Langven.com Forum

Giúp đỡ - Lục lọi - Dân l ng - Lịch
Full Version: Lý Thuyết Tổ Chức Nhà Nước
Quán nước đầu làng Ven > Thư viện làng Ven > Thư viện bài viết
Pages: 1, 2
Phó Thường Nhân
Bây giờ tôi sẽ nói tới hai trường hợp khác, có tác động của xã hội dân sự theo kiểu « giành chính quyền cách mạng », rồi sẽ nói tới kiểu các mạng mầu như phương Tây đang sử dụng sau.
Hai trường hợp tôi muốn nói này là Nam Phi và Zim ba bu ê (Zimbabwe). Vào cuối thập niên 80, đây là hai nước cuối cùng có thể gọi là thoát khỏi chế độ thuộc địa về chính trị ở châu Phi. Chế độ thuộc địa ở đây là dạng đặc biệt, vì từ những năm 60, chính quyền nằm trong tay thiểu số dân thuộc địa da trắng. Và ở hai nước này đã hình thành lên chế độ phân biệt chủng tộc, không khác gì ở các bang Nam Mỹ trước nội chiến Mỹ. Người da đen ở đây không có status là nô lệ, nhưng chính sách phân biệt không có khác.
Cả hai nước này người da đen đa số đều giành được chính quyền qua con đường thỏa hiệp, đàm phán. Và vì thế vào thời kỳ này, đặc biệt thông qua báo chí phương Tây, thì những nhân vật như Nelson Mandela được coi như người hùng, hình mẫu.
Nhưng đến nay, sau một thời gian dài (30 năm), người ta đã nhận thấy rằng chính quyền ở đây, đặc biệt là ở Nam Phi không hơn gì chính quyền phân biệt chủng tộc ngày trước. Chỉ có điều khác là một bộ phận thiểu số người da đen, đã được mua, còn cấu trúc kinh tế xã hội không thay đổi.
Ví dụ, trung tâm của tủ đô Johanesbourg, trước đây là của thiểu số da trắng, nơi đây cũng là nơi tập trung thị trường chứng khoán, các hãng lớn nhất, như biểu tượng của chế độ phân biệt chủng tộc. Bây giờ trung tâm thủ đô này được nhượng lại cho người da đen, còn người da trắng dạt ra ngoài ngoại vi. Thâm chí thị trường chứng khoán cũng dạt ra ngoài. Và để bảo đảm an toàn cho người da trắng, vấn nắm cái đế kinh tế ở đây, thì các hãng dịch vụ bảo vệ mọc lên như nấm, phần nhiều thuê người da đen nước ngoài, chứ không dùng người Nam Phi
Tương tự như vậy, giới chủ da trắng tập trung thuê người da đen nước ngoài, chứ không dùng người trong nước. Từ đó dẫn tới việc người Nam Phi gốc xung đột với người nhập cư da đen nước ngoài, bảo đảm được tính chất « chia để trị » muôn thủa của một chế độ thực dân.
Ở đây, như vậy là một bộ phận của kiến trúc thượng tầng chính trị, chủ yếu liên quan tới việc « bầu bán đa đảng » vớ vẩn được nhượng lại cho các lực lượng chính trị da đen (ANC :African National Congress), còn kinh tế, nhà nước thâm sâu vẫn nằm trong tay thiểu số da trắng với những người đứng đàu da đen làm bù nhìn rơm.
Nguyên nhân ở đây không chỉ có vấn đề hạ tầng kinh tế nằm trong tay người da trắng, mà còn có vấn đề về trí thức.Tầng lớp người da đen, do quá khứ bị phân biệt không có kiến thức, để có thể len chân vào những vị trí quản lý, đặc biệt trong tầng lớp trung lưu. Chính vì thế vì hình thức chính trị là da đen nắm quyền, là « quyền dân », nhưng thực tế quyền lực là thiểu số.
Thậm chí ngay cả Nelson Madela cũng là anh hùng Fake, một biểu tượng được media phương Tây bôi son trát phấn cho. Chính media da trắng đã tạo ra oai danh cho ông này, và từ đó khi được trả tự do, thì Nelson Mandela đã dẫn đảng ANC đi vào con đường thỏa hiệp, dẫn tới tình trạng ngày nay.
Ở Zimbabwe, tình trạng cũng tương tự. Chỉ có điều khác là sau đó thiểu số da trắng định thông qua kiểu « xã hội dân sự » để lật đổ, nên dẫn đến việc tầng lớp người này bị tước quyền (ở Zimbabwe đã xẩy ra cải cách ruộng đất). Nhưng do không có chuẩn bị, nên việc dành chính quyền kinh tế này lại dẫn tới sụp đổ kinh tế.
Bài học Nam Phi và Zimbabwe nói lên điều gì :
Nó nói lên vấn đề cộng đồng văn hóa, nếu không có cộng đồng văn hóa gắn bó với nhau, thì không có tác dụng gì cả. Nó cũng nói tới vấn đề hạ tầng kinh tế. Không thể biến một hệ thống kinh tế thuộc địa trở thành một hệ thống kinh tế dân tộc.Nó cũng nói tới vấn đề trí thức dân tộc.
Một cộng đồng người không thể sống được nếu không có gì đó chung về văn hóa, không thể có kinh tế dân tộc mà không có trí thưc dân tộc. Qua 4 ví dụ ở trên, người ta đều thấy những điều nực cười.
Ở trong ví dụ Chi lê, Vê nê duy ê la, điều buồn cười là ở những nước có hệ thống đại nghị tư sản lâu đời nhất, nhưng ở vị thế một nước phụ thuộc vào bên ngoài (ở đây là Mỹ), cũng chính là những nước mà sự bất công đã dẫn người dân đi tới chủ nghĩa xã hội, muốn xóa bỏ kiểu chế độ đại nghị này. Và chế độ này là của một thiểu số. Không phải của đa số, dù mời được tất cả dân đi bầu nhưng không phải quyền dân.
Ở trường hợp Nam Phi, Zimbabwe, người ta thấy đa đảng không cải thiện được kinh tế, không dẫn tới thay đổi cấu trúc kinh tế. Thậm chí nó còn giúp củng cố hình thái kinh tế thuộc địa, sau khi « bôi đen » một tí bên ngoài.
Phó Thường Nhân
Trước khi nói tới « xã hội dân sự » được phương Tây sử dụng để lật đổ, làm cách mạng mầu như thế nào, tôi sẽ nói trước một chút về đặc tính và bản chất của nó, từ đó sẽ tìm hiểu dễ hơn sự lợi dụng nó, cũng như những vấn đề nó đặt ra cho các nước đang phát triển.
Xã hội dân sự (société civil), chỉ tồn tại từ khi có cách mạng tư sản. Trước đó hoàn toàn không có hiện tượng xã hội này. Chính xác hơn nữa, nó cũng không ra đời ngay từ khi cách mạng tư sản thắng lợi (bắt đầu bằng cách mạng tư sản Hà lan, vào thế kỷ XVII, rồi tới cách mạng Mỹ, Anh, Pháp, trong đó cách mạng Hà lan , Mỹ là những cuộc đấu tranh thành lập, giải phóng dân tộc), mà chỉ ra đời vào thế kỷ XX, khi có quyền phổ thông đầu phiếu (có nghĩa là ai cũng có quyền bầu cử, trước đó chỉ có người có tiền, có của mới được đi bầu).
Trong giai đoạn đầu của chủ nghĩa tư bản, tác động trong xã hội chủ yếu thông qua tôn giáo. Và tôn giáo cũng nấp bóng trong nhiều cuộc cách mạng tư sản, như cách mạng Anh, cách mạng Hà lan.
Sự xuất hiện của xã hội dân sự có ba yếu tố.
1- Yếu tố môi trường sinh tồn. Trong những nước có cách mạng tư sản, đã xuất hiện việc đô thị hóa, đi cùng với công nghiệp hóa. Con người không sống trong một cộng đồng làng xóm nữa, mối quan hệ cộng đồng lỏn lẻo đi. Từ đó dẫn tới hình thức tụ họp « tự nhiên », dựa trên chủ thể cá nhân. Có thể nói xã hội dân sự là hình thái sinh hoạt xã hội của đô thị phương Tây
2- Yếu tố « ý thức hệ tư tưởng ». Đây là tuyên truyền của xã hội tư bản, dựa trên quan niệm tự do cá nhân.
3- Xã hội dân sự cũng khẳng định tinh chất « tư hữu hóa » các tổ chức xã hội. Sự chọn lọc được thông qua yếu tố « tiền ».
Chính vì những lý do trên. Trước khi chủ nghĩa tư bản hình thành dưới dạng nhà nước. Xã hội loai nguoi không có hình thái xã hội dân sự này.
Trong 3 điều trên, thì yếu tố thứ 3 quan trọng nhất. Có thể nói như cái « chìa khóa bí mật », bản chất của xã hội dân sự. Điều thứ 2 là để nhồi sọ người dân, và điều 1 là hoàn cảnh tự nhiên sinh ra nó.
Để chứng minh điều tôi nói, ta có thể lấy ví dụ khi nước Đức thống nhất, Tây Đức nuốt Đông Đức. Trong lần bầu cử đầu tiên khi hai bên thống nhất, riêng ở phần Đông Đức có tới gần 100 đảng, hội đoàn. Thậm chí có « đảng » ra tranh cử chỉ với lý do « muốn có đường đi xe đạp riêng trong phố », hay « tự do uống bia »… Nhưng hiện tượng dân chủ thực sự này không sống qua được một mùa, và sau đó nước Đức chỉ có những đảng như nó đã có ở Tây Đức.
Cũng chính vì những điều trên, mà Gramsci đã nhận xét ở Tây Âu (Gramsci lấy ví dụ nước Ý, lịch sử Ý), nhà nước tư sản thâm sâu không đứng một mình, và có sự trợ lực của « xã hội dân sự » (tức là những hội đoàn do giai cấp tư sản dựng lên), khi nhà nước thâm sâu tan vỡ (trường hợp của Đức, Ý sau đại chiến I), thì các tổ chức dân sự của giai cấp tư sản này là trụ cột để giữ chính quyền, với sự ủng hộ của phần còn lại của nhà nước thâm sâu (quân đội). Trong trường hợp này quân đội không phải đảo chính độc tài nắm quyền, và đây là cơ sở để hình thành các nhà nước phát xít (Đức, Ý, Tây ban Nha, Bồ đào Nha) như đã xẩy ra ở châu Âu.
Sau khi hệ thống XHCN cũ tan rã, thì hình thái dân chủ phương Tây đa nguyên đa đảng, được phương Tây thổi lên thành hình thức quản lý xã hội duy nhất trên thế giới. Nhưng điều này tạo nên những bất cập khổng lồ trong lòng các nước đang phát triển bởi vì :
1- Ở những nước này không có giai cấp tư sản « tự nó », tức là giai cấp tư sản đủ lớn để có lợi ích giai cấp của mình trùng với lợi ích dân tộc. Trong nhưng nước phát triển nhất của thế giới thứ 3, chỉ có giai cấp tư sản mại bản. Đó là giai cấp tư sản gắn liền lợi ích với tư bản nước ngoài, là chân rết của nó.
2- Ở các nước đang phát triển, vai trò của tư bản nước ngoài rất lớn, có thể khuynh đảo được nhà nước. Nếu điều này được thực hiện, thì đó chính là chủ nghĩa thực dân mới.
3- Ở các nước đang phát triển, xã hội rất đa dạng, và không thuần túy như ở Tây Âu và Mỹ. Thậm chí ở nhiều nước, một con người được đánh giá bởi vị trí của họ trong một sắc tộc, một tôn giáo, một địa phương. Ở đây không tồn tại con người cá thể đầy đủ như ở đô thị phương Tây.
4- Lịch sử của các nước này cũng rất đa dạng, và ở nhiều nơi không có nhận thức dân tộc.

