Langven.com Forum

Giúp đỡ - Lục lọi - Dân l ng - Lịch
Full Version: Quyên Nhé
Quán nước đầu làng Ven > Sáng Tác - Thảo Luận - Phổ biến kiến thức > Văn Học & Ngôn Ngữ
Phó Thường Nhân
Tán phét theo tài liệu của bác Toanly

leuleu.gif leuleu.gif leuleu.gif

Anh thân mến !
Chắc anh sẽ ngạc nhiên lắm, khi nhận được bức thư này. Cuối cùng thì em đã đến nơi em định đến. Nhưng thời gian đã trôi qua, nhiều chuyện đã xẩy ra. Từ cái buối tối hôm ấy, khi Anh và Em mỗi người một ngả, đến tận bây giờ nhiều lúc em vẫn còn tự thấy ngạc nhiên là tại sao mình còn ở nơi đây. Viết thư cho anh mà em cảm thấy có điều gì đó như là hoang tưởng, không thực.
Đáng nhẽ em phải viết thư cho anh từ lâu rồi. Nhưng không làm sao tìm được địa chỉ của Anh. Em vẫn nghĩ anh còn đâu đó bên Đông Âu, nhưng không ngờ Anh đã quay lại Việt nam.
(Kiểm duyệt của người viết. Bỏ một đoạn)

Từ biệt Anh
QUYÊN


Mùa thu ở phía Bắc nước Đức. Khi trời đã trở nên lạnh lẽo. Bầu trời đặc quánh một mầu mây xám, nặng trĩu hơi muối của biển Ban tích. Những lá cây dương đã bắt đầu vàng rộm. Rừng ôn đới vào thu thật đẹp. Nó có mầu đỏ rực, và vàng thắm. Đâu đó xen lẫn mầu xanh thẫm của những cây thông. Rồi một lúc nào đó, tuyết sẽ rơi. Đông sẽ đến. Cả bầu trời và mặt đất sẽ hoà lẫn vào nhau trong một mầu trắng, lãnh lẽo. Chỉ còn lại những cành cây trơ trụi, khẳng khiu vạch lên trên mầu trắng của tuyết những đường gân chằng chịt như muốn nói rằng cuộc sống vẫn ngầm chẩy ở đâu đó, đợi mùa xuân về.

Thiếu phụ cữ khoảng 24, 25. Nét mặt tròn trĩnh có một nét đượm buồn. Nàng có một đôi mắt lặng lẽ. Đôi mắt đen to như mắt nai; Sống mũi nhỏ, nhưng cao tạo một nét dịu dàng thanh tú trên đôi môi mọng, cong lên như đang dỗi.
Nàng tì tay trên chiếc nôi trẻ con. Một cậu bé kháu khỉnh đang nằm. Nó có nhiều nét giống mẹ. Mắt to đen như mắt nai. Mũi thẳng, nhưng lại có một cái cằm vuông cương nghị, không giống cái cằm tròn trịa của nàng. Chú bé đang đạp chân vào thành nôi, như tìm cách gây sự chú ý. Người mẹ quay lại, luồn tay vào mái tóc tơ rậm rạp của con mình. Chú bé hồn nhiên đưa cánh tay với những ngón tay mũm mĩm, mập mạp dường như muốn giữ lấy những ngón tay búp măng thon dài, trắng trẻo của người mẹ. Chừng không ngăn cản được những cái vuốt ve âu yếm. Chú cười phá lên, để hở hai cái răng cửa nhú ra nhỏ xíu như hay hạt ngô sữa. Thiếu phụ quay lại nhìn con tư lự.

Cũng vào một lúc trở mùa như thế này. Nàng cùng một đoàn người vạch rừng ra đi. Đó là giai đoạn cuối của một chuyến đi gian nan. Nó cũng là thời điểm mọi người chờ đợi, lo lắng hồi hộp từ bao nhiêu tháng ròng. Mọi người đã chịu cảnh ngồi trong thùng xe tải, bị lèn như cá hộp, đến ngộp thở. Mọi người đã chiụ đựng những buổi tối, nằm ngủ chèn lên nhau trong những căn hộ mà không ai biết địa chỉ. Mỗi người chỉ có một gói mì ăn liền để gặm như lương khô. Họ đã đi từ Trung quốc, qua Mạc tư khoa, để cuối cùng đến góc rừng biên giới Ba lan này.

Tất nhiên, trong lúc đi đó, những tên địa danh chỉ là những dấu hiệu an ủi, để biết rằng họ vẫn tiến dần lên phía trước. Còn cảnh vật quen thuộc chỉ là tấm bạt tối mù, của những chiếc xe tải, trong đó ẩn hiện những khuôn mặt lo âu, mệt mỏi, khắc khoải.

Mọi người chờ đợi trong một căn nhà gỗ ở sâu trong rừng. Căn nhà của những người thợ rừng bỏ hoang không biết bao lâu. Toàn bộ căn nhà được làm bằng những khúc gỗ thông lớn, được lóc trụi vỏ, để mộc. Trong lòng nó, ở một góc là một khoang nhỏ được dùng làm bếp. Đối diện với bếp là một cái bệ cao, được xếp bằng các thanh gỗ được xẻ lát. Trên đó , ai đó đã vứt lên một cái đệm giường cũ. Ở mép nó đã sờn, để lộ những dây lò xo đã xỉn mầu.

Mọi ngưòi đều mệt mỏi, lầm lỳ. Không ai nói với ai một câu. Chỉ có kẻ sẽ đưa họ vượt biên đi qua đi lại. Hắn lẩm nhẩm đếm số đầu người như một chàng cao bồi đếm số đầu gia súc. Ánh mắt của hắn nhìn chằm chằm vào từng người, như muốn chụp ảnh họ. Cũng có thể đó là cách hắn lượng sức chịu đựng của mỗi người, trướckhi giải thích cho họ điều cần phải làm. Mọi chuyện cũng đơn giản, khác nhiều với sự tưởng tượng. Cái biên giới Ba Lan – EU này vốn dĩ trước là biên giới xã hội chủ nghĩa, nên nó không có dấu vết bom mìn, tháp canh gì cả. Chỉ có một dòng sông, ngăn hai bờ làm biên giới. Nơi đây cũng là chính giữa bình nguyên Đông Âu. Một vùng đất nghèo, cằn cỗi chỉ có rừng cây bạnh dương và cỏ dại. Việc thống nhất nước Đức đã biến nó trở thành ranh giới giữa hai thế giới. Một bên là một thế giới đã chết đi, nhưng cái mầm chưa mọc lên. Và cũng chưa chắc nó được mọc lên theo đúng ý người ta hi vọng, mà có thể là một sự thất vọng mới. Còn một bên, sau những ngày hồng của sự thống nhất, là những điều người ta không tính tới. Thất nghiệp, tệ nạn, sự tiêu điều về kinh tế bên trong và vẻ hào nhoáng bên ngoài được nuôi bằng tiền trợ cấp.

