáo tới từ Ấn độ và đạo Nho, đạo Lão. Thiền CHỈ QUÁN của Thiên Thai tông, và Thiền Tào động có sự giao thoa giữa nhận thức Ấn độ và nhận thức Đông Á (Nho, Lão) hài hòa nhất. Vì thế có thể coi hai cách tập thiền này là Trung đạo so với hai cực là Thiền Nguyên Thủy và Thiền Lâm Tế.
Nhưng không ai cấm ta sử dụng đồng thời nhiều cách tập Thiền. Ví dụ. Do tôi chỉ Thiền chủ yếu trong các phương tiện giao thông công cộng, hay lúc nghe nhạc, uống trà. Thì lúc nghe nhạc có thể sử dụng thiền Tào động. Có nghĩa là chỉ dừng tư duy để cảm nhận 100% âm nhạc tác động vào mình. Ngược lại khi ngồi tập thiền trong phương tiên giao thông công cộng, thì có thể sử dụng kỹ thuật của Thiền nguyên thủy, tức là tập trung quán tưởng vào đỉnh mũi mình, và đếm hơi thở, vì chẳng có gì thú vị khi để lọt vào tai (dù không sử lý dữ liệu tư duy) tiếng nói, âm thanh xung quanh. Còn nếu nó lọt vào tai, thì không sử lý. Khi nằm ngủ, trước khi ngủ có thể tập thiền kiểu Thiên Thai (CHỈ QUÁN), tôi gọi là ngọa thiền (ngọa là nằm), khác với tọa thiền là ngồi thiền (tọa nghĩa là ngồi). Trong cách ngọa thiền này có thể nằm nghiêng, hay nằm ngửa, tôi sẽ quán điều hòa hơi thở như dòng khí đi qua các huyệt trong người (phương pháp này hơi giống tập khí công quán hơi thở của đạo Lão).
Còn tất nhiên khi tôi tìm hiểu giáo lý đạo phật, thì có nghĩa là đang QUÁN về HUỆ.
Lấy ví dụ sơ sơ như vậy để nói rằng với tâm lý và văn hóa VN, tôi có xu hướng tổng hợp hơn phân tích. Và tôi cũng tập thiền và nghiên cứu phật giáo như vậy.
Như vậy 10 điều trong chỉ quán của đại sư, điều gì ứng dụng hợp lý thì có thể dùng. Bản thân phương pháp thiền CHỈ QUÁN đã là một hình thức tổng hợp


--------------------
Tả Thiên Thanh



User is offlineProfile Card
Go to the top of the page
+
« Bài viết cũ hơn · Thiền Học & Tôn Giáo · Bài mới tiếp theo »
 

3 Trang < 1 2 3
Topic Options
2 người đang chống cằm trầm tư ngâm cứu chủ đề này (2 khách vãng lai và 0 thầy mo tàng hình)
0 Thành viên:
 

Xem diễn đàn ở dạng TEXT - PDA - Pocket PC