Phó Thường Nhân
Ở trên tôi đã nói tới một số ví dụ về tác động của xã hội dân sự trong phong trào cách mạng xã hội chủ nghĩa nhưng thất bại (Chi lê, Nam phi), mà nguyên nhân nằm trong cấu trúc xã hội, khi có sự cập kênh không đồng pha của nhà nước thâm sâu và xã hội dân sự.
Đáng nhẽ tôi viết tiếp về UK(Ucraine), Georgia, để minh chứng cho việc dùng xã hội dân sự để lật đổ, xâm thực, thì ở đây tôi lại viết về Miến điện, do tính thời sự của nó.
Điều đáng chú ý là câu chuyện ở Miến điện cũng như câu chuyện ở An giê ri, lại là một trường hợp nữa của ứng dụng nhầm, và điều đó khiến cả ở An giê ri lẫn Miến điện đều mất toi 20 năm phát triển.
Trường hợp của Miến điện và An giê ri có điều đặc biệt đó là chính nhà nước thâm sâu của nó đã tung ra chiêu “đa nguyên đa đảng” này, nhưng nhà nước thâm sâu của nó lại không làm chủ được quá trình, do không đánh giá chính xác được tình hình, cũng như sự can thiệp của nước ngoài. Ở An giê ri, quá tình này đã dẫn tới việc đưa hồi giáo cực đoan đến thắng cử. Từ đó dẫn tới một cuộc nội chiến kéo dài hơn 10 năm. Hiện tại, dù lực lượng hồi giáo cực đoan này đã bị loại bỏ, vấn đề lợi dung của nước ngoài vấn tiếp tục, dù việc xuất hiện hồi giáo cực đoan, đã khiến phương Tây nhẹ tay can thiệp hơn. Trong trường hợp An giê ri, Pháp còn tích cực ngấm ngầm giúp đỡ, nhưng một mặt khác cũng vẫn không từ bỏ việc tìm cách nuôi nấng các lực lượng “đa nguyên đa đảng đội quân thứ 5” của mình.
Tiếp tới tôi chỉ nói tới Miến điện. Như tôi đã nói trong chủ đề thời sự về nước này. Tôi không hiểu lý do làm sao vào thời điểm đầu thập niên 90 (cụ thể 1988) nước này lại tổ chức lại hệ thống chính trị theo hướng dân sự hóa, mà không có sự chuẩn bị. Tôi đặt giả thiết là điều này liên quan tới việc Liên Xô sụp đổ, và Miến điện chịu sức ép của các nước phương Tây, mặc dù Miến điện không thuộc hệ thống XHCN cũ. Như vậy giả thiết tôi đặt ra là, trong suốt thời gian các nước XHCN cũ tồn tại, phương Tây chấp nhận các loại chính quyền quân sự, với điều kiện phải chống cộng. Khi mối nguy cơ này không còn nữa, thì phương Tây ép các nước này phải “đa nguyên đa đảng”. Trường hợp của Miến điện như vậy cũng không khác gì các nước đang phát triển khác đúng vào thời điểm này như Indo (với sự ra đi của Suharto), hay ở các nước châu Phi khác từ thập niên 90 đến nay.
Cuộc bầu cử năm 1988 ở Miến điện đã dẫn tới việc một đảng dân sự, hoàn toàn không có chân rết trong nhà nước thâm sâu, trong một xã hội hoàn toàn không có đế giai cấp kiểu tư sản để nó có thể hoạt động. Kết quả bầu cử trở thành một cuộc lật đổ, một dạng cách mạng mầu, vì nhà nước thâm sâu mâu thuẫn với cơ chế xã hội dân sự nó đẻ ra (do bị sức ép từ bên ngoài).
Điều tương tự người ta có thể nhìn thấy ở các nước Đông Âu. Ở Đông Âu, nhà nước thâm sâu XHCN cũ tồn tại được là do Liên Xô chống lưng. Vì thế khi Liên Xô tan rã, nhà nước thâm sâu ở Đông Âu cũng tan rã, dạng “bầu cử lật đổ” này không đặt ra vấn đề gì, vì không có bầu cử, nó cũng đã tan rã rồi. Không kể, ở Đông Âu, Liên Xô đi thì Tây Âu thế chân, vì thế các cuộc “cách mạng thông qua bầu cử” này càng có cơ hội thuận lợi. Trong thực chất, đây là sự thế chân của phương Tây (chủ yếu là Đức, rồi Pháp, Mỹ) thay Liên Xô một cách hợp lý chính danh mà không cần dùng xe tăng, máy bay như ở I rắc. Cũng phải nói thêm cho nó đầy đủ và công bằng, đó là ở các nước Đông Âu, xu hướng phò phương Tây cũng là một bộ phận trong xã hội, đặc biệt nhiều khi nó hình thành ngay trong lòng ê lít nắm quyền thời XHCN cũ (Ba lan, Hung, Tiếp, ..). Ở đây vai trò văn hóa, lịch sử, tôn giáo (Đông Âu, trước thời XHCN cũ là một bộ phận của Tây Âu, nằm trong vùn văn hóa đế quốc Đức, Phổ, Áo-Hung) có tác động lớn. Không kể XHCN kiểu cũ ở đây tồn tại được do yếu tố xung đột Đông-Tây, không phải là bản chất xã hội, vốn đã là một dạng xã hội kiểu dân chủ tư sản, nhưng kém phát triển hơn Tây Âu.
Ở Miến điện, hình thái này hoàn toàn không có. Chính quyền quân quản của Miến được phương Tây ủng hộ (trong quá trình chống cộng, chống phe XHCN cũ 1948-1988), giờ nó quay mặt đi, trở mặt tìm cách lật đổ, nhưng nhà nước thâm sâu của Miến không phải do ai chống lưng, nên không có vấn đề nọ tự tan rã ở đây. Kết quả dân chủ đa nguyên đa đảng ở một nước phương Tây là một quá trình mở rộng của nhà nước thâm sâu, là sự thể hiện của nhà nước thâm sâu trong một xã hội mà giai cấp tư sản nắm quyền hoàn toàn không tồn tại trong một xã hội của thế giới thứ 3 : Á -Phi -Mỹ la tinh, cũng không tồn tại ở Miến điện.
Kết quả dẫn tới xã hội dân sự chống lại nhà nước, trong khi bình thường nó phải là một bộ mặt của nhà nước thâm sâu, là bộ phận “variable” của nhà nước giúp nhà nước thâm sâu chính danh. Tại sao đảng của bà Kỳ lại có thể chiến thắng. Rất đơn giản là nó bán bánh vẽ, do chính quyền quân quản tồn tại cả 50 năm, không thể không có thiếu sót. Kết quả bầu cử mị dân rất đơn giản. Hoặc nó chiến thắng do mị dân, hoặc nó thất bại thì đổ tại bầu cử gian dối gây nội chiến, hoặc nó thắng do bầu cử gian dối thì sẽ .. im hơi lặng tiếng để tiếm quyền và được các nước phương Tây cũng im theo luôn ủng hộ. Nhưng ở đây là một dạng bầu cử không có đáy. Kết quả bầu cử không phản ánh được thực chất quyền lực nhà nước, mà chỉ là một dạng “public relation”.
Trong mâu thuẫn này, kết quả, bầu cử không tạo nên sự đồng thuận để phát triển, mà lại khoét thêm, và tạo ra thêm mâu thuẫn trong xã hội làm tan rã nhà nước.
Ở Miến điện cũng như ở An giê ri vào năm 1988, nhà nước thâm sâu xóa kết quả bầu, dẫn tới việc Miến điện bị phong tỏa 20 năm.
Vào năm 2010, chính quyền quân quản này lại tổ chức lại lần nữa, và họ đã làm tốt hơn. Không kể bản thân bà Kỳ và đảng của bà ta cũng phát triển theo hương thỏa hiệp hơn, tọ điều kiện cho Miến điện có chính phủ dân sự vào năm 2015. Như vậy Miến điện đã mất 20(1988-2010) năm phát triển.
Hiện tại, cuộc đảo chính vừa xẩy ra đã chỉ ra một điều nữa bất cập của chính thể loại này trong một nước không có cấu trúc xã hội, lịch sử, văn hóa giúp nó có thể tồn tại lành mạnh. Đó là vấn đề độc quyền chính trị.Trong một nước “đại nghị tư sản không đáy” như kiểu ở Miến, đảng cầm quyền luôn chiến thắng, và chiến thắng với các tỉ số áp đảo. Thậm chí nó có thể thắng bằng gian lận, bởi đơn gian xã hội không phân liệt giai cấp kiểu tư sản lớn tới mức chúng có thể là một cái đế ngầm, để trên đó xã hội có thể “trồng trọt” nhiều lợi ích nhóm, kiểu “đại đồng , tiểu dị”. Đại đồng do chúng có chung cái đế ngầm, tiểu dị để bầy trò bầu bán thông qua xã hội dân sự cho vui. .
Nếu trong thời gian 5 năm qua, mà nhà nước thâm sâu của Miến dần thâm nhập và hòa đồng với đảng của bà Kỳ, như một dạng fussion, thì việc này không có vấn đề gì. Vấn đề ở đây là hai bên vẫn đối địch nhau, và cả hai đều tìm cách độc quyền chính trị.
Việc không thể thay thế chính đảng cầm quyền bằng bầu cử, mà chỉ có thể thay thế bằng đảo chính tồn tại ở ngay cạnh nước Miến. Đó là Thái lan. Ở Thái vấn đề cũng tương tự.
Hiện tại, việc đảo chính ở Miến điện thực ra không phải là “phép thử của TQ với chính quyền Binden” như báo chí phương Tây nói, hay là một chế độ độc tài thay thế dân chủ. Cuộc đảo chính này thực ra không khác gì các cuộc đảo chính ở Thái. Nó chỉ là bện trạng của một xã hội đã nhập khẩu một hệ thống chính trị không hợp lý với nó. Kết quả hạ tầng cơ sở kinh tế, nhà nước thâm sâu (ở Miến thể hiện qua quân đội), và cơ chế của xã hội dân sự mâu thuẫn với nhau, náo loạn, đánh lẫn nhau, trong khi ở một nước tư sản điển hình theo mô hình này thì hạ tầng kinh tế = nhà nước thâm sâu= xã hội dân sự.
Để các bác nếu có một chút kiến thức về chủ nghĩa Mác -Lê nin hiểu được rõ hơn, tôi nói thêm rằng. Trong học thuyết mác-lê nin, người ta chia xã hội thành hai tầng : hạ tầng cơ sở bao gồm sở hữu công cụ sản xuất và quan hệ sản xuất và thượng tầng cơ sở tức là hệ thống chính trị. Ở đây tôi chỉ cụ thể hóa hệ thống chính trị thành hai tầng : nhà nước thâm sâu và hình thái đại diện chính trị.
Hình thái đại diện chính trị trong một hệ thống dân chủ tư sản bao gồm cả cái gọi là xã hội dân sự. Thực ra xã hội dân sự, chỉ là một mẩu nhỏ của nó. Tôi gọi là phần biến số (variable), nó còn có phần bất biến (invariable) thì liên quan chặt chẽ tới nhà nước thâm sâu (quân đội, an ninh, tòa án), và có phần được điều khiển trực tiếp bằng hạ tầng cơ sở tức là hệ thống media, qua các chủ báo, chủ tivi, radio...
Ở những nước mà cách mạng không thành công như Chi lê, là bởi vì đấu tranh cách mạng chỉ luẩn quẩn trong bộ phận “xã hội dân sự” tí xíu kia. Ở Vê nê duy ê la, cuộc cách mạng bô li va, đứng đầu là Hugo Chavez không kiểm soát được hạ tầng cơ sở, cũng không kiểm soát được hết “xã hội dân sự”, chỉ kiểm soát được nhà nước thâm sâu, dẫn đến tình trạng hiện nay.
Ở Miến điện, xã hội dân sự đối địch với nhà nước dù đã có 10 năm chung sống.
Cũng nên để ý rằng. xã hội dân sự kiểu dân chủ tư sản này ở một nước đang phát triển có thể đươc nuôi dưỡng (Fueled) bằng tinh thần cách mạng, do mâu thuẫn xã hội tạo ra, nhưng cũng có thể được nuôi dưỡng bằng sự can thiệp của bên ngoài. Trong trường hợp này, ta sẽ có các cuộc “cách mạng mầu” hay là phản cách mạng.
Phó Thường Nhân
Đáng nhẽ trong chủ đề này tôi sẽ viết đến các dạng cách mạng mầu, như là một cách sử dụng hình thức dân chủ phương Tây để can thiệp. Nhưng vì có sự kiện ở Miến điện, nên tôi tiếp tục dừng chân ở đây để phân tích nó. Sự kiện chính trị ở Miến điện có thể coi là một dạng cách mạng mầu, nhưng cũng có thể coi đó là một sự áp dụng sai của hình thức dân chủ phương Tây. Phân tích nó, khiến ta sẽ hiểu rõ bản chất của dân chủ tư sản phương Tây hơn. Điều này càng quan trọng với người VN và cả ĐNA nữa.
Tôi nói thế nghĩa là thế nào ? Ở ĐNA hiện nay có sự cạnh tranh quyết liệt của TQ và Mỹ. Với TQ, nước này có quan niệm ĐNA như một dạng châu Mỹ la tinh với họ. Họ coi vùng này là ảnh hưởng tự nhiên của TQ. Điều này đã thể hiện ra trong quan điểm khi TQ muốn thảo luận DOC/COC với các nước trong vùng. Nhưng điều kiện TQ đặt ra, về bản chất không khác chính sách Monreo của Mỹ vào cuối thế kỷ XIX và vẫn còn tồn tại cho tới ngày nay, có nghĩa là bất cứ quan hệ của ĐNA với các nước ngoài khu vực, phải được TQ kiểm duyệt đồng ý. Để làm điều đó TQ vừa dùng chính sách kinh tế (củ cà rốt) và cây gậy (tức là can thiệp vũ trang với mức độ thấp, bành trướng chủ quyền thông qua chiếm đóng biển đảo). Trong chính sách cây gậy này, VN là nạn nhân lớn nhất.
Sự đấu tranh ngược lại của Mỹ nhằm vào TQ, về khách quan cũng có tác dụng cân bằng lực lượng, vì thế tôi mới nói VN và Mỹ là đồng minh khách quan. Nhưng trong cái nhìn của Mỹ cũng chuyển tải một sự hiểm nguy khác, thông qua can thiệp vào nội bộ các nước, dưới danh nghĩa « dân chủ tư sản », « dân chủ tư sản duy nhất đúng ». Như vậy điểm đến tận cùng của Mỹ cũng là một dạng để ĐNA thành một thứ châu Mỹ la tinh thứ 2. Điều này cũng đi ngược lại của lợi ích các nước trong vùng. Sức ép này của Mỹ không chỉ nhằm vào VN là một nước không cùng hệ thống chính trị với Mỹ, mà còn nhằm vào các nước đã có thể chế dân chủ tư sản. Sự việc ở Miến điện là một ví dụ. Chính sức ép của Mỹ đã khiến ngay cả một nước như Philipines, là một nước có đủ các loại hiệp định với Mỹ ngần ngại và laị tìm cách chơi với Nga và TQ. Các nước không bị TQ đe dọa trực tiếp chủ quyền như Thái, Indo ngần ngại. Có nước hưởng lợi lớn trong quan hệ với Mỹ như Singapor lại trở thành một dạng luật sư của TQ. Malaysia dù bị TQ sử dụng gậy, nhưng cũng có quan hệ kinh tế đặc biệt về tài chính với TQ.
Chính vì thế, các nước có quan hệ bền chặt nhất với Mỹ và phương Tây, luôn là bạn đồng hành của phương Tây, giờ đây lại là những nước có thái độ thiện chí nhất với TQ, ví dụ Thái lan, Singapour và ngay cả Philipines. Thái độ của họ như vậy, bởi chính do thái độ của phương Tây với các nước trong vùng. Trong thực tế, khi quan hệ với phương Tây, trong các nước này sẽ hình thành một cấu trúc chính trị kinh tế dẫn đến họ bị ấn vào cái khung mà người ta thường nói tới như « cái bẫy của các nước thu nhập trung bình », nói một cách khác giới kinh doanh ở đây bị kẹp vào xu thế « tư sản mại bản ». Nếu vùng ra khỏi nó thì phương Tây sẽ không muốn. Và vì thế các dạng sức ép chính trị sẽ được thực hiện. Ta có thể hiểu nó như một dạng thuộc địa kiểu mới.
Thái độ của phương Tây có thể nhìn thấy rõ ràng nhất trong quan hệ của họ với Miến điện. Nước này đã bị phương Tây phong tỏa vì không dân chủ từ năm 1988, thời điểm mà vấn đề TQ chưa đặt ra, trong khi nhà nước này luôn ở phía phương Tây. Họ chưa bao giờ là một nước XHCN, hay là một đồng minh của TQ.
Như tôi đã nói, chính quyền quân sự ở Miến là một bộ mặt của thể chế dân chủ đại nghị phương Tây, thể chế này có hai thái cực chính quyền quân sự là dạng mặt mộc, chính quyền dân sự thông qua bầu cử là dạng mặt bôi son trát phấn. Ở các nước tư bản phát triển. Bôi son trát phấn ở trên mặt mộc, tức là xã hội dân sự kiểu phương tây là cánh tay kéo dài của nhà nước tư sản thâm sâu, dựa trên giai cấp tư sản, tồn tại tự nó như một dạng chính đảng ngầm. Đây cũng chính là nhận xét của Gramsci về hệ thống nhà nước ở phương Tây, như ông nói, xã hội dân sự phương Tây là những pháo đài bên ngoài bảo vệ thành trì nhà nước tư sản bên trong.
Ở tất cả các nước đang phát triển, do không có một giai cấp tư sản thực sự, giai cấp tư sản ở đây chỉ yếu là tiểu tư sản (tức là trí thức), một bộ phận tư sản mại bản, trong điều kiện như vậy, xã hội dân sự như phương Tây muốn ép vào không có đế,mà lại trở thành đạo quân tiên phong cho tư bản nước ngoài xâm nhập. Nói cách khác xã hội dân sự cũng trở thành mại bản, thành những pháo đài cho tư bản nước ngoài xâm nhập chiếm lợi thế, thông qua ăn cơ chế.
Vì tầng lớp trí thức ở những nước đang phát triển chiếm vai trò chủ yếu trong giai cấp tư sản ở đây (tiểu tư sản), nên ta hay tìm hiểu tại sao tầng lớp này lại trở thành cái loa cho phương Tây. Tôi sẽ lấy một ví dụ để ta có thể nhận thấy.
Ở Paris, ngay trong trung tâm của nó có một công trình nghệ thuật đương đại nổi tiếng : trung tâm văn hóa Pom pi đu (Centre Pompidu). Pompidu là tên tổng thống Pháp đề xướng ra việc xây dựng công trình này. Xung quanh trung tâm văn hóa này có rất nhiều các tiệm bán đồ tranh anh, lưu niệm, .. đặc biệt là hội họa tranh tượng. Có một thời gian, cách đây đã lâu, tôi đi qua đó, và thấy họ bán rất nhiều các bức tượng mầu đỏ, hình một người châu Á đang uốn lưng, mặt ngẩng lên cười nịnh bợ, rồi lại có cả những bức tượng khủng long, cũng mầu đỏ… Tìm hiểu ra mới biết đó là những « tác phẩm nghệ thuật » của các họa sĩ TQ đương đại, được đánh giá theo thẩm mỹ phương Tây là tác phẩm nổi tiếng. Vấn đề là nó có thật là những tác phẩm có giá trị nghệ thuật không ? đây là điều phải bàn cãi. Tại sao ? vì với tôi, nhìn nó thấy ẩn ý và định kiến rất rõ. Hình con khủng long đỏ, là ẩn ý biểu tượng của đảng CS TQ. Ngụ ý nó muốn nói chế độ TQ cổ lỗ như con khủng long, là một loại động vật đã bị diệt chủng trên thế giới từ cách đây hơn một triệu năm. ẩn ý đã rõ ràng. Còn hinh ảnh người châu Á cười nịnh bợ, cũng là một dạng định kiến mà ở phương Tây thường có. Tóm lại, sự đánh giá chúng là tác phẩm vĩ đại, người làm ra chúng là nhà tạc tượng tài năng không chỉ vì nghệ thuật, mà còn là do định kiến. Vấn đề là tại sao có những nghệ sĩ TQ làm những điều này. Thứ nhất họ có tư duy phản đối, thứ nhì là họ « sáng tạo » theo nhu cầu thị trường mà họ muốn nhắm tới. Điều này cũng giống như các loại phim, khi đi thi ở các giải liên hoan phim phương Tây được giải cao, như chiếu ra rạp cho dân xem thì lỗ, thậm chí nó còn phản cảm. Thường hai lý do trên đi liền với nhau. Họ có tư duy phản đối vì chịu ảnh hưởng của sức mạnh mềm của phương Tây, cũng như đi vào đó họ có được một thị trường. Khi bị xã hội bản địa, chính phủ phản ứng lại, thì họ lại càng cho mình là đúng, và càng đi sâu vào xu hướng này hơn, càng bất mãn hơn. Còn giả dụ họ đi ngược lại sáng tạo cho bản địa, thì có khi lại lỗ, không bán được tranh tượng, mà nếu bán được, sức mua của người bản địa cũng thấp, không lời bằng bán cho phương Tây. Không kể được media phương Tây tung hô, thì rõ ràng có PR tốt hơn, mác bị « trù dập » khiến cho tác phẩm của họ càng nổi tiếng hơn như một dạng quảng cáo Marketing với những lý do hoàn toàn ngoài nghệ thuật, nhưng núp bóng nghệ thuật, vì nó chỉ phản ánh cái nhind định kiến của khách hàng phương Tây. Ở đây tôi chỉ lấy một ví dụ hội họa nghệ thuật, nhưng cái lô gics này nó bao phủ cả môi trường sinh hoạt văn hóa nghệ thuật nhân văn (văn học, đánh giá nhận xét lịch sử, quan niệm tôn giáo, ..). Trong điều kiện này, thì xã hội dân sự, dư luận do nó tạo ra sẽ là dạng xã hội dân sự, dư luận mại bản. Điển hình như ta thấy trước mắt là ở Miến điện.
Không phải chỉ ở Miến điện, mà ở các nước đang phát triển khác cũng có vấn đề xã hội dân sự mại bản như vậy. Ở nhiều nơi, ngay cả ở Nga, nó được cấu trúc bởi các ONG của phương Tây. Như vậy « xã hội dân sự » ở Tây Âu và Mỹ thì bảo vệ nhà nước tư sản, giai cấp tư sản của nó, còn ở các nước đang phát triển, thì nó lại là công cụ để phương Tây xâm nhập với sự ủng hộ ngây thơ của các « chí sĩ tiểu tư sản ». Cũng phải nói thêm là, môi trường đô thị cũng giúp cho tư duy này phát triển, vì nó là một đặc trưng của văn hóa đô thị. Một điều nữa cũng đáng kể, đó là phương Tây tự cho mình có quyền xét điểm thế nào là dân chủ. Trong điều kiện như vậy, nồng độ mại bản của nó cang tăng, nhưng cũng đồng thời thể hiện một sự chuyển biến trong xã hội các nước đang phát triển trong một quá trình toàn cầu hóa (cũng do phương Tây tạo ra) nhưng xã hội của các nước đang phát triển không làm chủ được.
Khác với ở các nước khác, ví dụ châu Phi. Tình trạng ở Miến đặc biệt ở chỗ, hệ thống « dân chủ » này không bao khắp Miến điện, mà chỉ dính dáng tới tộc người chính ở đây là người Miến. Còn với các dân tộc thiểu số khác, thì mâu thuẫn của họ với chính quyền trung ương đã có thông qua các cuộc xung đột vũ trang. Trong xung đột quân đội – đảng bà Kỳ này, người thiểu số vẫn đứng ra ngoài. Nó cũng nói lên nhiều tính chất « dân chủ » của nó.
(còn tiếp vì ..dài quá)
Phó Thường Nhân
Quan sát những tin tức được media phương Tây đưa lên, vì tôi không có tin tức khác. Sau một tháng biểu tình, tôi nhận thấy người tham gia chủ yếu là thanh niên, học sinh. Hôm nay còn có tin, trong số nạn nhân có cả trẻ con khoảng độ 15, 16 tuổi. Trừ bì đi độ chính xác của chúng, thì việc tham gia biểu tình chủ yếu là tầng lớp thanh niên trẻ có lẽ là thông tin chính xác. Điều này cũng không đáng ngạc nhiên, vì trong mỗi xã hội, đây là lực lượng disponible nhất, cả về vấn đề lý tưởng, không có trách nhiệm gia đình, xã hội cá nhân. Việc lực lượng thanh niên tham gia nhiều nhất cũng không phải là điều đặc biệt của Miến Điện. Ở VN, thời chống Mỹ, thời thuộc đia Pháp, lực lượng thanh niên cũng đóng vai trò chính, và cũng từ đây mà xuất hiện các lãnh tụ cách mạng về sau. Hầu hết các lãnh tụ cách mạng VN đều ra đời từ sau phong trào đám tang cụ Phan chu Trinh, còn ở miền Nam, thì phong trào thanh niên chống Mỹ vẫn có tới tận năm 1975.
Điều đáng nói là ở VN, các phong trào này có mục đích lật đổ chế độ thực dân. Nó khác nhiều với phong trào hiện tại ở Miến, khi cả quân đội (mà thực chất là một dạng đảng phái vũ trang) lẫn người biểu tình theo đảng của bà Kỳ đều nằm cùng trong một cơ chế, một nhà nước.
Ở Miến điều mắc kẹt của nó là cuối cùng điều mà dân chủ Miến điện theo như đảng bà Kỳ muốn là gì ? và điều đó có thể là mục tiêu của toàn xã hội Miến hay không ?
Theo như cấu trúc của nó, với sự đánh giá của tôi, thì đảng NLD của bà Kỳ là một bộ phận của nhà nước Miến. Trong trường hợp này, thì vấn đề của nó là hợp tác thế nào với nhà nước thâm sâu Miến, được đại diện bởi quân đội. Nó không thể là một cuộc nổi dậy hay lật đổ nhà nước thông qua « dân chủ ».
Rõ ràng đảng NLD của bà Kỳ đã đánh mất một cơ hội quan trọng sau khi thắng cử vào tháng 12/2020, đó là khẳng định bảo vệ hiến pháp, từ vị thế thắng cử lớn (thật hay giả thì cũng không rõ) mà trấn an vai trò của quân đội, và từ đó củng cố dân chủ thực sự ở nước này, thay bằng tìm cách thay đổi hiến pháp làm một dạng lật đổ mang tên dân chủ.
Đáng tiếc là trong 10 năm kể từ khi chính quyền quân sự Miến có tiến trình dân chủ, mà hay bên còn gầm gừ nhau như vậy thì không thể nào có dân chủ được. Nhưng cũng có điều an ủi là Thái đã dân chủ kiểu này từ năm 1930, cũng không có tiến bộ gì hơn. Còn ở những nước khác ở ĐNA, nhiều nước theo chế độ này chỉ là dân chủ « một phần hai » tức là có một đảng chính còn các đảng còn lại chỉ đóng vai trò làm cảnh (1/2) ví dụ Malaysia, Singapor (tôi gọi là đa đảng giả một đảng thật). Còn lại Philipines thì muốn không dân chủ cũng không được (do quan hệ với Mỹ) dù nó có tồi tới đâu, chỉ có Indonesia là khá khẩm hơn, nhưng thời gian dân chủ của nó quá ngắn để có thể xem nó sẽ là dạng dân chủ « một phần hai » hay là « dân chủ đảo chính » chưa rõ. Ở Singapor dân chủ tư sản này còn thành một dạng « gia đình trị » của nhà Lý Quang Diệu.
Thay vì đi biểu tình, đảng của bà Kỳ nên chuyển sang thái độ hợp tác. Thay khẩu hiệu « giành chính quyền » bằng đòi sự cam đoan chính xác của quân đội về tổ chức bầu cử. Trong thời gian này thì nên củng cố đảng của mình hơn là xua trẻ con đi chết thay. Và nếu có bầu cử, thì có thể yêu cầu ASEAN giám sát, giống như lần bầu cử đầu tiên (2015) nếu hai bên còn nghi kỵ nhau chưa « đại đồng tiểu dị » được.
Từ mấy ngày nay, đã có những tiếng nói « bú mớm » cho giới biểu tình là đấu tranh vũ trang. Trong trường hợp đó, thì đây không còn là dân chủ nữa mà là lật đổ. Nhưng khả năng này rất khó thành công, vì đảng này NLD không có cánh tay vũ trang và đấu tranh vũ trang của các sắc tộc thiểu số ở đây đã kéo dài cả nửa thập kỷ mà không dẫn tới đâu. Nhân sự của đảng này cũng chủ yếu là dân thành thị bị bú mớm bởi media phương Tây, không phải là lực lượng có thể « nếm mật nằm gai » trong rừng, vận động nông thôn được. Vì nếu thế thì họ không còn là dân chủ phương Tây nữa mà thành .. Mao ít, nhưng họ có yêu TQ đâu. Vậy có làm được không ?