Khu biên giới vì thế trở thành trọng điểm của các tay buôn lậu. Buôn người, buôn thuốc lá, buôn đủ mọi thứ hàng mà sự chênh lệch của thuế khoá giữa hai thế giới đã khiến nó trở thành món lợi lớn. Nó cũng trở thành một thứ nomanland, của mọi nỗi nguy hiểm.
Giai đoạn cuối cùng là phải vượt qua con sông. Bình thường, người ta có thể bơi qua nó dễ dàng. Nhưng vào mùa thu này, khi nhiệt độ ban đêm bắt đầu xuống dưới số không, thì điều đó là không tưởng. Cũng như không phải ai cũng biết bơi, và đủ sức bơi. Người ta phải dùng mảng. Đó là những chiếc xăm ô tô được thổi phồng lên, rồi được buộc chặt vào một cái phản gỗ gỗ, làm bằng cánh cây rộng chừng khoảng một chiếc chiếu. Một lần đi như vậy sẽ được khoảng chục người.
(còn tiếp)

Phó Thường Nhân

HẮN,
Lúc đầu hắn cũng chẳng để ý đến nàng. Từ mấy năm nay, bắt đầu từ lúc bức tường Berlin xụp đổ, hắn đã trấn cửa này. Lúc bức tường sụp đổ, hắn cũng bí ghê lắm. Trước đây hắn sang làm xuất khẩu lao động sang Nga. Nhưng trong một xã hội mà cái gì cũng thiếu, đặc biệt là đồ tiêu dùng, thì đi buôn lợi hơn. Cuộc đời lao động chân tay không phải nghề của hắn, cũng chẳng phải là điều hắn mong ước. Hắn đi lao động vì đấy là cơ hội đổi đời; « làm trai cho đáng nên trai Phú xuân cũng trải, Đồng nai cũng từng ». Vợ hắn lại còn đi lao động từ trước. Hai người không có con cái. Vậy thì tội gì mà ngồi bám lấy cái đất Hà nội, chờ từng chuyến hàng vợ gửi về, để rồi ngồi ăn tục nói phét, chửi đời.

Thế là có sẵn của nả của vợ gửi, hắn bán sạch. Rồi chạy cửa nọ cửa kia, xin được một xuất lao động. Chứ có phải hắn thích lao động đâu. Sang đến Nga, lúc đầu cũng thích, cái gì cũng lạ. Chỉ phải cái đồ ăn uống quá dở. Hắn đi vặn bù loong trong nhà máy zin ba cầu được vài tháng, thì bắt đầu đánh quả. Hắn đánh hàng hoá quần áo cho người Nga. Đánh rau quả, mì gói, thực phẩm cho người Việt. Để khỏi mất chỗ làm, hắn trả luôn tiền thuê người làm ca thay hắn. Trả từ đội trưởng tới, tới thằng làm thuê. Đời hắn thế là lên hương.

Khi Liên Xô không còn, thì lao động cũng không còn. Cũng may, trời lại sinh ra cái biên giới này. Thế là hắn, sẵn có dây buôn từ trước, chuyển sang buôn đồ mới. Trước buôn hàng, giờ buôn người. Buôn người còn lãi hơn buôn hàng.

Hắn chẳng để ý đến Nàng, mặc dù trông nàng cũng khá xinh xắn. Con gái đi theo đường dây này cả đống. Và cũng thành lệ, chẳng có mấy người đi thoát mà còn nguyên vẹn. Cái này thì không phải hoàn toàn là do hắn, mà do mấy băng Nghệ An, Quảng bình. Bọn đó không những ăn tiền mà còn ăn cả người.

Dù sao thì Nàng hình như không đi một mình. Nàng đã có « bảo kê ». Cái thằng cha bảo kê đó, trông mặt búng ra sữa. Loại mới bước chân vào đời. Hai người cứ ngồi dính vào nhau. Hắn thốt nhiên thở dài, « thân gái dặm trường ».

*****

NÀNG,
Nàng đang thiếp đi trong giấc ngủ,mệt mỏi, bỗng giật mình choàng dậy. Một bàn tay đàn ông, cứng rắn bịt lấy mồm khiến nàng ngạt thở. Một bàn tay còn rõ mùi thuốc lá. Mùi thuốc lá lạnh, ẩm nước , ám vào tay, có một mùi tanh hôi ghê sợ. Mùi thuốc làm nàng ngạt thở, lợm giọng. Rồi một bàn tay khác đang lần mò trong người Nàng. Bàn tay lạnh, nhớp nháp , nhầy nhụa mồ hôi, trơn như làn da một con nhái. Tưởng như có một con lươn, trơn tuột đang mò mẫm tìm kiếm trên da thịt nàng. Nàng muốn vùng ra mà không được. Nàng có cảm giác như lúc bé, khi bị sốt cao. Có một cái gì đó đè Nàng xuống, nặng nề, khiến Nàng không thể hất ra. Nàng muốn hét lên, nhưng bất lực.Trong đầu nàng như có những đám mây đen đang ùn ùn kéo tới, bất tận. Rồi cơn đau nhói. Rồi tiếng thở nặng nề. Có tiếng kẽo kẹt của dây lò xo đệm giường. Những cái dây lò xo bị nén xuống, uằn ẹo, run rẩy, chịu đựng, rồi lại nẩy lên theo quán tính vô tình của cơ học. Để rồi nó lại bị nén xuống, uằn ẹo, run rẩy, chịu đựng.Cứ như thế, trong một khoảng thời gian dài như vô tận. Tiếng kẽo kẹt đập vào đầu nàng, hiện rõ từng âm thanh như ai đang đánh vần, nhói vào óc, oang oang, chói gắt. Như Nàng đang bị cái loa của phường ghé xát vào tai mà gọi. Tiếng kẽo kẹt vang lên thản nhiên trong đêm tối, như tiếng người rên rẩm. Người nàng mềm nhũn đi.
Tất cả trôi qua như một cuộc mộng du. Đến lúc nàng tỉnh hẳn lại, phải định thần một lúc Nàng mới nhận ra mình đang ở đâu. Nàng đang nằm trên một cái nệm. Đối diện góc nhà là cái bếp. Trời tối, nhưng Nàng vẫn có thể nhận ra bức tường làm bằng những thân cây tròn, ghép vào nhau, để mộc.
Căn nhà trong rừng hoang.
Nàng nhớ lại. Đoàn người lặng lẽ ra đi. Họ nấp ở trong đám sậy, bên bờ sông. Khoảng sông hiện ra trước mặt, tĩnh lặng, không một bóng người. Nhóm người thứ nhất đã đặt chân xuống mép nước. Có tiếng xuýt xoa khe khẽ vì lạnh. Họ chen nhau leo lên cái mảng. Mọi người trên bờ nín thở nhìn theo cái mảng chòng trành như chực lật trôi dần ra giữa dòng. Kẻ đưa người cũng ở trên cái mảng. Hắn có vẻ là dân sông nước. Với một thân cây gỗ dài, hắn khéo léo hướng tấm mảng sang bờ bên kia biên giới.
Thốt nhiên có tiếng vè vè ở đâu đó, rồi một luồng đèn pha chói loá mắt chiếu ra giữa sông. Luồng đèn cứ cất cao dần, để rồi người ta nhìn thấy rõ đó là một chiếc trực thăng của cảnh sát. Chiếc máy bay lừ lừ xuất hiện theo chiều thẳng đứng, Rồi có tiếng loa của cảnh sát réo gọi bằng một thứ tiếng lạ tai. Mọi người hốt hoảng , hoảng loạn bỏ chạy, như một đàn kiến bị vứt vào chao nóng. Nàng cũng vùng chạy theo bản tính. Trong cảnh hỗn loạn, nàng còn kịp nhìn thấy kẻ đưa người đã kịp nhẩy xuống nước, để mặc cái mảng xoay tròn hoảng loạn giữa dòng.
Nàng xấp ngửa ngã dúi vào một bụi cây. Thực ra nàng muốn chạy nữa, để thoát khỏi cái cảm giác của ánh sáng đèn pha chiếu lên người mình, đang lột trần trụi mình ra. Lúc này không chỉ có trực thăng, mà đâu đó còn có tiếng còi hú của xe cảnh sát. Tiếng đèn pha ô tô, tiếng chân người. Các loại tiếng người nghe lạ tai.
Nàng xuýt buột miệng hét lên, khi thấy một bóng người hiện ngay cạnh mình. Hắn giơ tay ra hiệu cho Nàng im lặng. Người hắn ướt lướt thướt, như một con hải ly vừa lặn dưới sông lên. Nước chẩy ra lòng thòng từ vạt chiếc áo Nato. Hoá ra đó là kẻ đưa người qua biên giới. Hắn đưa tay lên ra hiệu cho Nàng yên lặng « Nằm im không chết giờ ». Bàn tay hắn thoảng mùi khói thuốc lá,ngấm nước tanh lạnh.

(còn tiếp)
Phó Thường Nhân
HẮN,
Chẳng phải lần nào vượt biên cũng trót lọt. Cảnh sát càng ngày càng có nhiều kinh nghiệm. Không hiểu sao lần này hắn có linh tính một điều gì không ổn. Có thể là do ánh mắt của cô gái ban chiều. Nàng cứ nép vào cái thằng mặt búng ra sữa kia như tìm một điều gì an ủi, che chở. Cái lưng cưng cứng, ươn ươn kia nói lên nhiều điều. Hắn là kẻ có kinh nghiệm. « Có lẽ phải khoảng 2 tháng rồi ». Hắn thở dài « thân gái dặm trường ».
Đầu hắn tưởng như đang vỡ bung ra. Có cái gì đó nhói buốt ở trong. Nhưng cơn nhói buốt trào lên như những cơn sóng bất tận, bền bỉ, không ngừng nghỉ. Người hắn nóng hầm hập.
Mẹ kiếp, chắc lần này hắn bị tụi buôn thuốc lá bẫy. Chúng nó xì ra để thu hút cảnh sát, để rồi thong dong tuồn bè thuốc ở mạn trên sông. Nhưng đi buôn là thế. Lần trúng quả đậm, lần mất sạch sành sanh. Hàng người dù không phải là hàng hoá, cũng phải nằm im ép xác một thời gian mới hồi phục đường dây được. Chừng nào còn hai thế giới, chừng đó còn hàng người. Vô tận, bền bỉ. Nhưng hắn còn có thể trụ bao lâu nữa.
Một làn sóng nữa lại trào lên, nuốt chửng lấy hắn. Hắn cảm thấy ngột thở, như bị dìm dưới đáy nước. Hắn muốn ngoi lên, hắn ngáp ngáp như muốn hớp lấy một cái bong bóng khí. Lồng ngực hắn như bị một gọng kìm thép xiết lại. Hắn vùng vẫy, đập phá, giãy dụa.... Những làn sóng. Những làn sóng lạnh ngắt, ngột ngạt như cuốn hắn đi, nhấn hắn xuống. Hắn rùng mình, run lập cập vì lạnh.
Rồi hắn thoát được lên bờ. Hắn hoàn hồn, hắn thở nghí ngóp như con cá quả nằm trên trên sạp cá, nóng ran, khô cháy dưới anh mặt trời, trong buổi chợ phiên lầm bụi.
Hắn thấy nét mặt một cô gái hiện ra. Hắn đưa tay với. Nhưng nét mặt cô ta lúc xa lúc gần, lúc ẩn lúc hiện, chập chờn như bóng người trong đêm. Hắn thèm uống nước. Khát.

*************
NÀNG,
Đã hai ngày nay kẻ đưa đường bị sốt, nằm mê man ở góc nhà. Hắn ú ớ, giẫy đạp như một con thú bị trúng thương. Hắn lầm bầm những điều gì đó, mà chỉ có mình hắn hiểu được. Chắc chắn hắn đã bị lạnh do nằm ngâm nước dưới sông cả tiếng đồng hồ để tránh cảnh sát. Nàng tránh nhìn hắn. Nàng ghê sợ.
Nhưng ở giữa rừng hoang này, chẳng có một ai. Khoảng rừng không rộng mênh mông gì. Nó chỉ là một vạt rừng biên giới. Đây là rừng nhân tạo, trồng lại , không phải là rừng nguyên sinh. Rừng châu Âu là một thứ rừng nghèo nàn, không thể kiếm được bất cứ cái gì nuôi sống con người. Giống như một loại sa mạc xanh. Nàng biết, chỉ cần đi bộ khoảng 3, 4 Km là sẽ vào tới chỗ có người, có phố xá. Nhưng nàng là một kẻ vượt biên, chui lủi, nàng cũng không biết tiếng, hoàn toàn không biết định hướng.
Dù sao cũng phải làm một cái gì đó. Nàng lục lọi khắp căn nhà. Tất cả vỏn vẹn chỉ còn mấy gói mỳ để sót lại. Cốc, nồi và một ít bát đũa linh tinh, không thành bộ. Một cái bếp ga cũ kỹ, diêm và bật lửa. Một gói thuốc lá hút dở, có cái tên hiệu Ba lan khó đọc với đầy những chữ « z » và « w » đứng liên nhau.
Chỉ có cách lấy khăn ướt chườm lên trán hắn cho hạ hoả. Làm như thế có vẻ hắn dịu đi được một chút. Hắn đã nằm yên yên, bàn tay không còn giơ lên bắt chuồn chuồn nữa. Nàng tránh đụng vào tay hắn. Cái cảm giác bàn tay trơn như da nhái. Hắn thở khò khè, tròng mắt đỏ rực, đờ dại, loá những tia sáng như đốm lửa đang bấu víu vào sự sống.
Thốt nhiên hắn run lên lập cập. Nàng phải lấy tất cả những gì có thể coi là vải vứt lên người hắn. Trong lúc rũ cái áo Nato, tình cờ nàng thấy rơi ra một hộp dầu cao con hổ. Nàng nhặt lên, không khỏi cảm thấy một cảm giác khó chịu. Nàng không muốn nhìn thấy. Nàng như muốn có một cái gì đó, có thể làm cớ để không cứu hắn. Nàng muốn hắn chết. Nàng không muốn chạm vào da thịt hắn. Nhưng hộp dầu cao đã rơi ra, lăn tròn trên sàn đất, nẩy lên trên đám quần áo, như một con mắt mở tròn trớ trêu, thách thức. Hắn vẫn run lên lập cập, lẩy bẩy như con thú hoang bị thương. Dù sao thì cũng phải làm một cái gì đó. Nàng lật sấp hắn xuống, cố cưỡng lại một cảm giác ghê ghê nơi tay, vén lưng áo hắn lên.
Đây là lần đầu tiên Nàng nhìn thấy da thịt hắn. Những bắp thịt đang run lên, đẫm mồ hôi vì sốt. Nhưng bắp thịt, làn da xa lạ, vô cảm. Nhưng cũng chính cái thân thể lạ huắc ấy đã như bóng đè, từng dính vào da thịt Nàng.
Nàng phết dầu lên lưng hắn, dọc theo cột sống. Với cái vỏ hộp dầu, nàng đánh gió cho hắn. Trời đã sáng. Dưới ánh sáng nhợt nhạt của ban mai, từng lần huyết đỏ tụ lại, nổi lên , đen dần, loang lổ, bầm tím khắp lưng. Các máu độc đang từ thân thể hắn thoát ra, như trút nghiệp. Cơn sốt có vẻ dịu đi.