Phó Thường Nhân
Bổ xung một chút về Miến điện, rồi tôi sẽ nói tới tiếp trường hợp UK. Nhưng điều viết dưới đây thực ra đưa vào thời sự mới phải, nhưng nó lại là ví dụ để làm rõ lý thuyết, cho nên viết luôn ở đây cho nó khỏi lạc đàn.
Hiện tại, nhìn trên màn hình TV của media phương Tây, (tôi phải nói rõ như vậy, vì thông tin có chiều, mà tôi lại không thể có hết thông tin đa dạng khách quan), tôi thấy khẩu hiệu của các nhóm biểu tình viết bằng tiếng Anh « không chấp nhận chính quyền quân sự ». Với câu khẩu hiệu kiểu này thì sẽ không đi tới đâu. Nên đổi câu khẩu hiệu thành « đảm bảo bầu cử đúng hạn, tự do » hay gì đó. Bởi vì chính chính quyền quân sự cũng tuyên bố rằng họ không nắm chính quyền lâu. Vấn đề là thời hạn bao nhiêu. Bằng cách thay đổi khẩu hiệu, để hai bên có thể hợp tác thủa thuận được, thì mới có thể giải quyết xung đột hợp lý, tìm ra giải pháp , bước đi để thoát khỏi cái bẫy cực đoan của hai bên. Nên để ý là chính quyền quân sự hiện tại không cấm và giải tán đảng bà Kỳ.
Tại sao những người biểu tình không làm thế ? ở đây nó lại có một vấn đề nữa, đó là nếu đưa khẩu hiệu như vậy, thì sẽ không động viên được người đi biểu tình. Tại sao ? hiện tại, người ta đi biểu tình vì tâm lý bị dọa là chính quyền quân sự sẽ kéo dài như thời trước, và hiển nhiên điều này người dân khó chấp nhận, mặc dù khó khăn thời đó không hoàn toàn là trách nhiệm của chính quyền quân sự mà là hệ quả của phong tỏa kinh tế phương Tây. Một phần quan trọng tâm lý người dân xuống đường là từ những trải nghiệm này. Như vậy để « động viên » người biểu tình mà những người tổ chức phải « lừa », và từ đó tạo ra cái bẫy cho chính họ.
Tôi có thể nói điều này vì có một trải nghiệm cá nhân. Đó là thời đang đi học ở Pháp, một hôm tự nhiên có mấy thằng sinh viên nằm trong tổ chức thanh niên của đảng xã hội Pháp vào lớp học kêu gọi đi biểu tình. Lúc này là thời điểm chính quyền phái hữu ở Pháp của Jacques Chirac. Đại khái nó có cái luật gì đó mà bọn nó nói là « rất nghiêm trọng », hệ quả thế này thế kia với sinh viên. Thế là cả lớp bỏ đi biểu tình (vì đây cũng là dịp trốn học hợp pháp). Tôi cũng đi theo vì tò mò muốn xem bọn nó « thể hiện dân chủ » thế nào. Kết quả lớp tôi đi biểu tình rất vui vẻ, hò hét, dương biểu ngữ, .. chắc giống như là ở VN thanh niên đi bão khi có sự kiện bóng đá.
Nhưng rất may là cuộc « biểu tình » mà tôi tham gia này kết thúc hòa bình,vì sau đó một đám biểu tình khác xung đột với cảnh sát đi xe máy, và có một sinh viên chết trong xô xát. Chính phủ Pháp lúc đó cũng bỏ cái luật này, nhưng khi tìm hiểu nó, tôi mới thấy là những gì mấy « đồng chí » sinh viên kêu gọi biểu tình là fake, là cách diễn giải quá mức, có định kiến, kích động.. chứ thực sự nó không phải thế.
Từ đấy tôi mới đặt câu hỏi, tại sao nó phải lừa mình. Nó lừa vì phải tận dụng tâm lý đám đông, còn nguyên nhân sâu sắc của nó là muốn có biểu tình để gây sức ép chính trị vì nó đang ở đối lập.
Do ở Pháp, nó là một thể chế dân chủ đại nghị điển hình, cả đối lập và nắm quyền thực ra cùng năm trong « class politique » (tức là giới cầm quyền), đại đồng, tiểu dị, .. nên biểu tình trở thành sinh hoạt văn hóa, nhiều khí không thú vị gì cho sinh hoạt thông thường. Ai ở Paris vào dịp có bãi công thì rõ, mà nhiều khi bãi công lãng nhách vì những chuyện không đâu.
Câu chuyện sẽ nghiêm trọng hơn rất nhiều trong trường hợp Miến điện, nhưng việc sử dụng tâm lý đám đông có lẽ không khác.
Bằng chứng, người biểu tình đã đi đập phá các công ty TQ, và điều này chỉ vì họ tin vào các thông tin trên mạng, và có lẽ họ muốn quốc tế hóa câu chuyện để kiếm sự ủng hộ mạnh mẽ hơn của phương Tây, muốn phương Tây « trừng phạt » kinh tế Miến điện. Và nếu câu chuyện này xẩy ra, thì nó sẽ là dạng prophétie autoréalisatrice. Có nghĩa là điều định kiến đã dẫn người ta tới hành động để tự biến định kiến đó thành hiện thực. Ở đây vì người ta nghĩ tới giai đoạn embago mà đi biểu tình, để rồi biểu tình lại dẫn tới Embago.
Trong trường hợp Miến điện hiện tại, TQ không phải là người giật dây đảo chính, nhưng họ cũng chẳng có lợi gì ủng hộ biểu tình. Và hiện tại phương Tây cũng không muốn làm mạnh, vì không muốn đẩy Miến điện vào tay TQ. Còn vào thời điểm 1988, phương Tây Embago bởi vì sự kiêu ngạo, định kiến của nó, muốn dựng lên các chính quyền « dân chủ tư sản bảo kê » ở khắp các nơi, bất chấp thực tế lịch sử, xã hội, kinh tế, văn hóa. Nhưng thời cuộc bây giờ không giống thế nữa.
Phó Thường Nhân
Trong bài phát biểu nhậm chức của thủ tướng Phạm Minh Chính, có điều rất thú vị, nên tôi phân tích nó ở đây, vì nó nói tới quan hệ trong hệ thống chính trị Vn thế nào, thích hợp với chủ đề này.
Đó là ông tuyên bố chính phủ tuân lệnh Trung ương đảng, bộ chính trị, và tổng bí thư đồng thời yêu cầu Chủ tịch nước, hệ thống pháp luật, ủng hộ và hợp tác. Có nghĩa là chủ tịch nước không phải là lãnh đạo trực tiếp của Thủ tướng. Chủ tịch nước và Thủ tướng cùng chia nhau các mảng quyền lực khác nhau (tức là vấn đề trách nhiệm) của nhà nước, chứ ông này không thể điều khiển ông kia.
Đoạn diễn văn ngắn này đã tổng kết một cách chính xác quan hệ giữa « tứ trụ » với nhau. Đây cũng là quan hệ truyền thống chính trị ở VN từ khi Hồ chủ Tịch mất, và thậm chí còn trước khi Hồ chủ Tịch mất. Tức là tất cả truyền thống chính trị của nhà nước VN độc lập có chủ quyền thời hiện đại. Trước đó là các chế độ phong kiến. Còn các dạng chính quyền thực dân, miền Nam cũ đều là các dạng ngoại lai, là các dạng chính quyền bù nhìn, mất nước.
Hãy nhìn theo dòng lịch sử. Sau đại hội Đảng lần thứ III, vào năm 1960, khi ông Lê Duẩn được bầu làm tổng bí thư, thì Bác Hồ ngày càng lùi sau ra hậu trường, nhưng trong đảng không có vấn đề tranh dành vị trí của Bác, vì người như Bác Hồ lịch sử VN có lẽ hàng trăm năm mới tạo ra một người, nó liên quan tới vận mệnh lịch sử của đất nước. Chính xác hơn, có thể nói ông Lê Duẩn và Bác Hồ mỗi người hướng về một đối tác (lúc này là Liên Xô và TQ, mà cuộc tranh đấu giành giật của hai bên với phong trào cộng sản và công nhân quốc tế, gây rất nhiều khó khăn cho VN, vì VN cần cả hai bên trong cuộc kháng chiến chống Mỹ).
Việc chuyển tiếp quyền lực tối cao ở VN không làm nẩy sinh ra những xung đột như ở TQ giữa Mao trạch Đông một bên và các lãnh tụ cách mạng TQ khác.
Sau khi Bác Hồ mất thì chủ tịch nước là Bác Tôn (Tôn Đức Thắng), nhưng vai trò chủ tịch nước lúc này chủ yếu có tính tượng trưng. Tiếp nữa khi bác Tôn mất, thì chủ tịch nước là bác Trường Chinh, lúc này tên chức vụ là chủ tịch hội đồng nhà nước. Còn thủ tướng thì được gọi là chủ tịch hội đồng bộ trưởng, bác Phạm văn Đồng. Nhưng ông Trường Chinh lại là người kiến tạo ra đổi mới cùng với tổng bí thư.
Cách đây cả 10 năm, cũng trong langven, tôi có nói là nếu nhập chức vụ Tổng Bí Thư và chủ tịch nước làm một thì hợp lý hơn, và nó cũng làm tăng cường vị trí của người đứng đầu đảng trong nhà nước. Đây là cấu trúc của TQ và Lào.
Lúc bác Trọng đảm nhiệm hai chức vụ, những tưởng điều này thành sự thật, nhưng với việc hồi phục lại « tứ trụ triều đình », thì rõ ràng cấu trúc này có tính truyền thống, và bền vững. Ở đây người ta có thể thấy rằng trong luật có lệ. Và lệ, tức là truyền thống sinh hoạt chính trị là cái đế của luật.
Các hiến pháp của các nước tư bản cũng vậy thôi, đó là những lệ được chuyển đổi thành luật. Còn lệ ở đây thì lại phụ thuộc vào kinh nghiệm sinh hoạt chính trị, lịch sử văn hóa, tâm lý, nguồn gốc truyền thống tôn giáo, vì thế các nước tư bản khác nhau đều có sự dị biệt trong cấu trúc chức vụ, quyền hạn, và quy trình tác động quyền lực của các chức vụ với nhau.
Không hẹn mà nên, cấu trúc chính trị của VN rất giống Liên Xô, nhưng sự giống nhau này có phần tình cờ và đồng thời cũng là hữu ý. Tình cờ là cho tới những năm 80, khi VN hoàn toàn ngả vào Liên Xô, các chức vụ của nhà nước cũng được gọi theo kiểu Liên Xô, như chủ tịch hội đồng nhà nước chính là Tổng Thống. Chủ tịch hội đồng bộ trưởng chính là thủ tướng. Việc áp dụng cấu trúc Liên Xô vào hệ thống chính trị VN lúc đó không tạo nên xáo trộn nào về chức vụ. Trong khi trước đó, tức là thời VN dân chủ cộng hóa, VN không lấy mô hình Liên Xô làm chuẩn. Tình cờ mà cấu trúc của hai bên tương đương nhau, chỉ khác cái tên gọi chức vụ.
Sở dĩ có sự tình cờ này cũng vì bởi có một sự hữu ý. Đó là ở cả Liên Xô và VN, khi làm cách mạng, thì chính quyền cách mạng vẫn lấy hình mấu nhà nước cộng hòa (republic) như các nước tư sản, mà điển hình là nước Pháp, chứ không lấy hình thức lập hiến tức là chế độ có vua. Bởi vì là hình thái cộng hòa mà có các vị trí Tổng thống, Thủ tướng. Nhưng do hình thức một đảng, cho nên Tổng bí thư mới là người có quyền lực tối cao về chính trị. Điều này đúng ở Liên Xô, đúng ở VN. Kết quả vị trí Tổng thống thực ra là vj trí thừa, có nhiều tính biểu tượng hơn thực chất. Nó là dấu vết của hình thức nhà nước cộng hòa mà cả hai bên (Liên Xô và VN) cùng chung nhận thức.
Trong trường hợp VN, thì bộ chính trị và trung ương đảng trở thành cái cầu nối hai cấu trúc Đảng và nhà nước.
Mặc dù là hình thức « thừa », nhưng ở trong trường hợp VN nó lại có thể hữu dụng, vì nó cho phép hệ thống chính trị Vn có hình thái mềm dẻo để quan hệ với các đối tác đối đầu nhau.
Trường hợp TQ lại khác nữa. Ở đây tính chất tập trung cao hơn, do Tổng bí thư là chủ tịch nước. Có thể nói đây là truyền thống tập quyền của nhà nước TQ có từ trước.
Ở trong chủ đề thời sự, tôi có bình luận là hệ thống chính trị VN hiện tại là đứa con tinh thần của Liên Xô, VN là người kế thừa Liên Xô. Nhưng phải hiểu kế thừa đây là sự giống nhau trong phân bố quyền lực, chứ không phải là sự bắt chiếc mù quáng, hay Liên Xô áp đặt vào.