*************
HẮN,
Hắn bừng tỉnh khi mặt trời đã quá ngọ. Đói. Hắn nhìn xung quanh. Cạnh đó, nàng đã mệt mỏi ngủ thiếp đi. Trong tay vẫn còn cầm hộp dầu. Nàng ngủ say sưa, tội nghiệp như một đứa trẻ. Nàng nằm co quắp như một con tôm. Ai trong giấc ngủ cũng đáng yêu. Một người con gái trẻ, đang còn nét thơ ngây, ngủ lại càng đáng yêu.
Hắn thở dài. Cái chỗ này không phải là nơi giành cho đàn bà con gái. Cuộc sống chui lủi là một cuộc sống thú rừng. Luật rừng. Dù hắn không muốn luật rừng, hắn cũng không thể chống lại được. Nếu hắn không dùng luật rừng, thì sẽ bị luật rừng đào thải. Đất thuộc về rừng, luật là luật rừng, không có chỗ giành cho luật người. Không biết cái tên bảo kê mặt búng ra sữa của nàng đâu. Hắn gọi là bảo kê, nhưng trong đời thường người ta có thể gọi là chồng, hay một từ gì đó tương tự. Nhưng bảo kê mạnh hơn chồng. Bảo kê là tên gọi của người đàn ông thật sự hành động theo luật rừng ở trong rừng.
Hắn nhớ tới ngày đặt chân tới nước Nga. Vợ hắn ra đón hắn ở sân bay. Lúc đầu hắn không hiểu, nhưng rồi hắn hiểu. Những gì vợ hắn gửi về VN cho hắn ăn tục nói phét lúc đó cũng có giá. Một nguời phụ nữ cô đơn ở xứ người, sống trong môi trường luật rừng tất nhiên phải có bảo kê.
Luật quy định hành xử con người, chứ chưa chắc con người đặt ra luật. Từ đó hắn đã bỏ đi, sống theo luật rừng.

Bố hắn vốn là một người có vốn Nho học. Ông sống bằng nghề thầy lang bốc thuốc. Lúc nhỏ, khi hắn còn lẩn mẩn ngồi cạnh bố nhìn ông bốc thuốc, bắt mạch, ông vẫn chỉ tay lên tường, chỉ cho hắn bức thư hoạ có viết 6 chữ « THIÊN HẠ ĐẠI NHÂN VIẾT SINH » (điều nhân lớn nhất trong thiên hạ là cứu người), rồi bắt học thuộc.

(Còn tiếp)
Phó Thường Nhân
HAI NGƯỜI

- Cô không thể ở đây lâu được. Để tôi đưa cô qua sông. Sang đến bên kia bờ, cô cố gắng tránh gặp người. Cố đi sâu vào nội địa, càng sâu càng tốt. Lúc đó cô có thể tự tới thẳng trình diện cảnh sát. Cô không có giấy tờ, họ không làm gì được cả. Họ sẽ đưa cô vào trại tị nạn. Sống tạm, rồi từ đó, cô sẽ tính sau. Tôi cũng chỉ biết có thế.

- Nhưng ông còn mệt, đã hết ốm đâu.

- Không sao, cô cứ yên tâm. Vận tôi còn dài lắm. Sống chết có số.

Hắn bỏ đi. Cho đến tối khuya mới về. Hắn về mang theo một cái xăm ô tô, một bộ quần áo lặn, ít đồ ăn. Một tấm ny lông lớn, một vài đồ quần áo đàn bà.
Sau khi ăn xong, giữa đêm, hắn đưa nàng đến bên sông. Theo như sự bàn tính từ trước, cô quấn ni lông vào kín người. Quần áo ngoài cho vào túi riêng. Hắn mặc bộ quần lặn đen. Bộ quần áo càng khiến hắn giống như một con nhái khổng lồ. Hắn đỡ cô nằm lên trên cái phao, làm bằng xăm ô tô. Rồi khẽ khàng, nhẹ nhàng như một con nhái, hắn vừa bơi vừa đẩy cái phao ra giữa dòng.
Đêm yên ắng, tĩnh mịch. Bầu trời đầy mây. Chỉ có tiếng chân hắn khoát nước nhẹ nhàng, nghe như tiếng cá vẫy đuôi, búng nước kiếm mồi.
Cuộc vượt sông trót lọt. Trong lúc chia tay, đột nhiên Nàng bảo hắn.

- Sao Anh không vượt sông luôn.
Đây là lần đầu tiên, Nàng gọi hắn là Anh một cách tự nhiên, như lỡ mồm. Hình như hắn không để ý đến điều đó. Nên giọng hắn vẫn đều đều bình thản.Cô nhớ lời tôi dặn. Đi sâu vào nội địa. Càng đi sâu vào thì càng tốt. Vào phía trong, cứ lấy xe bus, tầu hoả mà đi. Không sợ gì cả. Cảnh sát có bắt được cũng chẳng làm gì được nữa đâu. Cô không phải lo cho tôi. Vận tôi còn dài, nhiều nợ, chưa vượt được sông.

- Em cám ơn Anh. Giọng Nàng run run. Có thể do Nàng đã xưng « Anh Em », cũng có thể Nàng nghĩ đây là lần cuối cùng gặp con người này.

- Cô đi cẩn thận. Mẹ tròn con vuông.

Nói rồi hắn từ từ chìm xuống nước. Ở đâu đó, phải nghe kỹ lắm mới thấy như có tiếng cá búng mồi.
***********
TAM ĐẢO,
Đây là những ngọn núi cuối cùng của vòng cung đá vôi đông bắc chìa xuống đồng bằng. « Rừng thiêng, nước độc ». Ngày xưa, người ta ít khi dám mò mẫm lên núi. Trên đỉnh Tam Đảo chỉ có đền thờ Mẫu Thượng Ngàn của tiều phu.
Sau này người Pháp mở đường lên núi, biến Tam đảo thành nơi nghỉ mát, tránh nóng ngày hè. Thời nay, Tam đảo không phải là điều gì quá xa lạ với người Hà nội. Rừng không còn thiêng. Nước cũng chẳng độc. Từ chân núi lên tới đỉnh, người ta đua nhau lập miếu, đền. Có người nói từ chân núi lên thị trấn Tam đảo, có tất cả 99 ngôi đền, nhưng có lẽ vì đó là một con số đẹp,linh thiêng, cửu trùng (hai lần 9) thì đúng hơn là sự thật.
Cách đây không lâu, có một người lữ hành dừng chân ở nơi đây lập am. Ông thường ngày ra vào các đền chùa làm công. Nhiều đền đang xây, nên không thiếu việc. Rồi người ta quen đi với sự có mặt của ông.
Ngoài việc làm công cho đền miếu, ông ta còn bốc thuốc nam. Tam đảo ở trên cao vẫn còn chút rừng nguyên sinh. Thời bao cấp, vẫn còn có hợp tác xã thu mua thuốc Nam trên thị trấn. Mặc dù rừng càng ngày càng bị các vườn su su lấn chiếm, tuy vậy vào những buổi sáng khi trời âm u đầy mây, vẫn có thể nghe được tiếng chim rừng gọi bầy.
Nguời ta cũng không biết vì cớ gì mà lữ khách đã dừng chân tại đây. Chỉ có bà cụ bán hàng nước bên thác Bạc thì kể, đã từng nghe ông ta nói « Ngày xưa tôi đã từng buôn người qua sông, rồi từ đó mà có duyên cứu người qua sông, để rồi tự biết mình cũng phải sang sông ». Nhưng cũng chẳng hiểu điều đó có đúng không. Cũng chỉ là một lời đồn, như trăm ngàn lời khác trong dư luận. Vì hầu như người ta chẳng thấy ông ấy nói điều gì bao giờ.
Những người cố công leo lên tận am trúc của ông xin thuốc thì bảo. Trong cái am rộng chừng bằng 2 chiếc chiếu. Một góc là bếp. Góc bên kia là một nền đất được đắp lên cao bởi sỏi đá, trải cành cây, trên đó là một cái chiếu đậu cũ với một chiếc gối mây, góc ngoài có mấy cái xô nhựa xanh đỏ dùng để đựng nước .Tuềnh toàng chẳng có gì. Có người tinh ý, lại biết chút chữ Nho còn nói. Ở phía cửa ra vào có dán một dòng chữ Nho nhỏ, « Thiên hạ đại nhân viết sinh », viết cong queo cách điệu như một thứ bùa yểm trên giấy hồng.


HẾT
Phó Thường Nhân
Phê bình và tự phê bình

Nghe cái tên « Quyên nhé » cộng với lời bình « Trong lúc chờ bác Toanly viết tiếp », sẽ khiến mọi người nghĩ rằng câu chuyện có gì đó liên quan tới truyện QUYÊN của bác ấy. Thực ra nó chẳng liên quan gì cả. Vì đây là một câu truyện về Phật giáo.
Tất cả cái lõi của câu truyện chỉ muốn nói về « ba lần vượt sông » của một đời người. Trong đó hình tượng « vượt sông » vốn là hình ảnh thường dùng trong Phật giáo chỉ người « giác ngộ ».
Ở trong này, tôi chỉ muốn dùng hình ảnh vượt sông 2 lần thật, để dẫn tới lần vượt sông cuối cùng. Muốn vượt sông người ta phải vượt qua nghiệp, muốn vượt qua nghiệp thì phải cứu chúng sinh. Vì thế tạo nghiệp, và bị trừng phạt được viết dưới dạng giấc mơ, nửa tỉnh nửa mơ (giống như trong phật giáo nói cuộc đời là ảo mộng...).

Thực ra câu truyện viết không đạt, vì nó không smooth (xuôi lọt) lắm, do thiếu sót trong cách dẫn truyện. Ý tưởng của tôi là sử dụng tự sự của 2 nhân vật. Tự sự này cõng tự sự kia, cái này giải thích cho cái kia, để móc nối nó vào nhau như một thứ dây xích. Người ta phải có cảm tưởng như có một cái micro vô hình, truyền từ nhân vật này sang nhân vật kia. Nhưng điều đó tôi không đạt được.

Do viết không đạt nên vẫn bị lẫn nhân vật thứ 3, là người viết truyện. Câu truyện cũng được dẫn theo kiểu symbolism. Nhưng có lẽ vì thế mà nó lại không rõ ràng. Huặc nếu có rõ ràng thì nó cũng không thật sự hấp dẫn, vì sự kiện trong trường hợp đó trở nên quá đơn giản. Để phá sự đơn giản, người ta bắt buộc phải có một cái nhìn thạt tinh tế trong tâm lý. Điều mà tôi không làm được.

Tôi cũng chủ định dùng hai style văn khác nhau, cho 2 nhân vật. Hơi mộng mơ cho nhân vật nữ, « chợ trời » cho nhân vật nam. Nhưng sự thể hiện này cũng không đạt.
Điều đó cũng dễ hiểu, vì tôi chỉ viết được tới mức theo phong trào « khắp nơi ca hát », chứ không phải là nhà văn.
Dù sao thì cũng viết ra những điều này, để mọi người có thể hiểu tôi quan niệm và đọc văn như thế nào.
Cỏ dại
Bác viết có mấy ngày, xét theo chất lượng truyện ngắn của các tác giả Việt Nam bây giờ truyện bác cũng đáng đọc. Phần kết của câu chuyện rất khá, truyện sẽ đặc sắc hơn khi bác có sợi dây liên kết chặt chẽ hơn tí chút phần thân chuyện với đoạn kết.

với một đề tài có sẵn mà bác đã phác họa nhanh một truyện ngắn chứng tỏ trình độ hiểu biết về văn học của bác không lửng lơ như giữa quãng thời gian cấp học 3 mà bác nói. Hiện thực chứng minh tất cả
Phó Thường Nhân
Đáng nhẽ viết ra một chủ đề khác, nhưng thôi viết tiếp vào đây cho tiện. Kể tiếp một truyện khác theo Style của James Joyce (Theo cách hiểu của tôi). Đầu tiên định dịch một truyện của ông trong "những người ở Dublin" (The Dubliner). Nhưng thời gian dịch có lẽ cũng bằng thời gian bịa một truyện khác, mà mức độ thích thú cá nhân có lẽ còn hơn.


leuleu.gif leuleu.gif leuleu.gif


MA

Chúng tôi là ba đứa bạn, cùng học một khoá, cùng một chuyên môn. Cũng là một sự không hẹn mà nên. Bởi vì khi đi học nước ngoài, thì sự chọn lựa của cá nhân không có ý nghĩa gì nữa. Tất cả là một sự phân công. Thế cho nên một cái vạch bút của một ông ất ơ nào đấy trên bộ đại học và trung học chuyên nghiệp, cộng với xuất học bổng của nước người đã là quyết định gom 3 đưa chúng tôi vào một nước, vào một thành phố, vào một trường và cuối cùng là vào một lớp. Sự tình cờ ấy, không khỏi có lúc làm tôi bật cười, khi tưởng tượng một nhân vật cạo giấy nào đó, lẹp xẹp đôi dép nhựa tiền phong. Cái áo cộc tay mầu trắng cháo lòng lõng thõng ngoài quần. Và sau một cái ngáp vặt trong một buổi trưa hè nóng đã đưa cả 3 đứa chúng tôi, thi vào 3 trường đại học khác nhau, ở ba nơi khác nhau lại có cơ hội ngồi chung nhau trong một căn phòng cách VN cả chục ngàn km. Đáng ngạc nhiên lắm chứ. Có lẽ sự giống nhau của chúng tôi chỉ là cái chữ cái đầu tiên. Tên của ba đứa đều bắt đầu bằng chữ L.

Lâm là đứa lớn tuổi nhất trong bọn, thi vào trường đại học lục quân. Nó cũng là đứa duy nhất trong bọn đã từng đi bộ đội. Thông thường bộ đội đi học không phải là tầng lớp người được ưa chuộng trong giới sinh viên. Có nhiều điều làm chúng tôi, những đứa trẻ con vào đại học thẳng từ mái trường phổ thông bị vênh với họ. Bộ đội đi học là một thế giới khó hiểu. Họ thường là những người chăm chỉ. Vì để thi trúng đại học, sau một thời hạn quân ngũ có khi cả chục năm, quả không phải là điều đơn giản. Mặc dù khi đi thi họ co quyền được cộng điểm « cống hiến », nên áp lực điểm chuẩn nhẹ hơn. Nhưng phải công nhận, nếu không có một nghị lực phi thường, thì điều đó quả là không đơn giản. Trước khi có hệ thống B trả tiền, điểm chuẩn dù sao cũng đánh giá được một phần nào kiến thức của học sinh sinh viên.

Thực ra điều này không ảnh hưởng đến chúng tôi lắm, và họ được ưu tiên điểm số cũng là một điều thoả đáng. Sự khó chịu bắt đầu từ lúc cùng chung sống, cộng hưởng dưới mái học đường.
Với sinh viên như chúng tôi, bộ đội đi học là một loại người khôn khéo. Họ khôn khéo vì từng trải, biết thế nào là cuộc sống thực. Họ bước chân vào học đường với một mục đích cá nhân rõ ràng. Họ không mộng mơ, không lý tưởng. Trong lớp học, họ thường được chỉ định làm cán bộ lớp. Lý lịch, tuổi tác giúp họ có ưu thế về việc đó. Nhưng không phải chỉ có thế, làm cán bộ lớp, họ sẽ được ưu tiên. Họ sẽ được cộng điểm trong các kỳ thi học kỳ, vì có « đóng góp cho phong trào ». Cái điều riêng tư này, cũng là một điều làm chúng tôi chê họ. Họ là những người « cần cù bù khả năng ». Nếu sự cần cù ấy là trong chuyên môn, thì điều đó dễ hiểu. Nhưng dùng những đòn bẩy xã hội khác, sự quen thuộc, kinh nghiệm cuộc sống, thủ đoạn trong trong trường đời, không khỏi khiến cho những thanh niên như chúng tôi, khó chịu và ác cảm.