Phó Thường Nhân
Tiếp tục câu chuyện cấu trúc nhà nước và hiến pháp. Bây giờ sẽ nói tới những chế độ dân chủ phương Tây áp dụng chệch. Và nước đầu tiên người ta nghĩ tới là Ucraina.
Vào năm 1994 (khoảng đó tôi nhớ không chính xác), khi nước UCRAINA ra đời từ sự tan rã của Liên Xô, thì nước này cũng áp dụng thể chế dân chủ đa nguyên đa đảng như ở phương Tây. Nhưng cũng như Nga, cấu trúc xã hội nước này không có giai cấp tư sản, vì trước đó Liên Xô cũng như các nước XHCN khác có hình thức sở hữu tập thể. Hiển nhiên giai cấp tư sản không tồn tại ở đây.
UK(viết tắt Ucraina) cũng là một nước mới tinh, chưa bao giờ có sự tồn tại như một nhà nước. Điều này không những đúng với UK mà còn đúng với nhiều nước cộng hòa trong Liên Xô trước. Nếu ở các nước Đông Âu, có nhiều nước đã từng có thể chế này như Tiệp, Hung, Ba lan, Bun, Ru, trong thời kỳ 1918-1945 .. mà sự hoàn thiện của nó trong quá khứ khác nhau (điển hình ở Tiệp, Hung, yếu hơn ở Ba lan, quặt quẹo ốm yếu ở Bun, Ru), UK hoàn toàn không có tý gì. Lãnh thổ hiện tại của UK là sự chắp ghép lại của những vùng đất khác nhau nằm trong các đề quốc Nga Sa hoàng, Áo-Hung, thậm chí cả Thổ nhĩ kỳ (nếu leo lên tận thế kỷ XVII, ví dụ với vùng sông Đông và Crimea).
Thời đầu độc lập, đó là thời kỳ mà nhân sự nhà nước có nguồn gốc từ đảng cộng sản UK trước. Đây là thời kỳ tương đương với chế độ Elsine ở Nga, là thời điểm hình thành các tài phiệt ở nước này.
Nếu ở Nga các nhóm tài phiệt đã bị chính quyền Putine đưa vào khuôn phép, thì ở UK điều này không xẩy ra. Vì thế ta có thể coi UK là hiện trạng nước Nga nếu Putin không nắm quyền.
Ở đây các nhóm tài phiệt (gọi là nhóm cho oai, chứ phần lớn là các cá nhân), sau khi chiếm đoạt chia xet tài sản công cộng ở đây , đã đấu đá với nhau để có thể ăn cơ chế. Như vậy cấu trúc chính trị ở đây cũng là một thứ trò hề của dân chủ tư sản, vì nó không có giai cấp tư sản, mà thay vào đó là các dạng tài phiệt kiểu mafia.
Khác với Nga thời Elsine, mặc dù tài phiệt Nga làm mưa làm gió lúc đó, nhưng Nga còn thừa hưởng của Liên Xô bộ khung cứng nhà nước vẫn còn dùng được, đó là an ninh và quân đội. Tiếng Nga gọi là silovnik (sila là sức mạnh lực lượng tiếng Nga, giống như từ Force tiếng Anh). Chính nhờ dựa vào lực lượng này mà Putin vực nhà nước Nga dậy. Điều không tồn tại ở UK. Ở đây từ quân đội đến an ninh hoàn toàn tan rã, xuy sụp.
Không những không có một cấu trúc xã hội để cõng được hình thức đa nguyên đa đảng của phương tây, mà về mặt văn hóa, dân UK cũng bị chia rẽ nghiêm trọng với các nhóm người nói tiếng Nga ở miền Đông (đến tận Kiev, Khackov, chứ không phải chỉ thu hẹp trong mẩu đất ở donnesk), và nhóm người nói tiếng UK ở phía Tây. Thực ra về mặt ngôn ngữ chúng không khác nhau. Chủ yếu là khác biệt văn hóa do lịch sử để lại. Về mặt văn hóa không có gì giống nhau giữa những người ở vùng zacatpat, nằm sát biên giới Slovakia, Hung, và những người ở miền Đông.
Sự chia rẽ này cũng tồn tại trong tôn giáo. Người UK ở cực tây theo đạo chính thống nhưng lại bị quản lý bởi giáo hoàng La mã ở Roma, ngược lại ở miền Đông, cũng là chính thống giáo những lại do nhà thờ mạc tư khoa quản lý. Hiện nay nhóm này đã thuộc vào thánh đường ở Istambul (Thổ) mà không phụ thuộc vào Nga nữa.
Tôn giáo ở UK, cũng giống như ở phương Tây, hay như đạo thiên chúa ở Vn vào thời điểm Pháp xâm lược, dưới danh nghĩa tôn giáo, niềm tin chính là đấu đá xâm thực chính trị.
Một điều ở UK đặc biệt nữa, đó là sự tham dự ồ ạt của các tổ chức NGO (tổ chức phi chính phủ phương Tây), chính chúng đã cấu tạo nên một phần « xã hội dân sự » ở nước này, nhưng không phải xã hội dân sự như ở các nước tư bản điển hình, nơi mà thể chế đa nguyên đa đảng hoạt động tốt, mà nó đã làm biến dạng dư luận nước này thành một dạng mại bản.
Một yếu tố nữa không kém phần quan trọng, đó là các tài phiệt ở UK phấn lớn đều có tài sản ở các ngân hàng phương Tây, đặc biệt là Áo, là một nước đã từng có quan hệ truyền thống với Đông Âu. Một số khác nhỏ hơn nhiều, thì có sự liên quan với nước Nga.
Như vậy với một xã hội có văn hóa lịch sử kinh tế như vậy, cái UK thiếu là sự nhất thống. Điều mà chế độ đa nguyên đa đảng không mang lại được. Chế độ này đã làm UK trở thành dạng « loạn mười hai sứ quân » như thời nhà Đinh ở VN.
Điều này đã khiến các quy luật áp dụng theo lý do của Tây Âu không hoạt động được. Lấy một ví dụ hiện tại tổng thống Zelensky đang tìm cách hạ bệ người đứng đầu hệ thống luật pháp, tức là người đứng đầu tòa án hiến pháp mà không được, trong khi tòa án này là cái ổ tham nhũng điển hình, tham nhũng bằng luật đường hoàng, bằng xử « đểu ». Ở đây tam quyền phân lập đã tạo ra cơ hội cho tham nhũng mà không phải ngược lại. Và tham nhũng lại bắt đầu chính nơi làm luật, quản lý luật, ..
Tương tự như vây, người ta cũng nói là Zelensky lên được là nhờ có một tài phiệt cùng gốc Do thái với ông ta (ông này từng là thủ tướng) chống lưng. Tại sao lại thế, bởi vì khi một nhà nước không còn các cơ sở kinh tế của nó, thì nhà nước hoàn toàn nằm trong tay những kẻ nào chi trả. Trong trường hợp không còn cơ sở kinh tế nhà nước làm cột trụ, thì phải có một nhà nước thâm sâu mạnh, để bắt các tư bản tư nhân tuân phục, nộp thuế. Điều này UK cũng không có.
Trong chủ để thời sự, tôi có bình luận là UK nên chiến đấu để chiếm lại Donnesk,vì trên cơ sở đó mà củng cố nhà nước thâm sâu, thì mới ngăn cản tài phiệt hoành hành được. Nhưng nhìn tình hình hiện tại thì điều này có vể không xẩy ra được.
Phó Thường Nhân
Với ví dụ trên về UK, người ta cso thể thấy tác hại của hệ thống đa nguyên đa đảng với một nước ngoài văn hóa phương Tây như thế nào. Ở đây tồn tại ba sự lệch pha mà người ta có thể tìm thấy cả ở những nước khác khi áp dụng hệ thống này. Khiên nước nào áp dụng nó cũng thân tàn ma dại không ra cái gì :

1- Sự lệch pha giữa cấu trúc giai cấp của xã hội bản địa với mô hình đa nguyên đa đảng. Để mô hình đa nguyên đa đảng có thể hoạt đông, xã hội bản địa phải có một giai cấp tư sản dân tộc mạnh, có nhận thức về giai cấp mình, đồng thời có nhận thức cộng đồng, dân tộc. Điều này ngoài phương Tây và Mỹ không nơi nào có, ngay cả các nước có cơ cấu gần nhất như Nhật, Hàn, Đài cũng không có. Vì thế tùy từng nơi, mà chúng có cách sinh hoạt sai lệch khác nhau.
2- Sự lệch pha giữa truyền thống văn hóa, lịch sử, tín ngưỡng. Mỗi một dân tộc thông qua truyền thống và cội nguồn văn hóa sẽ có các tâm lý ứng sử khác nhau. Tâm lý ứng sử này trong thực tế nó phải thể hiện qua luật. Khi áp dụng thể chế đa nguyên đa đảng, mặc nhiên nó mang trong mình nó quan niệm ứng sử của phương Tây, vì thế luật nó không gắn lienf với xã hội mà .. bay trên trời.
Bản thân các nước tư bản phương Tây, mặc dù cùng cội nguồn văn hóa, sự khác biệt của họ với nhau đã dẫn tới hệ thống Mỹ không giông Đức, không giống Pháp, không giông Anh..
3- Ảnh hưởng văn hóa ngoại lai. Ở điều 1 và điều 2, tôi mới chỉ đánh giá từ khía cạnh kinh tế, tức là tác động của kinh tế tạo ra sự phân biệt xã hội, đây là nội dung của điều 1. Điều 2 là nói tới khía cạnh « kiến trúc thượng tầng », vì một xã hội tồn tại không chỉ có kinh tế, mà có những giá trị văn hóa khác cấu trúc nên cách ứng sử, tư duy ứng sử. Khi những tư duy này được « khách quan hóa » (objectivation), thì nó sẽ là ứng dụng luật.
Hiện nay các nước đang phát triển chịu sức ép rất lớn của tuyền truyền văn hóa phương Tây, sức ép này rất đa dạng. Nó có thể thông qua sách báo, media, đào tạo, hoặc các tổ chức mà phương Tây lập ra. Tác động tuyên truyền này tự nhiên tạo ra những ảnh hưởng văn hóa ngoại lai, hoàn toàn tách rời với văn hóa bản địa. Với các phương tiên thông tin ngày nay như Facebook, twitter, .. thì khả năng sống ảo càng cao, riết tới sống ảo và sống thật chung nhau. Từ cơ chế này, mà nó tạo ra một xã hội dân sự rởm, một xã hội dân sự mại bản. Nói cách khác, nó thay thế vào truyền thống văn hóa có sẵn của nước sở tại.
Và hiển nhiên cái xã hội dân sự rởm này không thể sử dụng để xây dựng một cộng đồng dân tộc.

Lấy một ví dụ lệch pha này. Theo hệ thống đa nguyên đa đảng, điều đầu tiên của nó là tam quyền phân lập. Bao gồm quyền bao gồm tòa an, quốc hội và chính phủ. Xuất phát điểm của quan niệm này là từ đấu tranh giai cấp ở phương Tây mà ra. Nguyên tắc này được cách mạng tư sản Anh thực hiện trước, nhưng nó làm theo kiểu kinh nghiệm chủ nghĩa, phải đợi tới Vôn Te (Voltaire) một nhà triết học ánh sáng Pháp thì nó mới có cái đế lý thuyết. Sở dĩ nó chia làm ba như thế để cân bằng lực lượng giữa giai cấp tư sản đừng lên, Quý tộc và Vua. Trong đó Vua nắm chính quyền, nhưng quốc hội lại do Quý tộc và Tư sản nắm. Hiển nhiên ở những đất nước ngoài Tây âu, khi chẳng có quý tộc cũng chẳng có giai cấp tư sản, thì cấu trúc này có ý nghĩa gì.
Cách đây mấy năm, khi ở VN có sửa đổi hiến pháp, lề trái cũng rồ lên, đòi sáng kiến đưa tòa án hiến pháp vào VN. Họ không hiểu rằng tòa án hiến pháp là cách thức giai cấp tư sản hạn chế quyền bầu cử, bởi vì những nhân vật ở trong tòa án hiến pháp này không được bầu, không thể bị cách chức, nhưng lại có quyền phủ quyết kết quả bầu cử , nếu chúng không có lợi cho giai cấp tư sản. Điều này có tác dụng bù vào phổ thông đầu phiếu. Là cái dây bảo hiểm để phổ thông đầu phiếu không vượt khỏi giới hạn.
Như tôi đã nói ở trên về UK, hiện nay người đứng đầu tòa án hiến pháp này ở UK là đầu nậu của tham nhũng. Như vậy nó hoạt động hoàn toàn lệch với vai trò của nó khi ra đời. Điều này giải thích được do cấu trúc xã hội UK không phù hợp với cơ chế này.
Cũng ở UK, hệ thống này đã khoét sâu thêm mâu thuẫn không thể xóa mờ của xã hội, như vậy nó có tác dụng làm tan rã, băng hoại xã hội hơn là củng cố. Ở các nước phương Tây, đa đảng của nó chủ yếu là sự khác biệt của hai bộ phận giai cấp tư sản. Sự khác biệt này tạo ra vì có hai xu hướng. Một xu hướng « sống chế mặc bay » của các chủ tư sản cứng, mà người ta đặt cái tên mỹ miều là chủ nghĩa tự do (libéralisme), trong khi nó không có gì là tự do cả, mà thực chất là sống chết mặc bay. Sống chết mặc bay dịch đúng được nghĩa của nó, trong khi dịch kiểu chủ nghĩa tự do thì cũng không khác gì dịch nước Mỹ là xứ Cờ Hoa. Một xu hướng có tính chất xã hội hơn, mà người là xã hội dân chủ. Sự khác nhau của hai bên không là bao, và nó giúp cho giai cấp tư sản đổi nhiệm kỳ mà không có vấn đề.
Nhưng ở các nước đang phát triển, giai cấp tư bản đã không có, thì lấy đâu ra sự phân liệt này. Kết quả người ta phân liệt theo sắc tộc, vùng miền, tôn giáo.. Nhưng vấn để không thể giải quyết bằng đa đảng.
Khi phương Tây đem cái hình thức nhà nước này ra để áp đặt, và thực ra là một dạng xâm lược, nó đã hướng nhận thức của người ta đi vào dạng nhị nguyên (binaire/binary), có nghĩa là nếu không đồng ý với hệ thống nhà nước kiểu này thì là sai. Nhưng trong khoa học xã hội, không có kiểu phân biệt như thế này. Khi tôi không đồng ý với hệ thống này, là lúc nó được áp dụng một cách vô lý, chứ bản thân nó không xấu.
Nó sai vì đã được sử dụng như một hình thức can thiệp xâm lược, nó sai vì áp đặt bất chấp điều kiện hoàn cảnh. Nên nhớ rằng hai điều trên thường đi với nhau và xuy ra lẫn nhau. Khi đã xâm lược là áp đặt, khi đã áp đặt là xâm lược.