Một điều không nhỏ nữa khiến bộ đội đi học khác sinh viên. Đó là kinh nghiệm của họ với thế giới đàn bà. Điều với chúng tôi mới chỉ là một sự tưởng tượng, mộng mơ, thì với họ là những cái gì đó thực tế, rõ ràng...
Như vậy đấy, khôn khéo, nhiều khi thủ đoạn vặt, trình độ kém, nhưng lại biết tới thế giới bí hiểm của đàn bà... đó là những điều khiến chúng tôi, nhưng sinh viên học thẳng không hiểu được bộ đội đi học.

Nhưng Lâm không phải như thế. Nó chỉ hơn tôi có 2 tuổi. Một tuổi là do bị đúp hồi cấp một. Một tuổi là do sinh vào đầu năm nên lỡ một năm học. Nó cũng đi bộ đội , nhưng do hoàn toàn tình cờ. Đấy là vào thời điểm đánh nhau ác liệt trên biên giới phía bắc với Trung quốc. Học sinh có nguyện vọng thì vào đại học lục quân, được lấy sớm. Do học muộn, Lâm đến tuổi có thể động viên. Nó cũng tình nguyện lên biên giới. Do có trình độ, nên nó được điều sang pháo binh. Rồi đến khi có kết quả thi đại học, do trúng tuyển, lại đủ điểm đi nước ngoài nên nó được giải ngũ. Thời gian đi bộ đội như vậy chỉ có khoảng một năm trời.

Một năm trời nhưng cũng đủ để Lâm lớn hơn hẳn chúng tôi. Đặc biệt là những chuyện nó được chứng kiến và tham gia trên chiến trường biên giới. Điều nó thường tự hào kể với tụi tôi.
Lúc đó, Anh nghe rõ tiếng kèn đồng, tiếng kèn the thé như tiếng kèn duyệt đội ở trường. Rồi từ dưới chân đồi lính Trung quốc nhỏm dậy lom khom chạy băng băng lên phía trước. Chúng nó đông lắm, khẩu đại liên bắn đến đỏ nòng lên mà không hết....
Giọng nó hùng hồn, mắt sáng long lanh thuyết phục. Người nó vốn thấp bé, nhưng chắc nịch. Cánh tay ngắn, vung vẩy lên phía trước. Tóc nó cắt ngắn, kiểu sĩ quan trường lục quân. Đây là điều khiến nó cũng khác tôi, vốn để tóc dài lòng thòng. Nhưng rồi tôi cũng phải công nhận, người Việt để tóc dài không đẹp, và cắt tóc ngắn theo nó, cũng là sự hợp lý nhất có thể tìm được. Tất nhiên ở đây tôi chỉ nói cho giới đàn ông.

Điều tôi cảm phục ở nó nhất, không phải là nó giữ điểm chốt. Mặc dù nó chỉ là lính pháo binh, nhưng một đơn vị thám báo Trung quốc đã vòng qua mặt sau của trận địa, khiến nó được chứng kiến và tham gia một trận đánh . Tôi cũng không phục nó khi kể truyện phải quay nòng khẩu 12 ly 7, vốn là pháo phòng không xuống quét ngang mặt đất để cản mũi xung phong của lính Trung quốc. Nhưng điều này báo chí cũng nói nhiều. Khiến tôi vẫn có cảm giác lính Trung quốc là một thứ gì sinh vật gì đó khó hiểu, giống như một đàn châu chấu, bị người ta vặt gẫy càng, chỉ có một cách là vặn vẹo, uặn ẹo như những con sâu bò lên một chiếu duy nhất là phía trước.
Điều tôi cảm phục nó nhất là đã dám đang đêm, trời tối mù như vậy, mà vượt qua rừng đêm về tuyến sau liên lạc với tiểu đoàn. Chẳng nhẽ nó không sợ ma. Nhất là khi có nhiều binh lính Trung quốc chết thảm như vậy, thì điều gặp ma trong rừng có lẽ là không tránh khỏi mới phải.

-Không, chẳng có gì đáng sợ. Nó quả quyết, rừng đêm cũng giống như ban ngày. Chỉ không có ánh sáng.
Tôi không dám chắc điều đó. Nhưng tôi chưa đi rừng đêm bao giờ. Rừng nhiệt đới lại càng không biết. Tất nhiên ở vùng Việt Bắc, rừng nguyên sinh không còn, chỉ còn rừng tái sinh và đồi cỏ lau. Nhưng đi trong rừng đêm, lại ngổn ngang xác người, thì không thể nào mà không sợ được. Cứ tưởng tượng những xác người, quằn quạy trong đủ mọi tư thế đau đớn trước khi cái chết chấm dứt cuộc sống, thì làm sao lại không thể sợ. Nhưng tôi không thể nào chứng minh cái điều nghi ngờ ấy. Tôi chưa bao giờ đi bộ đội, cũng không biết đến rừng đêm.

Để chứng minh điều mình nói, Lâm còn kể với chúng tôi thêm một chi tiết. Rằng nó đã gỡ lấy một cái mũ trên xác của một lính chính quy TQ làm kỷ niệm. Đó là cái mũ hình như cái nấm tròn, với một vành lưỡi trai ngắn ở đàng trước, mầu có úa. Hiện tại có lẽ chẳng ai biết đến cái mũ có nguồn gốc giai cấp công nhân ấy, vì nó vốn là mũ của công nhân trong các công xưởng trước đây. Hiện tại người ta chỉ còn biết tới cái mũ cao bồi, với một cái lưỡi trai dài xấc xược, lấc cấc. Nhưng cái mũ Mỹ này lại có một ưu điểm, người ta có thể gia giảm theo độ lớn của vòng đầu. Điều mà cái mũ công nhân kia không làm được.

(Còn tiếp)
Phó Thường Nhân
Tôi vốn sợ bóng tối. Đấy là một nỗi sợ hiển nhiên, không cần suy nghĩ định hình. Cùng một cảnh quan, bóng tối mang tới sự bí hiểm, e ngại, có một cái gì đó không an toàn. Tôi vẫn nhớ thủa nhỏ, không biết vì một lý do gì mà bố mẹ hay cho tôi ăn cơm trước cả nhà. Sau đó một mình tôi phải ngồi trong căn phòng lớn một mình, để mọi người ăn cơm dưới nhà ngang. Căn nhà gia đình tôi ở có hình chữ L, nhưng không trông vào cùng một sân. Cửa sổ phòng khách trồng ra khoảng vườn, cũng hinh chữ L ôm lấy căn nhà; Ở trên phòng trên không thể nhìn xuống được cửa sổ nhà ngang. Tôi không thể trông cậy được vào một sự ăn ủi nào, dù chỉ là ánh đèn của một khung cửa sổ. Trong khoảng thời gian mọi người ngồi ăn dưới nhà, một mình tôi phải đối diện với khu vườn bí hiểm, hoang dã như một thửa rừng. Dưới những gốc cây, là những điểm sáng lân tinh lập loè của những con sâu đất, như những cặp mắt hoang dại nhìn vào nhà qua của sổ.

Tôi đã từng nhặt những con sâu này. Chúng bé nhỏ, nhũn nhẽo như những con giun. Chỉ có phần cuối thân được thắp sáng bởi một chấm lân tinh xanh nhợt. Khi bình mình thức dậy cũng là lúc những con sâu đất này chết. Chúng chết sau một đêm loè sáng, dường như kiệt sức vì muốn làm rạng màn đêm. Chẳng biết sự chiếu sáng ấy có ý nghĩa gì cho chúng. Một lời kêu gọi của tình yêu, để tiếp tục sự nghiệp chói sáng, hay là lời nhắn nhủ của một cuộc đời được tính bằng ngày. Không rõ, chỉ có điều rõ ràng là cái ánh sáng ma quái ấy in đậm vào trong đầu tôi một nỗi sợ bản năng của rừng rú.