langtubachkhoa
Bác Phó, tam quyền phân lập ở Pháp là Montesquieu đưa ra, không phải Voltaire, còn nội dung thì đúng như bác nói
Phó Thường Nhân
Bây giờ ta hãy đi sâu vào giải quyết bản chất của luât pháp là gì ? và bản chất của ứng dụng luật pháp là gì ?
Bản chất của luật pháp là quy luật được đưa ra để một giai cấp thống trị một xã hội. Đây là định nghĩa của chủ nghĩa Mác, và nó hoàn toàn đúng. Khi người ta nói « một giai cấp thống trị » có nghĩa là nói tới sở hữu tư liệu sản xuất và quan hệ sản xuất. Chính vì thế thời phong kiến có luật thời phong kiến, thời tư bản có luật thời tư bản. Vì ở đây sở hữu và quan hệ sản xuất là kiểu tư bản hay phong kiến
Nhưng ở đây nó đẻ ra một vấn đề là, như ở Vn, TQ và các nước đang phát triển khác trên thế giới thì giai cấp nào thống trị, và luật pháp ở đây có cơ sở từ đâu khi ở những nước này không có sự phát triển của giai cấp tư sản như ở Tây Âu và Mỹ.
Ở đây tôi trở lại một luận điểm mà tôi đã trình bầy trong nhiều chủ đề, đó là đánh giá cách mạng tháng mười thế nào, và từ đó xuy ra là Liên Xô xụp đổ, điều đó có ý nghĩa gì. Như tôi đã nói, cách mạng tháng mười và công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội ở Liên Xô là một hình thức công nghiệp hóa, bởi vì giai cấp tư sản Nga không đủ mạnh để làm điều này, và giới quý tộc Nga thì quá man rợ, lạc hậu để tiến hành cải cách như Nhật Bản làm thời Minh Trị.
Cách công nghiệp hóa của Liên Xô hợp lý hơn trong thời đại đế quốc chủ nghĩa. Trong thời đại này, nếu không công nghiệp hóa được thì sẽ rơi vào cảnh thuộc địa nô lệ (trường hợp của VN,TQ), và cũng không thể công nghiệp hóa kiểu Tây Âu và Mỹ, vì thế giới đã tiến bộ hơn, và cũng không thể áp dụng hình thức bóc lột mà giai cấp tư sản Âu-Mỹ áp dụng ở nước họ vào thời điểm họ công nghiệp hóa, cũng như trái đất không còn thuộc địa thừa để người ta có thể làm được điều này nữa.
Khi đã công nghiệp hóa thì bản chất của luật pháp sẽ là của cả một cộng đồng, cộng đồng ở đây là dân tộc. Ỏ VN cũng như ở các nước đang phát triển, không có một giai cấp nào đủ trấn cửa, do mâu thuẫn giai cấp nhỏ hơn rất nhiều mâu thuẫn dân tộc trước sức ép của tư bản quốc tế.
Do chỉ là một cộng đồng, mâu thuẫn giai cấp nhỏ, thì tất nhiên hình thức 1 đảng là hợp lý nhất. Cả nước như một con thuyền để đi ra biển cả, vì thế cần có một ê kíp mạnh để chèo lái. Điều này ngược với một nước tư bản phát triển, chúng có nhiều ê kíp (do sự phân liệt của giai cấp tư sản tạo ra), những ê kíp này, ê kíp nào cũng đủ sức lái thuyền và chúng thỏa hiệp được với nhau do đại đồng tiểu dị.
Như vậy luật pháp ở VN có gốc ở cộng đồng dân tộc VN chứ nó không nằm trong tay giai cấp tư sản VN. Vì giai cấp tư sản VN không tồn tại.
Nhưng không chỉ có thế. Do tác động ở bên ngoài rất lớn, nên trong luật pháp của VN cũng có những yếu tố nhập khẩu vào. Do quá trình toàn cầu hóa, do các hiệp ước hiệp định nhà nước tạo ra, vì nhà nước là lực lượng bảo đảm thi hành những luật lệ ấy. Một phần rất lớn của luật Vn hiện tại, tôi ước tính tới 60% là nhập khẩu. Điều này sẽ tạo ra nhiều điều tức cười mà tôi sẽ nói sau trong phần ứng dụng luật. Và cũng phải nói thêm là VN không phải là nước duy nhất có vấn đề này, mà ngay cả Nhật cũng có.
Một cách định nghĩa thứ 2 bản chất của luật pháp là coi chúng như quy luật chung của một cộng đồng, mà ai cũng phải tuân theo. Đây là cách hiểu và định nghĩa của các học giả tư sản, vì cách định nghĩa này mặc nhiên coi luật hiện tại của chủ nghĩa tư bản là đỉnh cao, là một cái gì đó bất biến. Đồng thời nó cũng lờ đi việc đấu tranh giai cấp, vì luật được áp dụng chung. Cách định nghĩa này là cơ sở để cho nhà nước Pháp quyền hoạt động.
Như vậy ưu điểm của nó là coi luật pháp là tối thượng, ai cũng phải tuân theo.
Với tôi hai cách định nghĩa trên đều không sai. Mà chúng bổ xung cho nhau. Cách hiểu của chủ nghĩa Mác là bản chất, còn cách hiểu của các học giả tư sản có lợi thế về áp dụng, mị dân. Ở VN ai cũng hiểu khái niệm « ăn cơ chế », Nếu là luật pháp tư sản, thì lợi thế của giai cấp tư sản đã nằm ngay trong luật, được luật bảo vệ. Vì thế Ai cũng phải tuân theo không phải là điều gì khủng khiếp, và nó cũng không bảo đảm điều đó là công bằng. Chính vì thế khi phân tích luật pháp của các nước tư bản, người ta hay chia nó ra theo hướng hình thức (formal) hay thực chất. Vì thế cách nhìn nhận của chủ nghĩa Mác thực ra rất sâu sắc.
Trong hình thức một nền kinh tế thị trường, khi nhà nước không còn quản lý kiểu hành chính, khi mà mỗi một cá nhân, pháp nhân phải tự thân vận động, rồi gặp nhau , hợp tác với nhau, cạnh tranh với nhau thông qua thị trường, thì việc coi luật pháp là tối thượng, là luật chơi chung là điều bắt buộc. Cũng chính vì thế mà tôi mới nói hai cách hiểu luật bổ xung cho nhau. Với cách hiểu của chủ nghĩa Mác, sẽ giúp người ta ra luật có lợi cho cộng đồng, có lợi ích thực chất, nó là điều kiện ĐỦ. Với cách hiểu của các học giả tư sản, nó là điều kiện CẦN. Giống như khái niệm CẦN và ĐỦ trong toán học. Trong đó CẦN là điều kiện minimal, ĐỦ là điều kiện phải hướng tới maximal.
Nhưng có luật không ăn thua. Vấn đề là chúng được áp dụng như thế nào, người ta dùng nó trong thực tế thế nào. Vì thế một vấn đề cực kỳ quan trọng, thậm chí còn quan trọng hơn cả luật, đó là tinh thần ứng dụng luật pháp đến từ đâu.
(còn tiếp).
Phó Thường Nhân
@ltbk, Tôi không nghĩ là tôi nhớ nhầm, nhưng cứ bảo lưu điều ltbk nói ở trên, để khi nào lôi sách ra tìm hiểu. (lạc đề một chút trước khi quay trở lại)
Cách mạng tư sản Pháp, một trong những cuộc các mạng tư sản điển hình và có tính lý thuyết nhất cao nhất so với cách mạng tư sản Hà Lan, cách mạng tư sản Anh, chiến tranh giải phóng dân tộc Mỹ (mà thực ra nó cũng là một cuộc cách mạng tư sản). Có 3 người cha tinh thần của cách mạng Pháp đó là ba triết gia : Rousseau, Montesquieu, Voltaire. Họ sống trước thời kỳ cách mạng, và không ai tham gia trực tiếp, nhưng ý thức hệ tư tưởng của họ soi sáng cách mạng Pháp.
Mỗi người đại diện cho một tầng lớp tạo ra ý tưởng cho cuộc cách mạng này. Vôn te (Voltaire) là đại diện cho quý tộc. Montesquieu (đọc là Mông tét xơ ki ơ, còn các cụ nhà Nho thì đọc là Mạnh đức thư kiu, do phiên âm theo chữ Nho) là đại diện cho tư sản, còn Rousseau (đọc là rút xô) thì đại diện cho tiểu tư sản. Ngoài Montesquieu sống ở Pháp, ông này làm thẩm phán ở Bóc đô (Bordeau), cả hai triết gia còn lại đều đã từng sống, lưu vong ở nước ngoài đó là Rousseau ở Thụy sĩ và Voltaire ở Anh.
Do Voltaire ở Anh, và ở đây ông đã tận mắt chứng kiến chế độ tư sản Anh hoạt động thế nào (vì cách mạng tư sản Anh đã xẩy ra vào thế kỷ XVII trước đó), thấy sự kết hợp giữa quý tộc và tư sản Anh, nên ông ta mới đề ra tam quyền phân lập, mỗi quyền ứng với một giai cấp, quý tộc là quốc hội, tư sản là chính phủ, người trên đỉnh, ngồi chơi xơi nước đại diện là Vua. Trong thực tế thì quý tộc là thượng viện, tư sản là hạ viện, chính phủ là tư sản, Vua là đại diện tối cao nhưng không nắm quyền. Sau này, các nước theo thể chế tư sản cũng làm như vậy, nhưng thượng viện lại trở thành bầu cử theo địa phương (senat), và quả thực điều này đúng với bản chất của quý tộc là lãnh chúa của các địa phương. Hạ viện là nơi làm ra luật, thượng viện là giám sát luật, (nếu thượng viện phủ quyết thì luật hạ viện không qua được) còn vai trò vua thì có thể là tổng thống, nhưng cũng có thể là dạng tòa án hiến pháp (suprême court) như ở Mỹ, vì ở Mỹ vai trò tổng thống thật ra là vai trò thủ tướng ở những nước khác.
Ngay cả Liên Xô, dù là theo một thể chế XHCN, cấu trúc chính trị ở Liên Xô cũng vẫn có cái đuôi hai viện này : vì thế quốc hội Liên Xô cũng có hai viện, và một viện là đại diện của các điạ phương tương đương với thượng viện của thể chế tư sản. Điều đáng buồn cười là trong cơ chế kiểu Liên Xô, thì cái viện này không có ý nghĩa gì, vì vai trò của nó trong thể chế XHCN đã được đảm nhiệm bằng trung ương đảng, vì thế cả VN và TQ cũng như các nước như Lào, Cuba, Triều Tiên..không có cái viện này. Cũng như vai trò chủ tịch nước không quan trọng bằng Tổng bí thư. VN là một trường hợp đặc biệt mà hai chức danh này tách biệt nhau.
Còn tư tưởng của Montesquieu là tư tưởng pháp quyền, và tôi sẽ nói tới điều này trong phần tiếp theo khi tìm hiểu cái đế của tinh thần áp dụng luật là ở đâu.
Tư tưởng của Rousseau là đặc biệt nhất, và có thể nói là có ảnh hưởng lớn tới cách mạng Pháp. Tại sao ? vì là đại diện của tầng lớp tiểu tư sản có tính chất cấp tiến nhất.
Khác với cách mạng tư sản Anh, là cuộc cách mạng mà quý tộc liên kết với tư sản để làm chuyển đổi chế độ phong kiến, cách thức sản xuất kiểu phong kiến thành tư bản, từ đó dẫn tới hạn chế quyền vua, tạo nên nhà nước quân chủ lập hiến. Ở Pháp, giai cấp tư sản Pháp đã liên minh với tầng lớp người nghèo, tiểu tư sản để đánh bại quý tộc và vua. Vì thế chế độ ở Pháp là cộng hòa. Có lý do như vây nên cách mạng pháp có những khẩu hiệu mà cách mạng Anh, Mỹ, Hà lan hoàn toàn không có đó là tự do, bình đẳng, bác ái. Nhưng khi cách mạng thành công, thì giai cấp tư sản Pháp đã « phản bội » lại những giá trị này, chính vì thế khi cách mạng Pháp thành công, chế độ tư sản được xác lập, thì ở Pháp những người nghèo khổ lại muốn tiếp tục cuộc cách mạng này, có thể coi là giai đoạn 2, đó là cách mạng xã hội (revolution socialiste), chính vì thế tư tưởng XHCN xuất phát đầu tiên ở Pháp.
Cách đây mấy năm, vào thời mà Sarkozy làm tổng thống, tôi có đi xem một vở nhạc kịch tên là 1789, tức là năm cách mạng tư sản Pháp, cảnh cuối của buổi diễn là hình ảnh người dân Paris nổi dậy, và người ta đọc tuyên ngôn nhân quyền, một sản phẩm của cách mạng tư sản Pháp.
Khi nghe những lời tuyên bố này, tôi cảm thấy gai hết cả người vì cảm động, nhưng cùng một lúc so nó với những gì mà chính phủ Sarkozy tuyên bố, thái độ của xã hội Pháp với người nhập cư đương thời, .. thấy nó quá trái ngược, tôi chỉ còn biết chặc lưỡi mà nghĩ rằng. « Trời nếu những điều này là sự thật, trở thành hiện thực, thì trên thế giới cần gì phải làm cách mạng tháng mười, phải kháng chiến chống Pháp, Mỹ, ..và làm sao xã hội Pháp đương đại lại thế này ».
Những tư duy bình đẳng, bác ái, tự do chính là của Rousseau. Vì thế ông có thể được coi là « triết gia của cách mạng Pháp » trong giai đoạn cao trào, tức là tới lúc Robespierre là người đứng đầu phái Giắc cô banh (Jacobin) bị giết (cỡ năm 1792, 1793).
Hiện tại, các triết gia Anh-Mỹ lại quay ra buộc tội Rousseau coi ông là người đẻ ra chế độ độc tài, vì ông nói tới khái niệm « lợi ich chung », « lợi ích toàn xã hội » (intérêt général), điều này cũng dễ hiểu vì triết học Anh Mỹ dựa trên chủ nghĩa cá nhân tổng thể (individualisme intégral), phủ nhận quyền lợi chung.
Vì cách mạng tư sản Pháp có cái vế bình dân, dân nghèo lớn nhất trong các cuộc cách mạng tư sản ở Tây Âu và Mỹ, đồng thời cách mạng Pháp bằng các bộ luật về dân sự, thương mại, hành chính.. đã hoàn thiện về lý thuyết cho một cuộc cách mạng tư sản điển hình, cho nên cách mạng Pháp rất được các nhà Mác xít quan tâm, coi nó là giai đoạn đầu của một cuộc cách mạng lớn hơn. Đó là cách mạng xã hội chủ nghĩa. Và cũng chính vì thế ở Liên Xô, ở Vn, ở TQ, .. các cuộc cách mạng ở đây đều được cấu trúc quan niệm theo hai thời kỳ : dân tộc dân chủ và CNXH. Nhưng ở đây, cách mạng dân tộc dân chủ lại không phải do giai cấp tư sản lãnh đạo, vì nó không tồn tại hoặc mại bản (TQ, VN), hoặc có tồn tại thì quá yếu ốm (Nga Sa hoàng)
langtubachkhoa
Bác Phó, theo link này