Chỉ có khi tiếng Bà nội loẹt quẹt đôi guốc, rồi tiếng gậy của bà lóc cóc trên hiên nhà, báo hiệu bữa ăn dưới nhà đã xong, mới giải thoát cho tôi khỏi nỗi sợ vô hình của bóng đêm.
Nỗi sợ ấy ám ảnh tôi đến lúc đi nước ngoài mới hết.

Linh là người thứ 3 trong nhóm chúng tôi. Lúc sang đến xứ lạ này, mới thực sự chơi với nhau. Còn lúc ở VN vẫn có một khoảng cách. Nguyên do có lẽ Linh là người Hà nội gốc. Không những thế, nhà nó còn ở sau chợ Hoà bình, nên bất cứ mọi chuyện thực tế nào nó cũng biết. Lúc tập trung vào trường học tiếng, nó là đứa đầu tiên khởi xướng việc đổi tem gạo,xà phòng, bánh mỳ phát theo tiêu chuẩn ra tiền để ăn phở. Tất nhiên sau đó thì nhịn đói, vì đổi ra phở chỉ là chuyện « huy hoàng trong giây phút », còn sau đó cả tháng chỉ có cách bóp bụng. Một hoạt động trao đổi không mang lại tiền, chỉ là một sự thay đổi vị trí, sở hữu cho nó hợp lý. Sự hợp lý ấy chưa chắc đã kinh tế, nhưng nó hợp lý về cảm giác. Cũng chỉ có sinh viên ở Hà nội và ngoại vi có thể về nhà ăn trạc cơm được mới dám làm điều này. Còn sinh viên các tỉnh về, tất nhiên chẳng ai dám làm thế. Ai dám đổi tem gạo của cả một tháng ra vài bát phở loãng.

Tôi vẫn còn nhớ hàng phở ở cổng trường. Nồi nước dùng nghi ngút khói. Cô chủ hàng béo núc ních, một sự lạ vào thời điểm đó, nhoang nhoáng xé thịt gà, xẻ thịt bò thành những lát mỏng tang như sợi tóc tiên, rồi cần thận chi ly bốc từng vốc nhỏ, tiết kiệm như bỏ sâm vào từng bát. Cũng may, ăn phở ngon là do nước, do bánh phở, và hành trắng ta xé nhỏ. Thậm chí nước càng trong càng hấp dẫn, nên việc ít thịt chỉ làm tăng thêm sự thòm thèm chứ không là mất vị ngon của bát phở.

Dù sao việc làm của Linh cũng là một sự đột biến. Sau này, nó kiêm luôn việc bao thu tem phiếu cho mọi người. Nó tính giá hời hơn đổi trực tiếp. Có nghĩa là nếu trước, tôi đổi lẻ chỉ được bát phở, thì qua tay Linh, với tiền dư ra tôi sẽ được thêm một cái kẹo lạc, cốc nước trà.
Gia đình nhà Linh cũng là công nhân viên chức như mọi người, nhưng thực ra mọi việc chi tiêu đều do mẹ nó xoay xoả. Cũng nhờ cái chợ Hoà Bình ở ngay cạnh, mà nhà nó đã « xuống đường » trước rất nhiều các gia đình khác.

Tôi đã từng qua nhà nó. Mẹ nó là một phụ nữ bé nhỏ. Trông không có vẻ gì như con buôn cả. Biết rằng chúng tôi sẽ đi học cùng một nơi, bà rất quý. Luôn luôn dặn dò « Anh em đi với nhau thì phải đùm bọc nhau ». Trong căn hộ tập thể nhà Linh, tôi để ý trong góc nhà có một cái bàn thờ rất lớn. Trên đó bao giờ cũng có một nải chuối xanh. Phía trên trần treo một con rắn trắng làm bằng giấy báo, như đồ hàng mã cho trẻ con tết Trung thu, còn phía dưới lại có hình một con hổ, kiểu tranh dân gian Đông Hồ. Tất cả đều ám khói hương đen.
Khi tôi có vẻ như nghi ngờ sự linh thiêng, thì Linh ngạc nhiên nhìn tôi với một con mắt của một người hiểu biết nhìn một chú bé, nửa như thương hại, nửa như chê trách sự non nớt

- Chú chẳng hiểu cái đếch gì cả. Anh thật với chú, nhà anh phất lên cũng vì thế đấy.

Chúng tôi vẫn thường xưng « Anh », gọi « Chú ». Người ngoài có thể thấy đó là một cách xưng hô kỳ quặc, nhưng nó là dấu hiệu để phân biệt giữa những người quen biết, « trong nhà », với người bên ngoài.

Linh còn dẫn tôi ra phía đầu trái nhà. Căn hộ của nhà nó ở tầng trệt, nên cũng như những nhà khác, nhà nó đã xây vòng quanh, biến một khoảng sân thành vườn riêng, có cổng ra vào, để chuông điện hẳn hoi. Tôi nhìn thấy trên một đống gạch vụn, lổn nhổn, không cao hơn lắm so với mặt đất bình thường, có để một bát hương nhỏ, dầy đặc những chân hương đỏ, có những chân hương còn rất mới, những chân hương khác đã bạc mầu vì nắng mưa.

Linh giải thích cho tôi, đây là một ngôi mộ « người tầu để của » rất thiêng. Chính từ khi nhà nó được một ông đồng, kiêm là thầy địa lý, chỉ cho ngôi mộ này, và bảo nhà nó thắp hương « lòng thành », thì việc buôn bán của mẹ nó mới được suôn xẻ.
Ý tưởng có một xác chết của một người Tầu, từ thời Bắc Thuộc (tôi cứ quy là thế), còn có thể lẩn quẩn phù hộ không khỏi khiến tôi có một cái nhìn nghi ngờ. Chừng như hiểu được suy nghĩ của tôi, Linh khoát tay

- Chú không tin cũng không sao ? Nhưng tại sao trong cả cái khu này, chỉ có nhà Anh buôn bán được, mà cái chợ trước mặt là của chung chứ có của riêng nhà Anh đâu.

Tất nhiên là tôi không thể giải thích được. Tôi cũng không thể giải thích là do mẹ nó mát tay buôn bán giỏi, vì chính mẹ nó đã coi là do có thần linh phù hộ mới được như thế. Mà tôi thì làm sao có thể biết chuyện của mẹ nó hơn chính người trong cuộc.

(còn tiếp)
Phó Thường Nhân
Mùa đông Đông Âu là những ngày buồn nhất. Trời mù mịt mầu trắng, lạnh cắt da cắt thịt. Do một sự tình cờ của năm học, mà những ngày lạnh nhất, lại đúng vào dịp nghỉ đông, và dịp nghỉ đông cũng đúng vào lúc học thi học kỳ đồng thời là vào dịp tết ta. Vào lúc này, sinh viên bản địa và những sinh viên nước ngoài có điều kiện về nhà hết. Các ký túc xá đóng cửa. Chỉ còn phơ phất những sinh viên nước ngoài như chúng tôi ở lại.

Tôi được phân ở trong một ký túc xá ở trung tâm thành phố. Còn Linh và Lâm ở tận ngoại ô. Các thành phố tỉnh lẻ ở Đông Âu như chỗ chúng tôi học, chỉ có một khu trung tâm nhỏ, có thể gọi là thành phố. Phần còn lại của nó là một rừng nhà lắp ghép. Thành phố vì thế, ngoài trung tâm cổ giống như một đống những viên gạch khổng lồ được một bàn tay vô linh ném linh tinh vào một khu vườn cây. Cũng chỉ có trung tâm là có hàng quán nhộn nhịp. Ký túc xá tôi ở nằm nép mình bên sườn đồi. Phía trên là thành cổ, còn phía dưới là những phố nhỏ, ngoằn nghèo, được lát bằng những viên đá xám, nhỏ li ti. Chỉ đi vài bước chân đã có quán bia hay hầm rượu vang. Ở đông âu, chí ít ở nơi tôi sống, người ta hay uống rượu vang đỏ, hâm nóng với quế, tử đinh hương, và những hương liệu khác vào những ngày đông.