https://hoidap.thuvienphapluat.vn/hoi-dap/1...-lap-la-gi.html
Thuyết tam quyền phân lập là học thuyết về tổ chức bộ máy nhà nước tư sản do Lôckơ, Môngtexkiơ, Ruxô sáng lập dựa trên quan điểm cho rằng phải hạn chế sự độc quyền bằng việc không tập trung quá nhiều quyền lực nhà nước vào tay một cơ quan nhất định, bằng sự kiểm soát và khống chế lẫn nhau giữa các hệ thống cơ quan nhà nước khác nhau.

Quyền lập pháp, hành pháp, tư pháp được giao cho các cơ quan khác nhau trongnhà nước: quyền lập pháp giao cho nghị viện, quyền hành pháp giao cho chính phủ, quyền tư pháp giao cho tòa án.

Tam quyền phân lập là nhằm dùng quyền lực kiểm soát và kiềm chế quyền lực. Theo mô hình phân quyền của Môngtexkiơ không chấp nhận việc một cơ quan nhà nước đứng trên hoặc nắm trọn vẹn cả 3 quyền.

Mặt tích cực của học thuyết tam quyền phân lập thể hiện ở chỗ nó ngăn ngừa được sự chuyên chế rất dễ phát sinh ở xã hội mà sự thống trị thuộc về thiểu số thành viên trong xã hội. Tư tưởng tam quyền phân lập đã trở thành một trong những nội dung cơ bản của học thuyết nhà nước pháp quyền tư sản.

-------------------

Tôi bổ sung thêm chút:

Nam tước de Montesquieu trong tác phẩm nghiên cứu về lý thuyết nhà nước Tinh thần pháp luật (1748) của mình, đã đưa ra luận điểm rằng để đảm bảo sự tự do thì 3 quyền của nhà nước là lập pháp, hành pháp, và tư pháp được phân chia cho 3 cơ quan độc lập nắm giữ, nghĩa là 3 cơ quan này phải hoạt động độc lập.

Còn cái mà Voltaire nói, có lẽ là luận điểm sơ khởi ban đầu, phân chia quyền lực giữa tư bản và quý tộc. Cái đó cũng có thể coi là ban sơ của tam quyền phân lập cũng được, dù không phải ai cũng đồng ý với điều đó.
Quan điểm của Voltaire về nhà nước, đó là ông cho rằng cần phân tách nhà thờ ra khỏi nhà nước thì đúng hơn
Phó Thường Nhân
@ltbk,
Cám ơn ltbk, đúng rồi. Ở đây tôi không nói tới « giải pháp kỹ thuât » của tam quyền phân lập, , tức là ý kiến tách biệt hành pháp, lập pháp, tư pháp, mà nói gốc gác của nó, tại sao các triết gia phương Tây đề xuất nó. Xuất phát điểm của nó là « đấu tranh giai cấp » ở giai đoạn cuối phong kiến ở Tây Âu, khi hình thái sản xuất tư bản chủ nghĩa xuất hiện trong lòng quan hệ chính trị của xã hội phong kiến. Nó là sự thỏa hiệp lẫn đấu tranh giữa nhà thờ, quý tộc phong kiến, và giai cấp tư sản đang lên.
Hình thức tam quyền phân lập này, như tôi đã nói, được hình thành ở Anh trước, nhưng dưới hình thức kinh nghiệm, chứ không nâng cấp thành lý thuyết. Người đầu tiên nói tới nó, coi như một hình thức thỏa hiệp giữa quy tộc và tư sản là Vôn Te, vì Vôn te lưu vong ở Anh, và nhìn thấy chế độ ở Anh như thế, ông ta đã đề xuất cho Pháp, như một giải pháp tương lai.
Cuộc đấu tranh giữa giai cấp quý tộc và tư sản Anh đã làm nẩy sinh ra quốc hội hai viện, với Thượng viện do Quý tộc nắm, và Hạ viện do tư sản nắm. Thượng viện có quyền phủ quyết hạ viện. Còn về mặt tư pháp, thì luật nhà thờ vốn đồng tồn tại với luật nhà nước thời phong kiến bị xóa bỏ. Chính vì thế cách mạng tư sản Anh mang hình thức cải cách tôn giáo, cách mạng tôn giáo.
Mặc dù Vôn Te đề xuất như thế, nhưng ở Pháp, cách mạng Pháp lại không đi theo nguyên tắc này được (tức là nghị viện có 2 viện, và mỗi một giai cấp nắm một viện như ở Anh), bởi vì ở Pháp chế độ phong kiến tập quyền đã gắn chặt quý tộc với vương quyền, khiên giai cấp tư sản Pháp phải liên minh với tầng lớp người nghèo, bình dân để lật đổ cả quý tộc lẫn vương quyền. Vì thế cách mạng tư sản Pháp có mùi vị một cuộc cách mạng xã hội, vì thế nó mới có những khẩu hiệu xu hướng này như : tự do, bình đẳng, bác ái. Điều mà ở cách mạng Anh không có.
Sau cách mạng tư sản Pháp, thì giai cấp tư sản Pháp cũng không tiến hành cách mạng xã hội, theo những khẩu hiệu trên. Vì thế trong thời gian 100 năm, sau cách mạng tư sản Pháp, ở Pháp cứ khoảng mấy chục năm lại có một cuộc cách mạng : 1836, 1848, 1870. Chỉ vào cuối thế kỷ XĨ, khi Pháp trở thành một đế quốc thuộc địa, nguồn lợi do bóc lột thuộc địa đưa lại, được « lại quả » một phần trong các chính sách xã hội ở Mẫu Quốc, thì ở Pháp mới không còn có cách mạng nữa. Các cuộc cách mạng về sau này, có thể coi như giai đoạn 2 của cách mạng Pháp, cách mạng xã hội (revolution socialiste)
Cũng chính vì thế, tư tưởng xây dựng một xã hội xã hội chủ nghĩa có ở Pháp trước. Và người ta mới nói chủ nghĩa Mác là kết tinh của 3 thành quả : kinh tế học Anh, Triết học Đức, và tư tưởng chủ nghĩa xã hội Pháp. Các Mác, cũng như Ăng ghen luôn phân tích tình hình chính trị Pháp, như một dạng điển hình, là bài học để làm cách mạng xã hội chủ nghĩa cũng như ở Pháp là nơi có hình thái nhà nước công nhân đầu tiên (công xã Paris)
Ở trên vì tôi muốn nói về vấn đề luật ở đâu mà ra, cái đế của nó (fondation) là ở đâu, qua phần tôi viết trên , cũng như trả lời ltbk (do nó không bị lạc đề lắm) đã chỉ ra rằng đế của luật pháp là tương quan lực lượng giai cấp, là hệ quả của đấu tranh giai cấp trong một xã hội. Ví dụ thực tế, tam quyền phân lập là hệ quả của cuộc đấu tranh giai cấp giữa tư sản và quý tộc.
Cũng phải bổ xung thêm. Hiện nay theo quan niêm của các sử gia tư sản Pháp ở Pháp đánh giá cách mạng Pháp, ví dụ như nhà sử học François Furet, thì nó lại có cái thuyết là cách mạng Pháp thực ra không kết thúc vào năm 1815 (tức là khi Na pô lê ôn thua trận, quý tộc lưu vong Pháp trở về Pháp) mà kéo dài .. 100 năm. Có nghĩa là tất cả các cuộc cách mạng tôi nói ở trên : 1836,1848, 1870, .. chỉ là những pha (phase) khác nhau của cuộc cách mạng Pháp 1789. Theo ông ta, thì giai cấp quý tộc Pháp vẫn tiếp tục tranh giành quyền lợi chính trị với giai cấp tư sản Pháp, cho tới 100 năm sau, khi chế độ cộng hòa được khẳng định thì điều này mới kết thúc. Nếu chấp nhận như vậy, thì có thể nói cơ chế nhà nước Pháp giai đoạn này cũng là hệ quả của đấu tranh giai cấp giữa quý tộc và tư sản mà ra, ngay cả khi giai cấp tư sản đã nắm toàn quyền kinh tế sau năm 1789.
Hiện nay hình thái nhà nước tam quyền phân lập trở thành phổ cập, ngay cả nhà nước VN hiện tại cũng vậy, khiến người ta hay lầm lẫn là phải có sinh hoạt chính trị như ở phương Tây mới là tam quyền phân lập là sai (điều này cả lề trái, lẫn lề phải đều nhầm). Còn sự khác nhau của sinh hoạt tam quyền phân lập (tức là tương tác, quy thức tương tác của ba thành phần tư pháp, lập pháp, hành pháp này ra sao), thì nó phụ thuộc vào cấu trúc xã hội của từng nơi.
Ví dụ, cái đế của tam quyền phân lập ở phương Tây là giai cấp tư sản ở những nước này. Có thể coi chúng là những « đảng ngầm », còn các đảng phái của nó, thực ra chỉ là lợi ích nhóm.
Ở VN, TQ, cái đế của nhà nước tam quyền phân lập này là Đảng cộng sản. Ở I ran, cái đế của nhà nước tam quyền phân lập ở đây là tăng lữ hồi giáo.
Thế còn ở những nước khác, thì tùy cấu trúc xã hội của họ ra sao mà nhà nước tam quyền phân lập hoạt động trục trặc hay không. Ví dụ ở châu Mỹ la tinh tư sản mại bản và phong kiến là cái đế. Ở ĐNA cũng gần tương tự như vậy. Ở những nơi này, do cấu trúc xã hội ọp ẹp khác nhau ra sau, mà cái khung cứng của nhà nước là quân đội hiện hình ra nhiều hay ít. Có nơi là hệ quả của sự đóng quân của Mỹ : Hàn quốc. Có nơi là cái vỏ, là lớp véc ni nằm ở bên trên như Nhật.
Bây giờ tôi sẽ nói tiếp về cái đế của ứng dụng luật ở đâu.
Phó Thường Nhân
Nếu cái đế của sự hình thành pháp luật là đấu tranh giai cấp tương tác nhau trong một xã hội, mà luật pháp là sự thể hiện của nó trong một thời điểm (thời điểm ở đây là một thời gian dài, chừng nào quan hệ sản xuất cũng như lực lượng sản xuất không thay đổi, chứ không phải là một khoảng khắc), thì việc chấp nhận luật ra sao, sự dụng chúng thế nào lại phụ thuộc vào nhận thức của từng cá nhân và xã hội ấy trong thời điểm đó.
Phần này cũng có thể nói là sự phát triển hơn của quan niệm « luật là quy luật chơi chung, ai cũng phải chấp hành ». Từ đó nó dẫn tới việc tìm hiểu, nguồn gốc khiến mỗi cá thể, mỗi pháp nhân chấp nhận, thi hành luật đến từ đâu.
Ở đây ta có thể trở lại với Montesquieu (Mạnh đức thư cưu). Triết gia này ngoài cuốn « Tinh thần pháp luật » (Esprit des lois), còn có một tác phẩm nữa nổi tiếng không kém, cũng được coi là một dạng kinh điển của triết học tư sản, đó là cuốn « những bức thư Ba tư » (les lettres persanes).
Quyển này viết dưới dạng các bức thư của một người Ba tư ( I ran ngày nay) viết về nước Pháp lúc đó, tất nhiên là người Ba tư Fake, từ đó đả kích vường triều Pháp. Tại sao Montesquieu lại chọn lựa kiểu viết này, đóng vai này (không chỉ có ông mà Vôn te cũng hay làm như vậy), bởi vì theo quan niệm phong kiến lúc bấy giờ, đạo Thiên chúa, thông qua vương quyền là cái đế của luật pháp. Có một câu mà người ta hay gán cho Dostoievsky, nhà văn Nga trong quyển Anh em nhà Ka ma dốp (les Frères de Kamazov) thể hiện chính xác tư duy này : nếu chúa không tồn tại, thì không còn phép tắc ( Si dieu n’existe pas, tout est permis). Nói cách khác, đạo Thiên chúa là cái gốc của pháp luật phong kiến ở Tây Âu. Nhưng ở những nước khác, không theo đạo thiên chúa, thì pháp luật, gốc của pháp luật đến từ đâu. Chính vì thế khi nhập vai người các nước này (ở đây là Hồi giáo), thì Montesquieu có thể chỉ ra rằng, pháp luật không phải từ chúa, theo quan niệm ở Tây Âu mà ra, và ông coi nó là từ khí hậu, địa lý, phong tục, ..(thông qua cảm nhận về nước Pháp của một người Ba tư fake)
Tương tự như vậy, Vôn Te, ở trong nhà mình cũng treo một bức ảnh của Khổng Tử, và mỗi ngày đi qua lại cúi chào một cái. Tại sao ? bởi vì ở TQ không tồn tại một ông chúa trời, nhưng tại sao TQ vẫn phát triển, vẫn có luật lệ.
Thời Montesquieu, Vôn te, Tây Âu chưa phat triển tới mức đi xâm lược thuộc địa, cho nên thái độ của họ với các nền văn hóa khác có sự tôn trọng hơn. Chinh vì so sánh như vậy, mà các triết gia ánh sáng đã chỉ ra rằng, điều tồn tại ở Tây Âu phong kiến không phải bất biến.
Tác phẩm của Montesquieu như vậy có nhiều điều thú vị, với tôi đó là cách tiếp cận tổng thể thông qua văn hóa. Và điều Montesquieu nói, với tôi nó vẫn đúng cho đến ngày nay. Nói cách khác sự áp dụng pháp luật thế nào ở từng nước, phụ thuộc vào các nhận thức văn hóa của người dân ở đó.
Phải nói thêm cho đầy đủ là, ngoài việc sử dụng các nền văn hóa khác, phần lớn các triết gia phương Tây trở về nguồn, tìm hiểu thời đại Hi lạp-La mã (trước thế kỷ thứ 3, tức là lúc đạo Thiên chúa trở thành quốc đạo của đế quốc La mã, thời Hoàng đế Constantin), chính vì thế mà các học giả tư sản ngày nay vẫn tiếp tục coi dân chủ có nguồn gốc từ Hi lạp, viện dẫn dân chủ từ chế độ nô lệ thời này. Nhưng đây chỉ là một sự tuyên truyền. Thời Hi lạp, chỉ có khoảng 10% dân số, tức là chủ nô mới sinh hoạt như vậy, tức là có quyền bầu cử, còn 90% dân là dạng nô lệ hay nông nô, lấy đâu ra dân chủ. Đến ngày nay, dân chủ phương Tây cũng chỉ là một chế độ quyền lực của giai cấp tư sản, thì lấy đâu ra vấn đề dân làm chủ ở đây.
Vậy ta có thể tìm một công thức để thể hiện tác đông của văn hóa như là cái đế của tinh thần pháp luật, ứng dụng pháp luật trong một xã hội không ?
Tất nhiên, và điều đó ta có thể làm với một triết gia khác, nổi tiếng không kém các triết gia ánh sáng Pháp, đó là Hê ghen (Hegel). Triết gia người Đức, người đã tìm ra phương pháp lô gics biện chứng, để từ đó Các Mác và Ăng ghen đổi cái đầu duy tâm của nó để trở thành duy vật biện chứng
(còn tiếp)
Phó Thường Nhân
Tiếp đây tôi sẽ đưa ra hai công thức nói về nhận thức cá nhân, và nhận thức toàn xã hội. Cái công thức này không phải là tôi nghĩ ra mà lấy của một học giả Pháp, khi ông ấy dùng công thức này( tạo ra công thức này) để nghiên cứu văn hóa Nhật bản. Tên ông ta là Jonathan Jay Morton. Nhưng công thức này là suy ra từ Hê Ghen (Hegel), còn nó Hê ghen ở chỗ nào, thì tôi sẽ trình bầy sau. Và điều này sẽ rất thú vị cho những ai tìm hiểu chủ nghĩa Mác, vì chủ nghĩa Mác cũng dùng biện chứng luận của Hê Ghen, do Hê ghen phát minh, nhưng gắn nó với « vật chất », từ đó thành duy vật biện chứng. Vật chất ở đây có thể hiểu là kinh tế, quan hệ kinh tế, hình thái kinh tế.
Nhận thức một con người cá nhân khi hành đông sẽ có công thức này :