Sau này, người ta thường chê cuộc sống ở Đông Âu thời kỳ nay là tẻ nhạt, mầu xám. Trong thực tế, nó cũng không hẳn là vậy, mà có khi thanh bình hơn rất nhiều cuộc sống sau này. Có thể nó thanh bình quá đến nỗi gây cảm giác tẻ ngắt. Cũng có lẽ chính vì muốn thoát khỏi sự tẹ ngắt, do thanh bình quá, mà người dân bình thường ở đây sùng phương Tây. Họ muốn có tất cả sự bình ăn của cuộc sống hiện tại, nhưng lại muốn có cái mầu mè, náo nhiệt của Paris, Tây Berlin, Viên, ...Họ không hiểu là hai nhu cầu đó hoàn toan ngược nhau về bản chất.

Một người yêu thích môi trường, chắc chắn sẽ thích không khí các khu phố cổ ở đây, thời kỳ này. Không có xe cộ đến tắc đường, không có quảng cáo, cũng không có người ăn mày lê la. Thành phố vì thế bình yên đến mức tẻ nhạt.

Tất nhiên , vào lúc đó tôi chẳng nghĩ gì cả, và cả 3 đứa chúng tôi chỉ có ý muốn hưởng thụ , tận hưởng hết mọi sự tự do mà một cuộc sống xa nhà, không gia đình mang lại. Nếu người ta muốn chắt bóp mua đồ tàng trữ cho cuộc sống ở Vn về sau, điều mà phần lớn mọi người đều làm, thì có lẽ tiền học bổng không đủ. Tôi nghĩ có lẽ không có tiền học bổng nào đủ cả, dù ở bất cứ đâu, thoả mãn được điều kiện, mấy năm trời tích góp để có thể sống cho hết cả cuộc đời. Nhưng cả ba đứa chúng tôi, không ai làm điều đó. Điều đó cũng làm cho chúng tôi hợp nhau.

Do bạn cùng phòng về hết, Linh và Lâm có thể ở lại ký túc xã với tôi. Tôi còn nhớ, hôm đó là 30 tết. Cả ba đứa định nấu một cái gì đó ăn, trướckhi mò vào phố đi quán bar. Buổi chiều kỳ nghỉ đông, căng tin phát đồ ăn lạnh. Tôi được phân công xuống lấy xuất nguội cho cả ba, tiện thể mượn bát đĩa, dao dĩa. Tôi có thể làm được điều này, vì là người ở Ký túc xá. Linh được phân công đi mua thịt, hành tây, rau quả. Còn Lâm, thì đi mua bia và nước ngọt.

Ký túc xá chìm trong bóng tối. Lúc đó ở Đông Âu, người ta không biết tới loại công tắc điện tự tắt, cho nên khi sinh viên nghỉ, họ ngắt cầu chì, tắt hết cả đèn trong hành lang. Trời mùa đông tối sớm. Trong cái âm u thâm trầm của buổi chiều tà, chỉ có tiếng chân của chúng tôi vang lên trong hành lang trống vắng. Tôi dặn Lâm, mua bia xong thì qua căng tin xách hộ tôi bát đĩa.

Ký túc xá vốn là 4 toà nhà được ghép lại với nhau. Nên hành lang của chúng dài, sâu hun hút, ngoắt nghéo như cái hang chuột chũi, với những bậc thang lên xuống do chiều cao các tầng nhà cũ chênh nhau. Suốt môt hành lang dài, chỉ có ánh đèn hắt ra từ cái bếp chung của cả hành lang. Phòng của tôi lại nằm ở phía trên, cao hơn hăn vị trí của căn bếp chung, hoàn toàn chìm trong bóng tối. Tôi và Lâm dò dẫm đi, chỉ lo bát đĩa va phải các góc ngoặt bất ngờ, mà bình thường nếu có đèn hành lang, chúng tôi không phải để tâm.

Tôi dò dẫm lấy chìa khoá phòng cho vào ổ. Nhưng cánh cửa phòng không khoá, mà lại mở hé. Tôi hơi ngạc nhiên vì nhớ rõ ràng mình có khoá cửa. Nhưng đúng là cửa không khoá thật. Tôi đẩy cửa phòng. Ánh sáng mờ mờ của trời đêm bên ngoài hắt qua cái cửa sổ duy nhất vào phòng. Mặc dù ánh sáng trời đêm không đủ, nhưng chúng tôi đứng ở phía tối hơn vẫn lờ mờ nhìn thấy một vật gì treo lơ lửng ở giữa phòng. Cái vật đó giống như một bóng người. Uặt ẹo. Đúng là một bóng người thật, hay ít ra cũng là một vật gì đó giống như người. Có điều dường như nó như không có trọng lượng, không có vật chất, mà mỏng dẹp phất phới như một tờ giấy. Những chỗ mà người ta có thể nghĩ là khuỷu tay hay chân, thì gập lại, trong những tư thế mà một cái khớp xương bình thường của một con người không thể cho phép. Cái vật đó đong đưa, run rẩy, như một sinh vật sống.

Cả tôi và Lâm đều đứng sững người. Có lẽ Lâm cũng trong cùng một cảm giác như tôi. Cả hai đứa hầu như không kịp có một phản xạ gì. Tôi còn có một cảm giác, như có một cái gì đó, giống như ai đang chà một cục nước đá lên sống lưng mình từ trên xuống dưới. Trong đầu tôi lộn xộn những suy nghĩ, không hiểu đó là người hay là ma. Nếu không phải là ma thì chắc như có ai đó treo cổ tự tự. Nhưng cả ký túc xá vắng ngắt như tờ, chỉ có 3 chúng tôi. Vậy thì chỉ có thể là ma thôi. Ma ở cái xứ này. Điều mà tôi không bao giờ nghĩ tới.

Chúng tôi đứng lặng đi không biết mấy giây đồng hồ. Nhưng cảm giác như thời gian là vô tận, ngưng lại. Chẳng hiểu thằng Lâm nghĩ gì. Nhưng có lẽ nó cũng run không kém tôi. Nó khều tay tôi, nói lạc cả giọng

- Này, Anh với chú đi ra đi

Cả hai chúng tôi im lặng, nín thở, rón rén lùi lại. Chúng tôi quay lưng đi, một cách hết sức chậm chạp, như nhưng người đang chuyển thế Thái cực quyền. Sau khi dò dẫm bước hết bậc thang xuống dưới, cả hai đứa bắt đầu chạy. Nhưng không thể tránh khỏi cảm giác có cái gì đang đuổi theo sau.
Nhưng đúng có tiếng chân người thật. Rồi một bàn tay đặt lên vai tôi và Lâm. Hoá ra đó là Linh. Ánh sáng hắt ra từ cái bếp chung của hành lang chiếu rõ khuôn mặt đang làm ra vẻ ngây thơ của nó. Ngây thơ như lời nó nói với tôi

-Các chú vội chạy đi đâu thế. Chú quên quần áo ở ngoài sân, tuyết lạnh làm nó đóng đá rồi. Anh phải mang vào nhà hộ chú đấy.

Rồi nó không thể nhịn được một nụ cười xảo quyệt, nhạo báng « Hê hê hê ».


HET
Quán nước đầu làng Ven > Sáng Tác - Thảo Luận - Phổ biến kiến thức > Văn Học & Ngôn Ngữ
Bạn đang xem phiên bản gọn nhẹ của diễn đ n dưới dạng text, để xem các b i viết với đầy đủ mầu sắc v hình ảnh hãy nhấn v o đây !
Invision Power Board © 2001-2024 Invision Power Services, Inc.