Nhận thức cá nhân viết tắt là NI= giáo dục (x,y,z) + Ký ức(x,y,z) + Tín ngưỡng (x,y,z) + ý chí hành đông (x,y,z)

Đây là cách biểu diễn dưới dạng toán học, nhưng phải diễn giải nó như sau
Cái dấu cộng (+) tôi sử dụng ở đây là để thay nghĩa union (tích hợp)
Giáo dục ở đây bao gồm giáo dục nhà trường, những cũng có cả tự học.
Ký ức là những trải nghiệm cá nhân, là vốn sống
Tín ngưỡng bao gồm cả niềm tin
Ý chí hành động thì rõ rồi.
X ở đây là biểu tựơng của không gian. Trong khoa học xã hội thì không gian chính là môi trường sống, nơi mà giáo dục, ký ức, tín ngưỡng ý chí tồn tại.
Y ở đây là thời gian, Trong khoa học xã hội nó đồng nghĩa với lịch sử, với quá trình.
Z ở đây điều kiện khách quan.
Nếu diễn giả theo ngôn ngữ thông thường thì có thể nói nhận thức cá nhân khiến một con người hành động phụ thuộc vào giáo dục, vào trải nghiệm cuộc sống, vào niềm tin và vào ý chí hành động trong một môi trường và không gian thời gian nhất định với các yếu tố khách quan bên ngoài của môi trường , không gian, thời gian đó.

Nhận thức xã hội viết tắt là NX=truyền thống(x,y,z)+lịch sử (x,y,z)+tín ngưỡng(x,y,z)+Hệ thống chính trị(x,y,z)+Nguyên tắc chỉ đạo(x,y,z)+sự gắn kết(x,y,z)+Ý chí biểu hiện (x,y,z).

Những khái niệm Truyền Thông, Lịch sử, Tín ngưỡng, Hệ thống chính trị thì không cần phải nói thêm, vì nguyên từ ngữ của nó đã làm người ta hiểu. Ở đây các thông số x : môi trường, y lịch sử, còn là điều kiện khác quan tác đông bên ngoài, mà người ta có thể tạm coi như quan hệ quốc tế, tác động quốc tế ngoại cảnh vào một xã hội cộng đồng
Nguyên tác chỉ đạo ở đây là tôi dịch thoáng cụm từ principes trancendantaux, khái niệm này là một sự trìu tượng hóa vai trò của chúa Trời, một trong những khái niệm chủ đạo của triết học Hê ghen. Để sử dụng công thức này thì ta không cần, những nó sẽ giúp tôi nói về triết học Hê ghen dễ hơn ở phần sau, tức là phần mở rộng cho ai muốn tìm hiểu quan hệ giữa chủ nghĩa Mác và triết học này.
Sự gắn kết tôi dịch từ Cohesion. Trong khoa học xã hội, có thể coi nó là mức độ đa dạng của xã hội. Xã hội càng nhiều sắc tộc, tôn giáo, phân liệt giầu nghèo, .. thì yếu tố gắn kết này càng ít hơn.
Ý chí biểu hiện là tôi dịch cụm từ la volonté d’incarnation. Đây cũng là một khái niệm liên quan chặt chẽ tới triết học của Hê ghen, nó đi đôi với nguyên tắc chỉ đạo. (principes trancendantaux/la volonté d’incarnation). Ở đây ta có thể hiểu là luật pháp.
Phó Thường Nhân
Bây giờ ta hãy đi vào tìm hiểu để rút ra một vài kết luận ứng dụng từ hai cái công thức này.
Hiển nhiên, nếu nhận thức mỗi cá nhân con người (công thức NI) càng gần khớp với công thức nhận thức xã hội (công thức NX) thì xã hội đó càng vững mạnh. Nó càng gần khớp nếu các yếu tố tạo thành nó càng gần nhau. Nói một cách khác, nếu sự giáo dục, ký ức, tín ngưỡng của mỗi người càng gần với truyền thống, lịch sử, hệ thống chính trị, .. thì xã hội ấy càng vững chắc.
Nhưng hiện tại, không một xã hội nào là một xã hội kín, mà nó đều là xã hội mở, có quan hệ chặt chẽ với bên ngoài. Xã hội thị bị tác động bởi tình hình quốc tế, còn mỗi con người lại chịu tác động ngoại lai từ bên ngoài. Trong trường hợp ấy xã hội sẽ rối loạn. Ở đây tôi sử dụng luôn biến số z để biểu hiện điều này.
Ví dụ khác, nếu ý chí hành động của mỗi một người càng gần với ý chí biểu hiện bởi pháp luật, thì tính chất pháp quyền của xã hội sẽ tăng lên.
Cũng nên để ý các yếu tố này đều có tác động tương tác với nhau, trong cùng một nhận thức. Ví dụ với một người thì yếu tố giáo dục, yếu tố trải nghiệm, yếu tố niềm tin cũng tác động qua lại với nhau, tùy theo trải nghiệm ấy đi theo chiều âm (triệt tiêu) hay dương (cộng hưởng). Ví dụ một đứa trẻ khi học trong trường với nhận thức từ nhà trường mang ra ngoài đời nó gặp những trải nghiệm xấu, thì lập tức tác động tích cực của giáo dục sẽ giảm, và nó tác động tới cả niềm tin, từ đó tác động tiêu cực tới ý chí hành động.
Trong cả hai công thức NI và NX, chuyện gì sẽ xẩy ra khi lịch sử của một cộng đồng người bị diễn giải theo chiều xấu (như lề trái hay rêu rao), và từ đó ta cũng hiểu là tại sao lịch sử không khách quan, mà mỗi cộng đồng người là một hệ quy chiếu lịch sử. Người Vn không thể hiểu cảm nhận lịch sử VN như người Pháp, người Mỹ về cùng một vấn đề.
Tóm lại yếu tố z rất thú vị. Tôi gọi nó là yếu tố mại bản. Bởi khi nó đạt tới độ maximal (cực đoan), thì nhận thức mỗi con người không còn trùng với nhận thức xã hội nữa. Từ đó nó tạo ra xã hội dân sự mại bản. Điều đang xẩy ra ở Miến điện.
Tóm lại hai cái công thức này rất là thú vị. Nó giúp cho người ta hiểu rằng qua yếu tố nào mà trong một quá trình toàn cầu hóa như hiện nay, nó chỉ ra cho người ta một xã hội mại bản sẽ phát sinh thế nào.
Vào thời chủ nghĩa thực dân cũ, vid dụ khi Pháp xâm lược Vn, thì trong xã hội VN sẽ có một tầng lớp tư sản mại bản.
Hiện nay với quá trình toàn cầu hóa, nó sẽ tạo ra một xã hội mại bản. Một xã hội mại bản không phải là một xã hội của ta. Nó là một xã hội bị tha hóa. Như một con người không biết chính mình là ai, mà nhập vai một cách giả tạo.
Với hai cái công thức này, người ta cũng có thể suy ra rằng, tất cả các quy tắc của một hiến pháp, là sự thể hiện các quy luật ứng sử xã hội của xã hội đó nói chung, và từng cá nhân nói riêng, chỉ là sự ghi lại thành văn tất cả những nhận thức mà xã hội đó cảm nhận được thông qua giáo dục, lịch sử, truyền thống, .. Hai xã hội khác nhau không thể có kiểu cách ứng sử giống nhau, kết quả, người ta không thể cóp pi vào được. Chuyện gì xẩy ra nếu xây dựng những bộ luật hoàn toàn mại bản, không khớp với nhận thức của xã hội ấy.
Pages: 1, 2
Quán nước đầu làng Ven > Thư viện làng Ven > Thư viện bài viết
Bạn đang xem phiên bản gọn nhẹ của diễn đ n dưới dạng text, để xem các b i viết với đầy đủ mầu sắc v hình ảnh hãy nhấn v o đây !
Invision Power Board © 2001-2021 Invision Power Services, Inc.